Cựu nhân viên tiết lộ “lò đào tạo” chốt hợp đồng kỳ nghỉ du lịch tiền tỷ

Cựu nhân viên tiết lộ "lò đào tạo" chốt hợp đồng kỳ nghỉ du lịch tiền tỷ

Những ngày qua, “hợp đồng kỳ nghỉ” trở thành tâm điểm chú ý sau loạt phóng sự phản ánh nhiều trường hợp khách hàng, đặc biệt là người cao tuổi, mất hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng vì tin vào những lời quảng bá về nghỉ dưỡng cao cấp và cơ hội sinh lời.

Đằng sau những lời mời gọi hấp dẫn ấy là một guồng quay bán hàng với nhiều góc khuất ít người biết tới.

Trao đổi với phóng viên Dân trí, anh N. – cựu nhân viên kinh doanh của một công ty cung cấp hợp đồng dịch vụ A – lần đầu tiết lộ quy trình tìm kiếm khách hàng, áp lực doanh số, cơ chế hoa hồng và những kịch bản được áp dụng để thuyết phục khách ký hợp đồng.

Những cuộc gọi “tri ân” và kịch bản kéo khách tới sự kiện

“Tôi từng nghĩ mình đang bán một sản phẩm du lịch thông thường. Nhưng càng làm lâu, tôi càng nhận ra có rất nhiều điều khách hàng không được biết hết trước khi đặt bút ký”, anh N. mở đầu câu chuyện.

Cựu nhân viên kinh doanh này gia nhập vào đội ngũ tư vấn của công ty A. vào khoảng năm 2022 – thời điểm ngành du lịch bắt đầu phục hồi sau đại dịch. Địa điểm làm việc tại văn phòng ở TPHCM.

Công việc được mô tả là nhân viên tư vấn làm việc trong văn phòng. Tuy nhiên sau khi nhận việc, anh nhanh chóng nhận ra môi trường có cường độ làm việc rất cao.

Thời gian làm từ thứ 3 tới chủ nhật, giờ làm việc kéo dài từ 9h tới 21h hàng ngày. Thứ 2 là ngày nghỉ duy nhất trong tuần, nhưng nếu kết quả của sales (nhân viên bán hàng) chưa đạt, phải ở lại công ty gọi điện cho khách.

Các nhân viên mới gia nhập phải trải qua quá trình đào tạo kéo dài 3-4 tuần để hiểu mô hình kinh doanh, sản phẩm và kỹ năng bán hàng. Một trong những nội dung được đào tạo là cách tạo thiện cảm và xây dựng niềm tin với khách hàng.

Nhân viên được hướng dẫn cách nói chuyện để khách có cảm tình, hiểu nhu cầu của họ, xem họ có thích du lịch hay không rồi từ đó tư vấn các gói hợp đồng phù hợp.

Khi chính thức bắt tay vào guồng quay, nhân viên sales được công ty cung cấp data khách hàng (dữ liệu) có sẵn để gọi điện. Đồng thời, công ty cũng có sẵn kịch bản telesale (hình thức bán hàng qua điện thoại) để mời khách tham gia hội nghị, sự kiện.

Nội dung cuộc gọi thường xoay quanh các chương trình tri ân khách hàng, tặng voucher nghỉ dưỡng hoặc quà tặng du lịch miễn phí với mục đích đưa khách tới hội nghị bằng mọi cách. Tuy nhiên theo anh N., tỷ lệ khách chấp nhận lời mời khá thấp.

“Nếu gọi 100 khách thì có thể khoảng 10 người đồng ý tham gia, nhưng cuối cùng chỉ khoảng 2 người thực sự đến dự sự kiện. Chính vì vậy, sales phải thực hiện các cuộc gọi liên tục với số lượng lớn. Những người đồng ý tới sự kiện đa phần vì tò mò hoặc bị thu hút bởi phần quà nghỉ dưỡng”, anh N. nói.

Cũng theo cựu nhân viên này, mức lương cơ bản thời điểm đó của các sales dao động từ 6 đến 7 triệu đồng/tháng. Nguồn thu chính đến từ tiền hoa hồng khi chốt hợp đồng. Mức hoa hồng phổ biến khoảng 7% giá trị hợp đồng và nhân viên được hưởng trọn vẹn khoản này, không phải cắt bớt, chi trả phụ phí.

Đánh giá đây là mức hoa hồng rất cao bởi theo tìm hiểu của anh N., phần trăm hoa hồng của nhân viên bất động sản chỉ thường ở mức 2% và phải khấu trừ một số chi phí.

“Cơ chế này tạo động lực mạnh mẽ khiến đội ngũ bán hàng thấy rằng doanh số mới là mục tiêu quan trọng nhất. Nhiều nhân viên không còn để ý khách hàng thực sự cần gì. Họ chỉ cần khách đặt bút ký, sớm chốt hợp đồng”, cựu nhân viên sales nhận định.

Đánh giá giao dịch bất thường: Nhìn vào số lượng hợp đồng của khách

Theo anh N., muốn đánh giá một giao dịch hợp đồng kỳ nghỉ có dấu hiệu bất thường hay không, chỉ cần nhìn vào số lượng hợp đồng mà khách được khuyến khích mua.

Nhiều khách ban đầu chốt hợp đồng thứ nhất vì có nhu cầu nghỉ dưỡng thực sự. Tuy nhiên sau đó, họ tiếp tục được sales thuyết phục mua thêm hợp đồng thứ 2. Anh N. khẳng định, từ hợp đồng thứ 2 là nơi nhân viên sales khai thác câu chuyện lợi nhuận.

“Nếu khách mua ít nhất 2 hợp đồng, thì gần như chắc chắn hợp đồng thứ 2 được tư vấn theo hướng đầu tư, kỳ vọng sinh lời hoặc tạo lợi nhuận”, anh N. nhận định.

Đáng chú ý, những cam kết về lợi nhuận thường không xuất hiện trong văn bản chính thức. Khi đó, các nhân viên tư vấn thường dùng cách diễn đạt nước đôi. Trên giấy tờ không có điều khoản cam kết lợi nhuận hay cho thuê sinh lời, nhưng trong quá trình tư vấn, khách hàng có thể hiểu rằng khoản tiền bỏ ra sẽ được thu hồi hoặc tạo lợi nhuận trong tương lai.

  Dịch sốt xuất huyết tăng cao, chuyên gia cảnh báo biến chứng nặng của bệnh

“Đây chính là kịch bản phổ biến nhất mà tôi chứng kiến. Ví dụ, khách đã có một hợp đồng, sales tiếp tục giới thiệu hợp đồng thứ 2 với giá thấp hơn và nói rằng hợp đồng này có thể sinh lời. Nhưng vấn đề lợi nhuận chủ yếu là cam kết miệng của nhân viên và khách”, anh nói.

Thời điểm anh N. vào công ty, đơn vị này có khoảng 80 đến 100 nhân viên sales. Tuy nhiên anh nhận thấy, mỗi nhóm bán hàng lại có cách triển khai khác nhau. Cùng một sản phẩm, nhân viên sales của từng đội sẽ có cách riêng để khách phải xuống tiền.

Đặc biệt, trong một số trường hợp, nếu nhận thấy khách còn khả năng tài chính, nhân viên sẽ tiếp tục thuyết phục tới cùng để họ phải mua thêm sản phẩm.

Xung đột giữa lợi nhuận và đạo đức nghề nghiệp

Trong quá trình làm việc, anh N. cũng dần nhận thấy sự chênh lệch đáng kể giữa giá mua hợp đồng kỳ nghỉ trực tiếp và chi phí thuê lại từ các chủ sở hữu bên ngoài.

Nam nhân viên đưa ra ví dụ cụ thể. Một hợp đồng kỳ nghỉ chốt với công ty nghỉ dưỡng A. có giá 480 triệu đồng. Đổi lại, khách được sử dụng một tuần nghỉ dưỡng mỗi năm trong khoảng 35 năm.

Ngoài ra, khách phải đóng phí thường niên khoảng 5 triệu đồng/năm. Khách hàng được lựa chọn tuần nghỉ cố định và về mặt pháp lý có quyền chuyển nhượng hợp đồng.

Tuy nhiên, trên thực tế, ngay cả những người không sở hữu hợp đồng kỳ nghỉ vẫn hoàn toàn có thể đặt phòng nghỉ dưỡng tại công ty A. với mức giá rẻ hơn nhiều so với người ký hợp đồng.

“Chỉ cần vào hội nhóm của hợp đồng kỳ nghỉ, khách sẽ thấy rất nhiều chủ sở hữu không sử dụng quyền nghỉ dưỡng hằng năm nên sẵn sàng cho thuê lại với mức giá rất thấp, chỉ nhỉnh hơn phí duy trì thường niên. Mức giá này hời hơn rất nhiều và cũng tránh được rủi ro so với việc người mua đặt bút ký để lấy hợp đồng nghỉ dưỡng trong thời gian kéo dài hàng chục năm”, anh N. phân tích.

Sau khoảng 10-11 tháng làm việc, nam nhân viên sales cho biết anh chốt hơn 20 hợp đồng với khách. Trong đó, các hợp đồng đều ký với những người có nhu cầu nghỉ dưỡng thực sự.

Cuối cùng, anh quyết định rời đi vì thấy môi trường làm việc thiếu minh bạch. Nhìn lại quãng thời gian đó, anh cho rằng xung đột lớn nhất không nằm ở kỹ năng bán hàng mà ở câu hỏi đạo đức nghề nghiệp.

“Doanh số trở thành mục đích quan trọng nhất khiến sales chỉ cần khách sớm chốt hợp đồng. Đó là điều khiến tôi day dứt, không muốn tiếp tục gắn bó”, anh nói.

Trước đó rất nhiều nạn nhân đã phản ánh với Dân trí về về chiêu thức bị dụ dỗ mua bán hợp đồng kỳ nghỉ.

Trong đó, chị T.K. (sống tại phường Đại Mỗ, Hà Nội) cho biết, từ một chuyến du lịch được giới thiệu là cơ hội nghỉ dưỡng hấp dẫn, mẹ chồng chị đã liên tiếp ký 5 hợp đồng kỳ nghỉ với tổng số tiền hơn 1 tỷ đồng.

Đằng sau những bản hợp đồng là quãng thời gian cả gia đình chị T.K. kiệt sức vì khuyên can, trả nợ thay và tìm mọi cách giúp bà từ bỏ niềm tin rằng chỉ cần đóng thêm tiền sẽ lấy lại được khoản đầu tư đã mất.

Theo luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng Văn phòng Luật sư Hoàng Hưng, những người đã trót ký hợp đồng hoặc nghi ngờ bị lừa đảo cần nhanh chóng tìm đến luật sư hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật để được tư vấn.

Luật sư này cũng lưu ý những chứng cứ quan trọng cần được thu thập gồm toàn bộ hợp đồng đã ký, chứng từ chuyển tiền, sao kê giao dịch ngân hàng, tin nhắn, email, ghi âm cuộc gọi, nội dung quảng cáo, thư mời hội thảo và mọi tài liệu liên quan đến quá trình giao dịch.

Đặc biệt, khi phát hiện dấu hiệu bất thường, người dân cần sớm làm đơn tố giác gửi cơ quan công an để được xem xét, xử lý và ngăn chặn các thiệt hại tiếp theo.

Tin Gốc: Dân Trí