Ngày 12/6, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Đà Nẵng cho biết đã tạm giữ Đỗ Văn Tĩnh (27 tuổi, trú phường Quảng Phú) về hành vi Chống người thi hành công vụ và Cố ý gây thương tích.
Theo điều tra, do mâu thuẫn gia đình, Tĩnh mang kiếm và xăng đến nhà cha ruột là ông Đỗ Văn Mốc. Tại đây, anh ta châm lửa đốt một chai chứa xăng ném vào hiên nhà rồi dùng kiếm chém cha gây thương tích ở cẳng tay trái. Người dân cùng lực lượng an ninh cơ sở đã kịp thời ngăn cản.
Sau đó, Tĩnh rời đi, chuẩn bị thêm hai chai nhựa chứa xăng có gắn giẻ làm ngòi cháy rồi quay lại. Lúc này, Tổ công tác Công an phường Quảng Phú đang ghi nhận vụ việc và lập biên bản tại hiện trường.
Anh ta châm lửa, liên tiếp ném hai chai xăng đang cháy vào tổ công tác và những người xung quanh.
Vụ tấn công khiến một cán bộ công an bị bỏng vùng mặt, tổn thương giác mạc phải nhập viện cấp cứu. Người cha bị bỏng ở vai và chân; nhiều tài sản cùng hồ sơ công tác của lực lượng chức năng cũng bị cháy hư hỏng.
Tĩnh bị khống chế ngay tại chỗ, công an thu giữ hai chai xăng, một thanh kiếm cùng các vật chứng liên quan.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ có đến 70 kịch bản để tiếp cận lôi kéo người tham gia

Sau khi bị Cơ quan an ninh điều tra Công an Quảng Trị phát hiện và triệu tập làm việc, những người cầm đầu trong nhánh Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ tại tỉnh Quảng Trị đã khai nhận những cách lôi kéo dụ dỗ người tham gia cũng như cơ chế vận hành của tổ chức này tại địa phương.
Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ tại Quảng Trị sử dụng các kịch bản do "tổng hội" ở nước ngoài xây dựng, phát hành.
Những lời khai của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ tại Quảng Trị do Nguyễn Duy Cường (35 tuổi, quê Bắc Ninh) cầm đầu đã mở ra nhiều "ngõ ngách" về phương thức hoạt động của tổ chức này.
Theo đó, Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ vận hành theo mô hình chặt chẽ, có sự chỉ đạo từ "tổng hội" ở nước ngoài. Lực lượng "truyền giáo" chủ yếu là người trẻ, có khả năng giao tiếp tốt, được huấn luyện kỹ năng thuyết giảng và tổ chức thành các cấp, như người dẫn dắt, nhóm trưởng, khu vực trưởng.
Đáng chú ý, hội sử dụng đến 70 kịch bản khác nhau để tiếp cận lôi kéo dụ dỗ người tham gia. Tùy tâm lý từng người, từng hoàn cảnh cụ thể, chúng sẽ lựa chọn kịch bản phù hợp.
Nội dung tuyên truyền chủ yếu là các "bài giảng" lấy vỏ bọc là đạo Tin Lành để thao túng tâm lý, đánh vào những phụ nữ nhẹ dạ hoặc người đang gặp khó khăn, bệnh tật và có vấn đề về tinh thần, trắc trở trong cuộc sống.
Quy trình lôi kéo được triển khai theo từng bước và có kế hoạch "chăm sóc" cụ thể: làm quen, tạo thiện cảm, củng cố niềm tin, thu thập thông tin cá nhân, hoàn cảnh xã hội, gia đình, từ đó sử dụng các dữ liệu này để từng bước kiểm soát tâm lý, chi phối hoạt động của người khác.
Để tiếp cận nạn nhân, những người trong hội thường thông qua người quen, bạn bè để tạo niềm tin ban đầu, sau đó dẫn dắt từng bước. Người lạ cũng có thể bị tiếp cận qua mạng xã hội.
Theo Công an tỉnh Quảng Trị, hoạt động của "Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ" tại Việt Nam hiện chưa được cơ quan chức năng cấp phép, và cũng không có địa điểm sinh hoạt hợp pháp. Dù lấy danh nghĩa "Hiệp hội truyền giáo Tin Lành thế giới", nhưng tổ chức này không được các hệ phái Tin Lành chính thống thừa nhận.
Chính sự thiếu minh bạch về mặt pháp lý đã khiến không ít người nhầm tưởng đây là một tổ chức tôn giáo hợp pháp, từ đó dễ bị lôi kéo tham gia.
Cũng theo kết quả điều tra, khi cần thiết, những người trong Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ sẽ tìm cách làm suy yếu mối quan hệ của người tham gia với gia đình, đặc biệt khi có sự ngăn cản, từ đó gia tăng sự phụ thuộc vào tổ chức.
Giai đoạn đầu, hội chỉ yêu cầu dâng lễ "tượng trưng" tùy tâm. Tuy nhiên khi lún sâu vào tổ chức, hội này sẽ tạo áp lực tâm lý, thậm chí đe dọa tinh thần và yêu cầu đóng góp tài chính. Người tham gia bị yêu cầu "dâng" một phần mười thu nhập hằng tháng vào các ngày sinh hoạt cố định.
Theo cơ quan chức năng, "Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ" là tổ chức tôn giáo ngoại sinh, không được công nhận, có dấu hiệu xuyên tạc giáo lý, tuyên truyền nội dung cực đoan, phi khoa học, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và các giá trị truyền thống.
Một số nghi thức của nhóm có dấu hiệu biến tướng, mang yếu tố mê tín dị đoan, thậm chí định hướng các "tín đồ" từ bỏ phong tục thờ cúng tổ tiên, gây rạn nứt các mối quan hệ gia đình.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Pháp Luật
Tăng mức phạt vi phạm hành chính: Cần bảo đảm hài hòa giữa răn đe và khả thi

Đề xuất sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng nâng mức tiền phạt trong nhiều lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng việc tăng chế tài là cần thiết để nâng cao hiệu quả răn đe, siết chặt kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở việc "phạt nặng đến đâu" mà ở chỗ mức phạt có hợp lý, khả thi và được xã hội chấp nhận hay không.
Mới đây, khi chủ trì cuộc họp về hồ sơ chính sách Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cũng nhấn mạnh việc đề xuất mức xử phạt phải được rà soát kỹ lưỡng, có cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn vững chắc. Với từng lĩnh vực cụ thể, cần đánh giá đầy đủ tác động, khả năng thực thi, tính răn đe và mức độ đồng thuận xã hội.
Đồng tình với phát biểu chỉ đạo của Phó thủ tướng, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) cho rằng đây không chỉ là một định hướng chính sách mà cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định chuyên ngành.
Theo bà, bản chất của xử phạt hành chính là điều chỉnh hành vi xã hội nhằm bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích cộng đồng. Vì vậy, một mức phạt chỉ phát huy hiệu quả khi người dân cảm nhận được sự công bằng và tính chính đáng của nó.
"Nếu mức phạt vượt quá khả năng chịu đựng thực tế của người vi phạm thì hiệu ứng tạo ra không phải là răn đe mà là né tránh, đối phó hoặc phát sinh tiêu cực. Ngược lại, mức phạt quá thấp sẽ khiến người vi phạm coi đó như một chi phí phải trả và sẵn sàng tiếp tục vi phạm", bà Tú Anh nhận định.
Theo nữ đại biểu, đồng thuận xã hội là điều kiện quan trọng để pháp luật được thực thi hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy những quy định xử phạt thiếu sự đồng thuận thường có tỷ lệ tuân thủ thấp và chi phí thực thi cao, bất kể mức phạt được quy định nặng đến đâu.
Thực tế cũng cho thấy không ít trường hợp mức phạt trên giấy rất cao nhưng hiệu quả răn đe hạn chế. Cơ quan chức năng ngại áp dụng vì cho rằng chế tài quá nặng so với tính chất vi phạm, trong khi người vi phạm tìm mọi cách đối phó hoặc né tránh. Điều này cho thấy mức phạt cao không đồng nghĩa với tính nghiêm minh của pháp luật.
Theo ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh, để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả, chính sách xử phạt hành chính cần đáp ứng ít nhất bốn tiêu chí cơ bản.
Đầu tiên, mức phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hại của hành vi vi phạm, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của đối tượng bị điều chỉnh. Một mức phạt có thể hợp lý với doanh nghiệp lớn nhưng lại vượt quá khả năng của hộ kinh doanh nhỏ hoặc người dân ở khu vực nông thôn. Vì vậy, cần nghiên cứu các cơ chế điều chỉnh phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ hai, việc xây dựng mức phạt phải dựa trên đánh giá tác động thực chất. Nhiều đề xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý, trong khi còn thiếu dữ liệu về khả năng tuân thủ, năng lực tài chính của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả thực tế của chế tài. Việc đánh giá tác động cần được thực hiện nghiêm túc trước khi ban hành quy định.
Tiếp theo, xử phạt không chỉ nhằm trừng phạt mà còn phải hướng tới giáo dục và phòng ngừa. Đối với những trường hợp vi phạm lần đầu hoặc do thiếu hiểu biết pháp luật, việc kết hợp chế tài với các biện pháp tuyên truyền, giáo dục có thể mang lại hiệu quả thay đổi hành vi bền vững hơn so với phạt tiền đơn thuần.
Cuối cùng nữ đại biểu cho rằng, hệ thống chế tài phải bảo đảm tính thống nhất và công bằng giữa các lĩnh vực. Những hành vi có mức độ nguy hại tương đương cần được xử lý tương xứng. Nếu mức phạt giữa các lĩnh vực chênh lệch quá lớn, người dân dễ cảm nhận sự thiếu công bằng, từ đó ảnh hưởng tới niềm tin vào pháp luật.
Ở góc độ chuyên môn, Luật gia Võ Văn Tuyển (Ban Nghiên cứu - Xây dựng và Phổ biến pháp luật, Hội Luật gia Việt Nam), cho rằng mức tiền phạt hiện hành đã bộc lộ hạn chế trong một số lĩnh vực như đất đai, môi trường, thương mại điện tử, chứng khoán, quảng cáo sai sự thật, hàng giả và hàng nhái… Trong nhiều trường hợp, lợi ích mà tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm lớn hơn rất nhiều so với mức xử phạt phải chịu, khiến chế tài hành chính mất đi tác dụng răn đe.
Tuy nhiên, theo ông Tuyển, mức phạt chưa phải nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính hiện nay. Nhiều khó khăn nằm ở khâu phát hiện và chứng minh hành vi vi phạm, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hoặc những vướng mắc trong quá trình thi hành quyết định xử phạt.
"Nếu chỉ tăng mức tiền phạt mà không đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi, hoàn thiện cơ chế cưỡng chế và khắc phục sự chồng chéo của hệ thống pháp luật thì chưa chắc hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được cải thiện", ông Tuyển nhận định.
Theo ông, cùng với phạt tiền, các hình thức xử phạt bổ sung như tước giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề cần được cân nhắc thận trọng về thời hạn, trình tự và tác động thực tế. Bởi, một quyết định tước giấy phép kéo dài nhiều tháng có thể khiến doanh nghiệp đình trệ hoạt động, ảnh hưởng tới người lao động và các đối tác liên quan.
Vì vậy, chế tài phải bảo đảm tính tương xứng, tránh tạo ra những hệ quả xã hội vượt quá mục tiêu quản lý, điều này cũng phù hợp với tinh thân Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Cùng với đó, Tuyển cũng cho rằng cần phân hóa rõ giữa cá nhân và tổ chức khi thiết kế chế tài xử phạt. Đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức có tiềm lực tài chính lớn, cố tình vi phạm để thu lợi bất hợp pháp, có thể nghiên cứu áp dụng mức phạt cao hơn. Ngược lại, nếu tăng đồng loạt đối với cá nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực gắn với đời sống dân sinh như giao thông, cư trú, kinh doanh nhỏ lẻ, có thể tạo áp lực lớn cho người dân.
Theo vị chuyên gia, thay vì chỉ tập trung nâng tiền phạt, cần chú trọng hơn tới các biện pháp tước bỏ lợi ích thu được từ hành vi vi phạm như buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, thu hồi sản phẩm vi phạm, tịch thu tang vật hoặc tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn phù hợp. Trong nhiều trường hợp, đây là giải pháp hiệu quả hơn so với việc chỉ tăng mức xử phạt bằng tiền.
Các ý kiến cho rằng quá trình sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính cần được thảo luận công khai, đa chiều và tiếp thu đầy đủ ý kiến phản biện xã hội. Bởi với một đạo luật tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng tính nghiêm khắc của pháp luật mà còn phải bảo đảm tính hợp lý, khả thi và sự đồng thuận trong quá trình thực thi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Pháp Luật
Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên, giám đốc Công ty đá La Va lãnh án

Sáng 7-5, Tòa phúc thẩm TAND tối cao TP.HCM mở phiên xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Châu Sủi Pố - Giám đốc Công ty TNHH đá La Va và bị cáo Lý Hoàng Quân, nhân viên lao động tại Công ty TNHH đá La Va, về tội vi phạm quy định về khai thác tài nguyên; bị cáo Trần Hồ Hoàng Dũng - nguyên cán bộ địa chính xã Ngọc Định, huyện Định Quán (nay là xã Định Quán, TP Đồng Nai) - về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Phiên xét xử được mở do các bị cáo có kháng cáo, mong được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Đầu năm 2023, Công an Đồng Nai đã bắt quả tang ba nhân viên Công ty TNHH đá La Va do ông Châu Sủi Pố làm giám đốc đang khai thác đá trái phép tại ấp Hòa Thành, xã Ngọc Định, trong đó có Lý Hoàng Quân.
Công an xác định ông Châu Sủi Pố đã chỉ đạo khai thác đá trái phép khối lượng rất lớn, có giá trị trên 4,1 tỉ đồng. Sau đó, ông Pố tổ chức cưa xẻ đá, chế biến thành đá ốp lát bán lại cho nhiều cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và nhiều tỉnh, thành.
Đến tháng 9-2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh Đồng Nai bắt ông Nguyễn Tiến Dũng - nguyên Chủ tịch UBND xã Ngọc Định, Phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Định Quán; bà Phan Thị Thu Hà - Phó chủ tịch UBND xã Ngọc Định và ông Trần Hồ Hoàng Dũng - nguyên cán bộ địa chính xã Ngọc Định, huyện Định Quán. Cả ba cán bộ này đã buông lỏng quản lý, để một chủ doanh nghiệp khai thác đá trái phép trong thời gian dài.
Về các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo Châu Sủi Pố từng nhận bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai vì đã có những đóng góp thiện nguyện trong đại dịch COVID-19, khắc phục hậu quả 500 triệu đồng sau phiên sơ thẩm và 50 triệu đồng trước khi diễn ra phiên phúc thẩm.
Với bị cáo Lý Hoàng Quân, tòa nhận thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là người dân tộc thiểu số, làm công ăn lương cho Pố, có 4 con nhỏ và tự động nộp khắc phục hậu quả 5 triệu đồng dù không có yêu cầu.
Bị cáo Trần Hồ Hoàng Dũng cũng chủ động nộp 30 triệu đồng, từng nhận được bằng khen, giấy khen của UBND xã vì có nhiều thành tích đóng góp trong quá trình công tác. Khi phát hiện có người khai thác trái phép đã lập biên bản và bàn giao các tang chứng, vật chứng cho công an xã. Quá trình xác minh chủ đất để làm diễn ra trễ do gặp vấn đề trong hệ thống dữ liệu đất đai.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi vi phạm của bản thân. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo Châu Sủi Pố nắm giữ vai trò chính, nên mức án sẽ cao hơn hai bị cáo còn lại.
Từ đó, tòa tuyên bị cáo Châu Sủi Pố mức án 2 năm 6 tháng tù và bị cáo Lý Hoàng Quân 6 tháng tù về tội vi phạm quy định về khai thác tài nguyên; bị cáo Trần Hồ Hoàng Dũng 3 năm tù, được hưởng án treo về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

