Khi Bác Hồ xuống tàu biển mang tên Đô đốc Latouche -Tréville lên đường sang Pháp, Bác có “chức vụ” là phụ bếp. Phụ bếp trên tàu biển là một nghề rất nặng nhọc. Bác Hồ chấp nhận làm nghề này để được sang Pháp.
Khi viết và xuất bản cuốn sách Hồ Chí Minh: Những năm chưa biết (Ho Chi Minh: The Missing Years 1919 – 1941), tiến sĩ Sophie Quinn-Judge, Đại học LSE, London, đã trả lời phỏng vấn một đài phát thanh phương Tây, trong đó bà nhấn mạnh:
“Dựa trên tài liệu của Pháp nói về các anh chị trong gia đình ông Hồ và những lần họ giúp đỡ cho Phan Bội Châu, tôi nghĩ gia đình họ tham gia vào các hoạt động yêu nước chống thực dân từ sớm.
Tôi tin là ông Hồ Chí Minh cũng sẽ tham gia vào các hoạt động chống thực dân theo cách này hay cách khác. Nhưng bởi vì ông không thể ở lại Trường Quốc học, nên ông ra nước ngoài để tìm biện pháp hoặc học thêm để nghĩ cách chống người Pháp”.
Viết như thế là trung thực và công bằng. Nhưng cần nói thêm: Bác Hồ sang Pháp không hề nhẹ nhàng, Bác làm phụ bếp như cách một người làm tạp dịch, việc nặng và lương thấp.
Tôi chợt nhớ đến câu thơ của nhà thơ lớn Tản Đà:
“Đôi vai gánh nặng, con đường thì xa
Có chăng ta biết mình ta”
Tình cảnh Bác Hồ lúc ra đi tìm đường cứu nước là như vậy. Có thể khi đã sang Pháp, Bác mới tìm gặp được các Cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường… và được các cụ giúp đỡ, nhưng khi lênh đênh trên biển cả, thì đúng là “Có chăng ta biết mình ta”.
Cuộc ra đi tìm đường cứu nước của một con người đơn độc như vậy là một cuộc ra đi vĩ đại, vì chưa ai, kể cả người ra đi, lường hết những gì mình sẽ gặp, sẽ vượt qua ở xứ lạ quê người.
Bác Hồ sang Pháp không phải đi theo đường du học, dù Bác có đề nghị để được nước Pháp tiếp nhận như một du học sinh. Nước Pháp thực dân đã thẳng thừng từ chối.
Trụ lại trên đất Pháp đã là khó khăn, nhưng để có thể thông thạo Pháp ngữ, có thể giao tiếp, vận động, tuyên truyền, và viết báo bằng Pháp ngữ, thì quả thật muôn vàn gian khổ.
Bác Hồ đã vượt qua những thử thách ban đầu ấy, dĩ nhiên, nhờ sự giúp đỡ của những người yêu nước đàn chú đàn anh. Nhưng nỗ lực tự thân của Bác là chính.
Người ta đã tính, ngay trên đất Pháp và trên đất Mỹ, Bác Hồ đã làm rất nhiều nghề, vừa để kiếm sống, vừa để mở rộng quan hệ, và qua đó vận động để những người chánh trực trên đất Pháp và Mỹ biết đến tình cảnh nô lệ thảm khốc của dân tộc Việt Nam. Làm nhiều nghề, nhưng nghề nào cũng tinh, đó mới là sự lạ.
Năm 2003, khi có dịp đến Paris (Pháp), tôi vô tình được ở một nơi rất gần với một ngôi nhà cũ, nơi đó Bác Hồ đã từng sống một thời gian trong cương vị một người… thợ chụp ảnh.
Tuy nơi ấy không còn những chỉ dấu hay hiện vật lưu giữ về nơi Bác Hồ đã từng sống, nhưng những người bạn Việt kiều ở Paris thì biết rất rõ ngôi nhà này.
Ngôi nhà tọa lạc ở một phố nhỏ mà tôi không nhớ tên, rất gần phố Monge (quận 5, Paris), nơi hồi ấy có quán Foyer Viet Nam, một quán ăn thuần Việt do một người bạn tôi làm chủ quán.
Nơi ấy còn được gọi là Khu La tinh – một “làng đại học”, xúm xít những trường đại học vào hàng tên tuổi nhất nước Pháp. Như thế, riêng ở Paris, Bác Hồ đã ở nhiều nơi, chứ không riêng ở nhà số 9 ngõ Compoint, quận 17.
Hồi ấy, từ năm 1911, Bác Hồ qua Paris để làm một người lao động bình thường. Nói như thế để thấy, con đường của nhiều vĩ nhân trên thế giới, trong đó có Bác Hồ, khi thực thi lý tưởng của mình, là con đường lao động.
Làm thợ, làm công, làm thuê, học nghề, không từ nan bất cứ công việc nặng nhọc nào, đó là con đường cứu nước của Bác Hồ.
Chính lao động và sự cần cù học nghề, từ nghề thợ ảnh tới nghề làm bánh, từ Pháp qua Mỹ, mà Bác Hồ đã vừa làm vừa học, vừa học vừa viết báo, vừa viết báo vừa vận động những người nhiệt huyết từ những dân tộc khác nhau mà Bác quen biết, để họ ủng hộ Việt Nam cùng tìm đường thoát ách đô hộ của thực dân và giành lại độc lập.
Lý tưởng lớn được nung nấu khi làm việc nhỏ, những việc lao động rất bình thường, đó là Bác Hồ của chúng ta. Không có điều kiện học tập chính quy, Bác Hồ học ngay trong trường đời, học cùng những người bạn lao động, và học khi đang lao động kiếm sống.
Có lần, một đoàn cán bộ từ Việt Nam tới thăm khách sạn The Omni Parker House ở Boston – Mỹ, thăm chiếc bàn làm bánh mà Bác Hồ từng lao động, vị đại diện khách sạn đã dẫn lại lời nữ nhà văn, nhà báo của tờ Boston Globe, bà Susan Wilson viết: “Thật thú vị để lưu ý rằng, một nhà cách mạng trứ danh đã từng dành thời gian làm việc như là một người thợ nướng bánh tại tiệm bánh ngọt Omni Parker House từ năm 1911 đến năm 1913. Vị đầu bếp đặc biệt ấy đã đem đến niềm vinh dự cho nơi này…”.
“Vị đầu bếp đặc biệt” ấy chưa một lần nhận mình là “hồng phúc của dân tộc”, dù chính Người là hồng phúc của dân tộc. Bác Hồ là người khiêm nhường nhưng rất kiêu hãnh.
Những người trở thành thiên tài qua lao động đều như vậy. Họ biết giá trị của mình, nhưng bao giờ cũng biết những giá trị cao cả của cộng đồng mình, của nhân dân mình, của đất nước mình.
Họ “ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc” (thơ Chế Lan Viên), dù Bác Hồ cũng chẳng mấy khi ăn được những miếng ngon. Và đó cũng không phải mục đích của đời Bác. Ham muốn tột bậc của Bác là toàn dân Việt Nam “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Có thể căn bản bây giờ dân mình ai cũng có cơm ăn áo mặc dù còn ở mức thấp, nhưng nói “ai cũng được học hành” thì quả thực, nỗi lo đau đáu của Bác Hồ vẫn chưa được thực hiện đúng như lòng Bác hằng mong. Trong suốt quá trình hoạt động ở nước ngoài, chưa bao giờ Bác Hồ thôi tự học. Không học trường, thì học bạn, học đồng chí, học nhân dân, và cuối cùng, tự học.
Những nhà báo quốc tế có cơ hội phỏng vấn Bác Hồ đều kinh ngạc về khả năng chuyện trò vừa thân mật vừa sâu sắc bằng chính ngôn ngữ của họ. Với các vĩ nhân, tinh thần tự học luôn được đặt lên hàng đầu. Chỉ tự học mới vừa học vừa suy nghĩ, và chỉ vừa học vừa suy nghĩ mới có thể sáng tạo.
Dĩ nhiên, với người lao động như Bác Hồ, thì “trường đời” luôn là những trường đại học lớn. Sự từng trải, chiêm nghiệm, nhạy cảm với thế giới bên ngoài, lặng lẽ đi sâu vào thế giới bên trong của mình, để từ đó hiểu nhân dân, hiểu đồng chí, lấy vị tha thay vị kỷ, biết sống vì mọi người, thấy được niềm vui và hạnh phúc khi phục vụ nhân dân mình.
Bấy giờ, “gánh nặng” chính là tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, còn “đường xa” phải là con đường chiến đấu để thực hiện bằng được lý tưởng. “Chí lớn” ở Bác Hồ thể hiện qua chính cuộc đời Bác, nhu nhã mà mãnh liệt, chịu đựng và bùng cháy, chia sẻ và nhận phần ít nhất về mình.
Khi Bác qua đời, nhà thơ lớn của Cu Ba là Félix Pita Rodríguez đã viết bài thơ nổi tiếng Hồ Chí Minh tên Người là cả một niềm thơ, trong đó có đoạn:
“Nhà thơ Hồ Chí Minh,
người nông dân Việt Nam trong sáng: Hồ Chí Minh,
Người đã hy sinh từ bỏ mọi tên,
để chỉ còn là một giọng nói, một hơi thở, một cái nhìn
để chỉ còn là… có gì đâu khác…
là đất nước, là máu xương Tổ quốc”
Còn nhà thơ Việt Phương của chúng ta, trong bài thơ nổi tiếng Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương đã viết:
“Trời đổ mưa, đi viếng Bác, đồng bào chờ, bị ướt
Bác thương đồng bào, con biết Bác không vui”
Tới lúc qua đời, vẫn thương đồng bào, đó là Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta. Dù là lãnh tụ, Bác vẫn mang tâm hồn và phong cách sống của một người nông dân, điều mà nhà thơ Cu Ba nhạy cảm đã nhận ra. Và nhà thơ Việt Nam đã thấu hiểu.
Từ hai bán cầu, hai nhà thơ chưa hề gặp nhau đã viết về Bác Hồ như vậy.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ký ban hành nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết 730/2004 về phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước, bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành tòa án, ngành kiểm sát.
Theo đó, nghị quyết sửa đổi, bổ sung bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.
Cụ thể, đối với ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hệ số là 1,1.
Nghị quyết cũng bổ sung phụ cấp đối với ủy viên của Ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Theo đó, chức danh này HĐND TP.HCM, Hà Nội có mức phụ cấp với hệ số là 0,6, còn các tỉnh, thành khác có mức hệ số là 0,5.
Nghị quyết cũng bổ sung mức phụ cấp với các chức danh của HĐND xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố (gọi chung là cấp xã).
Trong đó, với chủ tịch HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM có hệ số 0,7, còn ở các tỉnh, thành khác hệ số là 0,6.
Với phó chủ tịch HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM có hệ số 0,6, còn ở các tỉnh, thành khác hệ số là 0,5.
Với trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM có hệ số 0,35; còn ở các tỉnh, thành khác hệ số là 0,25.
Với các phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM là 0,2; còn ở các tỉnh khác hệ số là 0,1.
Hệ số với các chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã được áp dụng từ 1-1-2026.
Nghị quyết nêu rõ cán bộ, công chức, viên chức khi chuyển công tác về giữ chức danh ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà hệ số phụ cấp chức vụ cao hơn hệ số phụ cấp chức vụ quy định tại nghị quyết này sẽ tiếp tục thực hiện bảo lưu theo quy định.
Sau khi hết thời gian bảo lưu, thực hiện theo quy định tại nghị quyết này.
Tương tự vậy, với chức danh ủy viên của Ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách, lãnh đạo HĐND cấp xã đang bảo lưu hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo do tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy hoặc sắp xếp đơn vị hành chính mà hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo được bảo lưu cao hơn so với hệ số phụ cấp chức vụ quy định tại nghị quyết này, được tiếp tục thực hiện bảo lưu theo quy định.
Sau khi hết thời hạn bảo lưu thì thực hiện theo quy định tại nghị quyết.
Riêng với chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã trong thời gian từ 1-7-2025 đến trước 1-1-2026 chưa được hưởng hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo hoặc được bảo lưu hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo do tác động của sắp xếp tổ chức bộ máy hoặc sắp xếp đơn vị hành chính nhưng thấp hơn hệ số phụ cấp chức vụ quy định tại nghị quyết này, được truy lĩnh, truy nộp bảo hiểm xã hội theo hệ số phụ cấp tại nghị quyết từ ngày giữ chức vụ lãnh đạo.
Chiều 23.4, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân gửi đến kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Theo báo cáo, cử tri và nhân dân đồng thuận với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vui mừng, phấn khởi trước thành công rất tốt đẹp của Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đồng thời đánh giá cao thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Cử tri và nhân dân cũng quan tâm, theo dõi, đánh giá cao các hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, nhất là hoạt động của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, của Thủ tướng Chính phủ, của Chủ tịch Quốc hội…
Cử tri và nhân dân rất vui mừng, phấn khởi trước các thành tựu về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh…, song cũng băn khoăn về một số vấn đề còn tồn tại.
Trong đó, cử tri và nhân dân băn khoăn, lo lắng trước tình trạng lừa đảo trên không gian mạng; các vụ cháy, nổ, tai nạn giao thông nghiêm trọng; vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng, nhất là thực phẩm bẩn; ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí ở một số thành phố lớn.
Cử tri và nhân dân còn băn khoăn về thực hiện thủ tục hành chính tại một số địa phương chưa thực sự liên thông, dẫn đến chậm giải quyết; chế độ, chính sách cho cán bộ ở cơ sở chưa thực sự tương xứng.
Cùng đó là các dự án tồn đọng kéo dài, chậm tiến độ; một số công trình bỏ hoang, xuống cấp gây lãng phí; một số trụ sở dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính chưa được chuyển đổi công năng kịp thời…
Trên cơ sở ý kiến, phản ánh, kiến nghị của cử tri và nhân dân, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng chỉ đạo có giải pháp kỹ thuật phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm lừa đảo trên mạng; tăng cường công tác tuyên truyền, cảnh báo để người dân nâng cao cảnh giác không mắc bẫy với loại tội phạm này.
Chính phủ, các cơ quan chức năng cần có giải pháp đồng bộ, chỉ đạo quyết liệt để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước và môi trường không khí ở một số thành phố lớn.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Cùng với đó, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời tháo gỡ khó khăn trong thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, đảm bảo chính quyền hoạt động hiệu quả, gần dân, phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp.
Xem xét chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở cơ sở; người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng của chính quyền địa phương 2 cấp.
Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo quyết liệt khắc phục tình trạng các dự án tồn đọng, công trình bỏ hoang, xuống cấp, dự án chậm tiến độ để khơi thông, giải phóng nguồn lực; chỉ đạo sử dụng hiệu quả trụ sở làm việc dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính, tránh lãng phí.
Sáng 18/5, UBND xã Núi Cấm (tỉnh An Giang) tổ chức Hội thảo góp ý đồ án quy hoạch Núi Cấm đến năm 2050. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý, khai thác tiềm năng và định hướng phát triển bền vững cho ngọn núi cao nhất miền Tây.
Đề xuất quy hoạch núi Cấm giống núi Nga Mi, Trung Quốc
Trình bày tại hội thảo, ông Ngô Minh Công, Giám đốc Trung tâm vùng - Viện Quy hoạch xây dựng miền Nam (đơn vị tư vấn), nhấn mạnh tầm nhìn quy hoạch Núi Cấm sẽ không đi theo hướng của Núi Bà Đen (Tây Ninh) hay Bà Nà Hills (Đà Nẵng) - nơi cư dân phải chuyển xuống núi để nhường chỗ hoàn toàn cho hạ tầng du lịch. Thay vào đó, đơn vị tư vấn đề xuất mô hình tương đồng với núi Nga Mi (ngọn núi nổi tiếng được công nhận là Di sản Thế giới ở Trung Quốc).
Theo ông Công, núi Nga Mi có lịch sử và địa thế khá tương đồng với Núi Cấm, nơi đây hiện thu hút hơn 10 triệu khách mỗi năm nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tín ngưỡng, trải nghiệm văn hóa và đặc biệt là sự hiện diện của cộng đồng cư dân bản địa trên núi.
“Đối với núi Cấm, chúng tôi muốn sửa giống núi Nga Mi, cho dân cư phát triển trên núi và cũng gắn kết với du lịch văn hoá, tâm linh, trải nghiệm, chăm sóc sức khoẻ. Chúng tôi đã đưa ra các tiêu chí đánh giá lịch sử hình thành núi Nga Mi cũng khá tương đồng núi Cấm”, ông Công phát biểu.
Bên cạnh núi Nga Mi, ông Công cũng dẫn chứng thêm mô hình núi Koya (Nhật Bản) cũng thu hút khoảng 1 triệu khách mỗi năm nhờ sự kết hợp hài hòa giữa không gian hành hương và đời sống người dân bản địa.
Báo cáo của đơn vị tư vấn quy hoạch chỉ ra kịch bản phát triển trên ngọn núi cao nhất miền Tây. Theo đó, kịch bản này được xây dựng hướng tới mô hình hệ sinh thái cộng sinh với 4 yếu tố cốt lõi.
Thứ nhất, kết hợp trồng trọt với du lịch. Các vườn sầu riêng, su su, bơ của người dân sẽ mở cửa cho khách tham quan. Doanh nghiệp sẽ ký hợp đồng thu mua nông sản của bà con với giá cả công bằng.
Về nhà ở và lưu trú, đơn vị tư vấn đề xuất không tập trung xây khách sạn lớn mà khuyến khích người dân sửa sang nhà cửa thành homestay theo kiểu mẫu địa phương. Quy hoạch giữ nguyên các con suối, đường mòn tự nhiên để phục vụ khách đi bộ khám phá.
Về môi trường, đại diện đơn vị tư vấn kiến nghị người dân tham gia quản lý rác thải thông qua hình thức thu gom để đổi lấy nhu yếu phẩm hoặc lợi ích khác. Bà con được giao nhiệm vụ giữ rừng và được phép thu hoạch dược liệu dưới tán rừng để tăng thu nhập.
Ngoài ra, ông góp ý địa phương mở các lớp đào tạo người dân địa phương làm người hướng dẫn khách tham quan. Chính cư dân sẽ kể về các truyền thuyết, lịch sử của Núi Cấm và duy trì các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội vốn có tại đây.
Núi Cấm chưa thu hút được người trẻ
Hội thảo cũng thẳng thắn nhìn nhận, khu du lịch Núi Cấm hiện nay đang thiếu sức hút đối với giới trẻ do định vị du lịch tâm linh dành cho người lớn tuổi.
Từ thực tế này, ông Ngô Minh Công đề xuất cần xây dựng thêm các khu mạo hiểm, thể thao núi rừng để đổi mới hình ảnh điểm đến.
"Đa số những người lớn tuổi lên núi Cấm không thấy giới trẻ. Chính từ điều đó chúng tôi cũng thảo luận đề xuất xây dựng thêm các khu trò chơi mạo hiểm trên núi", ông Công nói.
Ngoài ra, để thực sự chinh phục người trẻ, theo ông cũng cần bổ sung thêm các yếu tố còn thiếu như không gian check-in, trò chơi mạo hiểm, điểm dừng chân có thiết kế tối giản, tinh tế, hòa hợp thiên nhiên thay vì các công trình nặng nề về hình thức.
Đối với đề xuất xây dựng các công trình trò chơi mạo hiểm, ông Lý Chấn An - Giám đốc chi nhánh Vietravel Long Xuyên (An Giang) cũng đồng thời đề xuất nên quy hoạch phân khu như khu tâm linh, khu trải nghiệp, khu trò chơi mạo hiểm không nên xây dựng các khu vui chơi xen kẽ.
Ngoài ra, theo vị đại diện này, đồ án quy hoạch chung Phú Quốc cần có khu vực xử lý nước thải cục bộ tại các cụm dân cư và khu du lịch lớn trước khi xả ra môi trường; Bên cạnh đó, ông An cho rằng, địa phương cũng cần nghiên cứu, thiết kế hệ thống thu gom rác thải chuyên dụng bằng xe điện nhỏ phù hợp với địa hình dốc;...
Phát biểu tại hội thảo, Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh An Giang Nguyễn Ngọc Vệ khẳng định, những đóng góp từ phía chuyên gia và các đơn vị làm du lịch là cơ sở quan trọng để hoàn thiện quy hoạch chung của Núi Cấm nói riêng và toàn tỉnh nói chung.
Theo đó, ông Vệ cho biết tỉnh đang xây dựng một lộ trình phát triển bền vững với các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù, khác biệt nhằm tối ưu hóa thế mạnh của địa phương và đảm bảo đủ năng lực đáp ứng các nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan ngày càng cao của du khách.
Xã Núi Cấm nằm ở vị trí trọng yếu của vùng Bảy Núi (Thất Sơn), có diện tích hơn 8.418ha, cao hơn 710m so với mực nước biển, mệnh danh là "nóc nhà miền Tây" và được xác định là trung tâm du lịch tâm linh và sinh thái cốt lõi của tỉnh An Giang.
Hiện nay, UBND tỉnh An Giang cho điều chỉnh lại quy hoạch xây dựng khu du lịch Núi Cấm với tổng diện tích 3.100ha. Trong đó, quy hoạch khu du lịch Núi Cấm với hơn 1.050ha với 3 khu vực cụ thể như: Khu du lịch Núi Cấm (phần trên núi) có diện tích hơn 836ha; Khu du lịch Hồ Tà Lọt (nằm ở chân núi) có diện tích hơn 120ha và Khu cáp treo và Lâm viên Núi Cấm (nằm ở chân núi) rộng gần 94ha.