Đề xuất sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng nâng mức tiền phạt trong nhiều lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng việc tăng chế tài là cần thiết để nâng cao hiệu quả răn đe, siết chặt kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở việc “phạt nặng đến đâu” mà ở chỗ mức phạt có hợp lý, khả thi và được xã hội chấp nhận hay không.
Mới đây, khi chủ trì cuộc họp về hồ sơ chính sách Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cũng nhấn mạnh việc đề xuất mức xử phạt phải được rà soát kỹ lưỡng, có cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn vững chắc. Với từng lĩnh vực cụ thể, cần đánh giá đầy đủ tác động, khả năng thực thi, tính răn đe và mức độ đồng thuận xã hội.
Đồng tình với phát biểu chỉ đạo của Phó thủ tướng, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) cho rằng đây không chỉ là một định hướng chính sách mà cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định chuyên ngành.
Theo bà, bản chất của xử phạt hành chính là điều chỉnh hành vi xã hội nhằm bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích cộng đồng. Vì vậy, một mức phạt chỉ phát huy hiệu quả khi người dân cảm nhận được sự công bằng và tính chính đáng của nó.
“Nếu mức phạt vượt quá khả năng chịu đựng thực tế của người vi phạm thì hiệu ứng tạo ra không phải là răn đe mà là né tránh, đối phó hoặc phát sinh tiêu cực. Ngược lại, mức phạt quá thấp sẽ khiến người vi phạm coi đó như một chi phí phải trả và sẵn sàng tiếp tục vi phạm”, bà Tú Anh nhận định.
Theo nữ đại biểu, đồng thuận xã hội là điều kiện quan trọng để pháp luật được thực thi hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy những quy định xử phạt thiếu sự đồng thuận thường có tỷ lệ tuân thủ thấp và chi phí thực thi cao, bất kể mức phạt được quy định nặng đến đâu.
Thực tế cũng cho thấy không ít trường hợp mức phạt trên giấy rất cao nhưng hiệu quả răn đe hạn chế. Cơ quan chức năng ngại áp dụng vì cho rằng chế tài quá nặng so với tính chất vi phạm, trong khi người vi phạm tìm mọi cách đối phó hoặc né tránh. Điều này cho thấy mức phạt cao không đồng nghĩa với tính nghiêm minh của pháp luật.
Theo ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh, để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả, chính sách xử phạt hành chính cần đáp ứng ít nhất bốn tiêu chí cơ bản.
Đầu tiên, mức phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hại của hành vi vi phạm, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của đối tượng bị điều chỉnh. Một mức phạt có thể hợp lý với doanh nghiệp lớn nhưng lại vượt quá khả năng của hộ kinh doanh nhỏ hoặc người dân ở khu vực nông thôn. Vì vậy, cần nghiên cứu các cơ chế điều chỉnh phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ hai, việc xây dựng mức phạt phải dựa trên đánh giá tác động thực chất. Nhiều đề xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý, trong khi còn thiếu dữ liệu về khả năng tuân thủ, năng lực tài chính của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả thực tế của chế tài. Việc đánh giá tác động cần được thực hiện nghiêm túc trước khi ban hành quy định.
Tiếp theo, xử phạt không chỉ nhằm trừng phạt mà còn phải hướng tới giáo dục và phòng ngừa. Đối với những trường hợp vi phạm lần đầu hoặc do thiếu hiểu biết pháp luật, việc kết hợp chế tài với các biện pháp tuyên truyền, giáo dục có thể mang lại hiệu quả thay đổi hành vi bền vững hơn so với phạt tiền đơn thuần.
Cuối cùng nữ đại biểu cho rằng, hệ thống chế tài phải bảo đảm tính thống nhất và công bằng giữa các lĩnh vực. Những hành vi có mức độ nguy hại tương đương cần được xử lý tương xứng. Nếu mức phạt giữa các lĩnh vực chênh lệch quá lớn, người dân dễ cảm nhận sự thiếu công bằng, từ đó ảnh hưởng tới niềm tin vào pháp luật.
Ở góc độ chuyên môn, Luật gia Võ Văn Tuyển (Ban Nghiên cứu – Xây dựng và Phổ biến pháp luật, Hội Luật gia Việt Nam), cho rằng mức tiền phạt hiện hành đã bộc lộ hạn chế trong một số lĩnh vực như đất đai, môi trường, thương mại điện tử, chứng khoán, quảng cáo sai sự thật, hàng giả và hàng nhái… Trong nhiều trường hợp, lợi ích mà tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm lớn hơn rất nhiều so với mức xử phạt phải chịu, khiến chế tài hành chính mất đi tác dụng răn đe.
Tuy nhiên, theo ông Tuyển, mức phạt chưa phải nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính hiện nay. Nhiều khó khăn nằm ở khâu phát hiện và chứng minh hành vi vi phạm, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hoặc những vướng mắc trong quá trình thi hành quyết định xử phạt.
“Nếu chỉ tăng mức tiền phạt mà không đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi, hoàn thiện cơ chế cưỡng chế và khắc phục sự chồng chéo của hệ thống pháp luật thì chưa chắc hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được cải thiện”, ông Tuyển nhận định.
Theo ông, cùng với phạt tiền, các hình thức xử phạt bổ sung như tước giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề cần được cân nhắc thận trọng về thời hạn, trình tự và tác động thực tế. Bởi, một quyết định tước giấy phép kéo dài nhiều tháng có thể khiến doanh nghiệp đình trệ hoạt động, ảnh hưởng tới người lao động và các đối tác liên quan.
Vì vậy, chế tài phải bảo đảm tính tương xứng, tránh tạo ra những hệ quả xã hội vượt quá mục tiêu quản lý, điều này cũng phù hợp với tinh thân Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Cùng với đó, Tuyển cũng cho rằng cần phân hóa rõ giữa cá nhân và tổ chức khi thiết kế chế tài xử phạt. Đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức có tiềm lực tài chính lớn, cố tình vi phạm để thu lợi bất hợp pháp, có thể nghiên cứu áp dụng mức phạt cao hơn. Ngược lại, nếu tăng đồng loạt đối với cá nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực gắn với đời sống dân sinh như giao thông, cư trú, kinh doanh nhỏ lẻ, có thể tạo áp lực lớn cho người dân.
Theo vị chuyên gia, thay vì chỉ tập trung nâng tiền phạt, cần chú trọng hơn tới các biện pháp tước bỏ lợi ích thu được từ hành vi vi phạm như buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, thu hồi sản phẩm vi phạm, tịch thu tang vật hoặc tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn phù hợp. Trong nhiều trường hợp, đây là giải pháp hiệu quả hơn so với việc chỉ tăng mức xử phạt bằng tiền.
Các ý kiến cho rằng quá trình sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính cần được thảo luận công khai, đa chiều và tiếp thu đầy đủ ý kiến phản biện xã hội. Bởi với một đạo luật tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng tính nghiêm khắc của pháp luật mà còn phải bảo đảm tính hợp lý, khả thi và sự đồng thuận trong quá trình thực thi.
Theo đó, ngày 29/5, Đồn Biên phòng cửa khẩu Mỹ Quý Tây chủ trì, phối hợp với Công an xã Mỹ Quý tổ chức tuần tra, kiểm soát, bảo vệ mục tiêu trên địa bàn.
Đến khoảng 6h sáng cùng ngày, tại khu vực thuộc ấp 4, xã Mỹ Quý, tỉnh Tây Ninh, lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện 1 người đàn ông lạ mặt xuất hiện trên địa bàn có nhiều nghi vấn nên tiến hành kiểm tra.
Qua kiểm tra, xác định người đàn ông lạ mặt tên là Trần Nguyên Gia, sinh năm 1973, trú tại thôn Tân Hòa, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên; là đối tượng đang bị Phòng Cảnh sát hình sự (PC02), Công an thành phố Hà Nội và Công an xã Mỹ Quý, tỉnh Tây Ninh truy tìm.
Trước đó, ngày 28/5, Đồn Biên phòng cửa khẩu Mỹ Quý Tây đã nhận được công văn trao đổi của Phòng Cảnh sát hình sự (PC02), Công an thành phố Hà Nội và Công an xã Mỹ Quý, tỉnh Tây Ninh về việc truy tìm đối tượng Trần Nguyên Gia (sinh năm 1973, trú tại thôn Tân Hòa, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên), liên quan đến vụ án đánh bạc xảy ra ngày 1/10/2025, tại thôn Đồng Xuyên, xã Thuận An, thành phố Hà Nội đang bỏ trốn khỏi địa bàn.
Ngày 29/6, vụ án được Tòa án quân sự trung ương xét xử công khai theo trình tự phúc thẩm, do có kháng cáo của 5 bị cáo cùng 414 bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Phiên tòa dự kiến diễn ra nhiều ngày, từng hoãn 2 lần do các thủ tục liên quan bị hại và các nhà đầu tư.
Hồi tháng 1, sau phiên tòa kéo dài 5 ngày, cấp sơ thẩm tuyên bị cáo Nguyễn Duy Cường, cựu thiếu tướng, cựu hiệu trưởng trường Sĩ quan Không quân và Hoàng Viết Quang, cựu thiếu tướng, cựu Phó cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Quốc phòng, mỗi người 2 năm 6 tháng tù về tội Vi phạm các quy định về quản lý đất đai.
Nguyễn Văn Hậu (44 tuổi, cựu chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Phúc Sơn) bị tuyên 11 năm tù; Nguyễn Thị Hằng, chị gái Hậu, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Phúc Sơn và Trần Hữu Định, Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Nam Á, lần lượt bị tuyên 7 năm 6 tháng và 8 năm 6 tháng cùng tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Năm 2025, trong vụ án khác, 3 người này cũng bị phạt tù do các sai phạm đấu thầu tại nhiều tỉnh thành khiến loạt cán bộ vướng lao lý, trong đó có cựu Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thúy Lan.
Tổng hợp với hai bản án, tòa xác định Hậu phải chấp hành 30 năm tù; Hằng 13 năm và Định 10 năm 6 tháng.
Trong vụ án bán 63 ha đất sân bay Nha Trang còn có 4 cựu lãnh đạo của Khánh Hòa bị tuyên từ 3 năm 6 tháng đến 4 tháng tù, song không kháng cáo. Những cựu cán bộ này đều đang chấp hành 3-4 bản án khác với tổng thời gian từ 13 năm đến 22 năm 6 tháng tù trong các vụ sai phạm đất đai tại địa phương.
Bản án xác định, sân bay Nha Trang cũ diện tích hơn 238 ha, giáp đường biển đẹp nhất tỉnh, thuộc quyền quản lý của trường Sĩ quan Không quân. Đây là tài sản đặc biệt phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.
Năm 2015, Chính phủ chấp thuận đề nghị của tỉnh, cho phép chuyển giao đất này cho Khánh Hòa để phát triển dự án kinh tế, đô thị, dịch vụ, nhấn mạnh "việc khai thác đất phải đảm bảo minh bạch, đúng thẩm quyền, đúng luật".
Song tháng 4/2015, tỉnh Khánh Hòa phê duyệt quy hoạch dự án, chủ đầu tư là Công ty Phúc Sơn, không qua đấu thầu. Thủ tướng cũng chưa phê duyệt nhưng Phúc Sơn đã được các bị cáo là lãnh đạo tỉnh và hai cựu thiếu tướng "bàn giao tạm" để cắm mốc, kiểm kê.
Nhiều văn bản liên tục được ký để "hợp thức hóa" việc giao đất trái phép và các hoạt động bàn giao vẫn ồ ạt diễn ra dù đến tháng 1/2016, sân bay mới có quyết định đóng cửa nhưng hơn một tháng trước, gần 63 ha đã được giao cho Phúc Sơn. Hai cựu thiếu tướng qua đó được Hậu biếu tiền, "quà tết".
Dù được giao trái phép, pháp lý chưa rõ ràng, đất vẫn bị ông chủ Phúc Sơn phân lô, quảng cáo rầm rộ, ký gần 1.000 hợp đồng chuyển nhượng, thu về hơn 7.000 tỷ đồng.
Tại phiên sơ thẩm, một đại gia Hà Nội cử người đại diện đến tòa bày tỏ mong muốn hỏa thuận mua lại cổ phần của Phúc Sơn, thay bị cáo Hậu bồi thường 7.000 tỷ đồng.
Khoảng 100 khách hàng mua đất của Hậu cho rằng ông này không thành ý khi không xuất hiện tại tòa. Các bị hại này nói không vừa lòng khi Hậu và đại gia này bàn bạc mà mình không được nêu ý kiến.
Bộ Công an đang lấy ý kiến dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) và dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất vào tháng 8.
Tại điều 193 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm
Đáng chú ý tại dự thảo, Bộ Công an đề xuất bổ sung điều 193a quy định tội sản xuất, buôn bán lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thức ăn dùng để chăn nuôi vi phạm quy định về chất lượng.
Theo dự thảo quy định người được phép sản xuất, kinh doanh nhưng biết rõ hàng hóa có hàm lượng chất chính, định lượng chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn công bố hoặc thông tin ghi trên nhãn có thể bị xử lý hình sự.
Cụ thể người vi phạm có thể bị phạt tiền từ 50 - 200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 1- 3 năm nếu thuộc một trong các trường hợp.
Gồm lượng hàng giả tương đương với hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 60 đến dưới 300 triệu đồng.
Trường hợp hàng hóa trị giá dưới 60 triệu đồng, người vi phạm vẫn có thể bị xử lý hình sự nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc các hành vi quy định tại điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật Hình sự; hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm.
Khung hình phạt này được áp dụng nếu người phạm tội thu lợi bất chính từ 100 đến dưới 200 triệu đồng hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 200 triệu đến dưới 1 tỉ đồng.
Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3-7 năm nếu hành vi có tổ chức, mang tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.
Mức phạt này còn được áp dụng khi lượng hàng giả tương đương với hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 300 triệu đến dưới 1 tỉ đồng; thu lợi bất chính từ 200 triệu đến dưới 1 tỉ đồng; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỉ đồng đến dưới 3 tỉ đồng.
Các trường hợp buôn bán qua biên giới, tái phạm nguy hiểm hoặc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi phạm tội, hàng giả là mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, thiết bị và vật tư ngành điện hoặc các sản phẩm dễ cháy, nổ cũng có thể bị áp dụng khung hình phạt này.
Người sử dụng nền tảng thương mại điện tử có từ 10.000 đến dưới 100.000 tài khoản theo dõi, đăng ký hoặc thành viên để thực hiện hành vi phạm tội cũng thuộc trường hợp áp dụng mức 3-7 năm tù.
Dự thảo đề xuất người phạm tội có thể bị phạt từ 7 - 12 năm tù nếu lượng hàng giả tương đương với hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 1 tỉ đồng trở lên.
Khung hình phạt này được áp dụng trong trường hợp người phạm tội thu lợi bất chính từ 1 tỉ đồng trở lên; làm chết 2 người trở lên; hoặc gây thương tích, tổn hại sức khỏe cho ít nhất 2 người với tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 122% trở lên.
Người gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỉ đồng trở lên hoặc sử dụng nền tảng thương mại điện tử có từ 100.000 tài khoản theo dõi, đăng ký hoặc thành viên trở lên để phạm tội cũng có thể bị phạt theo mức này.
Ngoài ra cá nhân vi phạm còn có thể bị phạt bổ sung từ 40-100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn từ 1-5 năm, đồng thời có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Với pháp nhân thương mại, dự thảo đề xuất mức phạt từ 2-6 tỉ đồng với hành vi thuộc khoản 1, từ 6-12 tỉ đồng nếu thuộc khoản 2 và từ 12-18 tỉ đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 6 tháng đến 3 năm nếu thuộc khoản 3 điều luật.
Luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng luật Chính Pháp (Đoàn luật sư Hà Nội), cho rằng trong thực tiễn áp dụng điều 193 Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm đã phát sinh một số bất cập.
Có trường hợp hàng hóa hoàn toàn không có giá trị sử dụng, công dụng, bị làm giả hoàn toàn, nhưng cũng có trường hợp hàng hóa vẫn có giá trị sử dụng nhất định, chỉ không đạt mức chất lượng theo công bố, ví dụ chỉ đạt 60% hoặc 65% so với tiêu chuẩn đăng ký.
Mặc dù mức độ nguy hiểm rất khác nhau nhưng đều bị xử lý chung theo một tội danh sản xuất, buôn bán hàng giả, dẫn đến việc phân hóa trách nhiệm hình sự chưa thật sự hợp lý.
Theo nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự được thể hiện xuyên suốt trong Bộ luật Hình sự, hình phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Bởi vậy dự thảo bổ sung điều 193a để tách riêng hành vi sản xuất, buôn bán lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, thức ăn chăn nuôi vi phạm quy định về chất lượng thành một tội danh độc lập sẽ bảo đảm nguyên tắc công bằng trong xử lý hình sự.
Đồng thời tránh tình trạng áp dụng cùng một khung hình phạt đối với các hành vi có mức độ nguy hiểm rất khác nhau.