Sáng 26/5, Nghiêm Văn Bình, Trưởng phòng Quản lý thi và Kiểm định chất lượng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, lưu ý thí sinh 5 điểm trước kỳ thi vào lớp 10. Cụ thể:
– Các vật dụng thí sinh được mang vào phòng thi: bút viết, thước kẻ, bút chì, tẩy, êke, thước vẽ đồ thị, dụng cụ vẽ hình, máy tính cầm tay không có chức năng soạn thảo văn bản, không có thẻ nhớ. Cũng như năm ngoái, thí sinh không còn được mang Atlat Địa lý, Bảng tuần hoàn, bảng tính tan dùng trong môn Hóa học.
Những vật dụng bị cấm gồm bút xóa; giấy than; đồ uống có cồn; vũ khí và chất gây cháy, nổ; tài liệu, thiết bị truyền tin (thu, phát sóng thông tin, ghi âm, ghi hình).
Với những thí sinh cần mang thiết bị hỗ trợ sức khỏe, ông Bình cho biết lực lượng công an sẽ kiểm tra, nếu không phát hiện bất thường sẽ dán tem đảm bảo để các em mang vào phòng thi.
Theo ông Bình, tinh thần là “linh hoạt, không cứng nhắc” với các thiết bị khác, như đồng hồ cơ, trang sức, túi clear trong suốt… Giám thị không cấm thí sinh mang vào phòng thi, song cần nhấn mạnh các em không lợi dụng các đồ vật này để gian lận.
Đặc biệt với máy tính cầm tay, thí sinh được mang vào phòng thi những máy không có thẻ nhớ, không có chức năng thu phát, soạn thảo văn bản; không quy định cụ thể về nhãn hiệu, chủng loại.
– Khi nhận đề, thí sinh phải kiểm tra số trang, mã đề, chất lượng in ấn. Chậm nhất 5 phút từ khi tính giờ làm bài, các em phải báo cáo những bất thường trong đề (thiếu trang, rách, hỏng, nhòe, mờ) cho giám thị. Quá thời gian này, thí sinh tự chịu trách nhiệm với đề mình đã nhận.
– Giám thị không được làm ảnh hưởng đến khả năng làm bài của thí sinh. Ông Bình lấy ví dụ nếu giám thị vô tình ký nhầm vào phần phách và giấy thi của thí sinh, thầy cô không được yêu cầu các em đổi giấy mới, vì sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý, thời gian và kết quả làm bài.
Khi đó, giám thị lập biên bản bất thường, báo cáo trưởng điểm thi và có thể tổ chức chấm chung bài thi đó sau này, đảm bảo quyền lợi của thí sinh.
– Thí sinh đến muộn quá 15 phút từ lúc tính giờ làm bài sẽ không được vào phòng thi, đồng nghĩa không có điểm môn đó và không đủ điều kiện xét tuyển lớp 10 công lập.
Khi thi tự luận, các em được nộp bài sau khi hết 2/3 thời gian, nhưng đồng thời phải nộp lại đề thi, giấy nháp. Riêng môn trắc nghiệm, thí sinh không được nộp bài trước, chỉ được ra khỏi phòng khi hết giờ.
Khi đó, giám thị lập biên bản bất thường, báo cáo trưởng điểm thi, có thể tổ chức chấm chung bài thi đó sau này, đảm bảo quyền lợi của thí sinh.
– Với môn chuyên, điểm mới của năm nay là Lịch sử và Địa lý cho thí sinh làm trực tiếp vào đề, tương tự môn Ngoại ngữ và Khoa học tự nhiên (đã áp dụng năm ngoái). Thời gian làm bài môn chuyên là 150 phút.
Thí sinh thi nhiều môn chuyên có thể dự thi ở những điểm khác nhau, và khác với nơi thi ba môn chung. Vì vậy, ông Bình lưu ý các em và gia đình kiểm tra kỹ phòng thi, điểm thi trên giấy báo, không chủ quan để buổi thi sau đến lại điểm thi hôm trước.
Ông Bình lưu ý các giáo viên thực hiện đúng quy chế và nguyên tắc coi thi, không lơ là, chủ quan, không tự ý xử lý các tình huống.
“Khi có vấn đề cấp bách, cần xin ý kiến ban chỉ đạo thi thì giám thị, trưởng điểm thi phải báo cáo ngay để xử lý kịp thời”, ông Bình nói. “Giám thị tuyệt đối không tự ý, không sáng tạo trong quá trình coi thi”.
Năm nay, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó gần 125.000 em đăng ký thi lớp 10 công lập. Chỉ tiêu lớp 10 khoảng 82.660, tỷ lệ đỗ là 56%.
Học sinh thi ba môn gồm Toán, Văn và Ngoại ngữ trong hai ngày 30-31/5, thí sinh thi môn chuyên sẽ thi thêm ngày 1/6. Điểm thi, điểm chuẩn lớp 10 công lập ở Hà Nội dự kiến được công bố từ ngày 19 đến 22/6.
Những ngày qua, sự việc 147 điểm 10 môn toán tốt nghiệp tại Trường THPT chuyên Tuyên Quang gây xôn xao dư luận.
Theo kết quả điều tra ban đầu, thư ký của điểm thi là Nguyễn Hà Duy - giáo viên Trường THPT chuyên Tuyên Quang - đã được bà Trần Thị Thu Hằng - Trưởng điểm thi - chỉ đạo vào phòng thi và trực tiếp hướng dẫn một số thí sinh làm bài thi môn toán.
Bộ GD-ĐT đã yêu cầu các sở rà soát, kiểm tra, xác minh, đánh giá nguyên nhân đối với các trường hợp có dấu hiệu bất thường (nếu có). Đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường công tác tổ chức thi tốt nghiệp THPT trong thời gian tới.
TS Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) - cho rằng quy chế thi tốt nghiệp THPT hiện nay được đánh giá là rất chặt chẽ, tuy nhiên nếu có sự can thiệp của con người khi thực thi thì vẫn còn tồn tại những lỗ hổng.
Theo ông Vinh, việc quy chế không cấm thư ký điểm thi làm nhiệm vụ tại điểm thi có học sinh lớp 12 của trường mình dự thi sẽ tạo kẽ hở trong gian lận thi cử.
Đặc biệt sự vắng bóng của giảng viên đại học trực tiếp coi thi là một thiếu sót lớn, làm mất đi một lực lượng kiểm soát độc lập đối với công tác tổ chức thi tại địa phương, thiếu yếu tố phá vỡ các mạng lưới quen biết và tâm lý "sân nhà" vốn dễ nảy sinh tiêu cực.
Bên cạnh đó, thiếu quy định về xử lý rủi ro khách quan, quy chế chưa nêu rõ những trường hợp được tổ chức thi lại.
Với mã đề bài trắc nghiệm, ông Vinh cho rằng việc chỉ có 2 mã đề gốc để trộn lên 24 và 48 mã đề là rất ít, dẫn đến việc thí sinh vẫn có thể chép bài, hỗ trợ nhau làm bài nếu việc coi thi lơi lỏng. Do đó việc có một ngân hàng đề thi phong phú là cần thiết. Từ nhiều mã đề gốc sẽ được trộn lại, thêm hàng rào trong gian lận thi cử.
Để đảm bảo chất lượng, công bằng và ngăn chặn gian lận thi cử, ông Vinh kiến nghị cần có quy định cụ thể chuẩn năng lực cụ thể cho từng vị trí làm thi như: người ra đề, người phản biện, giám thị coi thi, giám thị chấm thi, người quản trị thi.
Phải quản trị thi theo hướng quản trị dữ liệu, để chủ động phát hiện những sự gian lận từ kết quả thi. Xây dựng kênh phản ánh trực tiếp về gian lận thi cử trong kỳ thi như: lập đường dây nóng hoặc email gửi thẳng về Bộ GD-ĐT và Bộ Công an để thí sinh có thể tố cáo tiêu cực.
Cuối cùng, ông Vinh nhấn mạnh nếu được lắp camera không kết nối mạng trong phòng thi là tốt, sẽ có thêm sự giám sát khi xảy ra sự cố. Nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là nhân cách và sự tự giác của những người tham gia kỳ thi (giám thị và thí sinh) để đảm bảo tính công bằng thực sự.
TS Lê Viết Khuyến - nguyên Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo - nhấn mạnh sau mỗi vụ việc gian lận thi cử, việc thanh tra, kiểm tra hay bổ sung quy định chỉ giúp hạn chế rủi ro ở từng khâu.
Trong khi đó gốc rễ của vấn đề nằm ở chỗ hệ thống khảo thí của chúng ta vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố con người. Mà ở đâu sự can thiệp của con người còn lớn thì ở đó vẫn luôn tồn tại nguy cơ phát sinh tiêu cực.
Theo ông Khuyến, để giải quyết vấn đề tận gốc, phải thay đổi tư duy tổ chức kỳ thi. Nền tảng của một kỳ thi hiện đại là phải có ngân hàng đề thi chuẩn hóa.
Hiện nay một số kỳ thi đánh giá năng lực ở Việt Nam đã được tổ chức trên máy tính và cho thấy hiệu quả tích cực. Điều đó chứng minh Việt Nam hoàn toàn có thể từng bước mở rộng mô hình này khi điều kiện hạ tầng cho phép.
Ưu điểm lớn nhất của thi trên máy tính không chỉ nằm ở tốc độ chấm thi hay trả kết quả nhanh, mà còn là toàn bộ quy trình - từ lựa chọn đề thi, quản lý dữ liệu đến chấm điểm - đều được chuẩn hóa. Đề thi được lấy ngẫu nhiên từ ngân hàng câu hỏi, bài làm được hệ thống xử lý theo cùng một tiêu chuẩn, kết quả gần như không chịu tác động của yếu tố chủ quan.
"Khi những khâu dễ phát sinh tiêu cực được tự động hóa, người làm công tác tổ chức thi sẽ tập trung vào nhiệm vụ giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và bảo đảm kỳ thi diễn ra đúng quy trình. Đó mới là giá trị lớn nhất của chuyển đổi số trong công tác khảo thí.
Theo tôi, đây là con đường mà giáo dục Việt Nam sớm hay muộn cũng phải đi nếu muốn xây dựng một kỳ thi quốc gia có độ tin cậy cao và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế", ông Khuyến nói.
Thời phổ thông, Linh từng ước mơ làm giáo viên Tiếng Anh vì thích dạy học cho trẻ em, có nền tảng IELTS 7.5. Tuy nhiên, những hoạt động xã hội trong giai đoạn Covid-19 đã thay đổi định hướng của cô gái sinh năm 2004. Linh chuyển sang học Quản lý công vì muốn tham gia vào quá trình nghiên cứu, xây dựng chính sách, nhất là trong lĩnh vực giáo dục để mang lại giá trị cho cộng đồng ở phạm vi lớn hơn.
Bước vào giảng đường, Linh bị rối khi các môn đại cương "khó học hơn tưởng tượng", lượng kiến thức phải học một tiết, một chương quá nhiều. Không còn đi học thêm hay được thầy cô hướng dẫn như hồi cấp ba, Linh loay hoay để hiểu bài.
"Sau vài tuần đầu mất phương hướng, mình hiểu rằng nếu tiếp tục để dồn bài và giữ thói quen gần thi mới ôn, mình sẽ tụt lại phía sau", Linh nhớ lại.
Thông qua các chương trình của khoa, Linh kết nối với anh, chị khóa trên để xin tài liệu và cách ôn thi. Cô bắt đầu dành thời gian đọc giáo trình trước buổi học, chú trọng ghi chép những ý chính của bài hay nội dung giảng viên nhấn mạnh, phần nào chưa hiểu sẽ hỏi bạn bè hoặc thầy cô.
Giữa môi trường năng động của Kinh tế Quốc dân, nơi nhiều sinh viên hướng đến các tập đoàn đa quốc gia, Linh từng trải qua tâm lý FOMO (sợ bỏ lỡ). Cô không khỏi hoài nghi, tự hỏi liệu hướng đi tập trung vào khối công lập của mình có đang tụt hậu, khiến bản thân thiếu đi lợi thế cạnh tranh.
"Sau những ngày đấu tranh tâm lý, mình nhận ra không thể so sánh bản thân với các bạn, vì mỗi người đã có định hướng từ đầu và đi trên những con đường riêng", Linh nói. "Đã chọn rồi thì phải kiên trì mới đạt được".
Cùng đó, Linh thấy vẫn có thể làm việc ở khối tư nhân, tại các bộ phận về hoạch định chính sách vĩ mô, nơi rất cần nhân sự am hiểu về các chính sách công để đưa ra hướng phát triển cho doanh nghiệp.
Thời gian này, Linh tập trung hoàn thành chương trình ngành Luật. Cô đặt mục tiêu tốt nghiệp vào mùa thu để kịp lấy hai bằng cử nhân trong bốn năm.
Nhìn lại, Linh thấy mình trưởng thành hơn từ những lần loay hoay tự tìm phương pháp và kiên định với lựa chọn của bản thân. Thay vì hoang mang so sánh với số đông, nữ sinh tin rằng việc kiên trì trau dồi và đi trọn vẹn con đường mình chọn mới là chìa khóa để tiến bộ mỗi ngày.
Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.