Chuyển tư duy từ “làm văn hóa” sang “kinh tế văn hóa”
Nghệ An sở hữu tiềm năng khổng lồ để bứt phá trong ngành công nghiệp văn hóa nhờ hội tụ kho tàng di sản đồ sộ, hạ tầng đồng bộ và thị trường du lịch tăng trưởng mạnh mẽ với doanh thu toàn ngành đạt hơn 30.600 tỷ đồng. Trụ cột đầu tiên nằm ở “kho báu” văn hóa phi vật thể, đặc biệt là Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh – Di sản nhân loại độc bản giữ vai trò cốt lõi để xây dựng các show diễn thực cảnh tầm cỡ phục vụ kinh tế đêm. Song hành với đó là hệ thống hơn 2.600 di tích lịch sử và địa chỉ đỏ linh thiêng, nổi bật là Khu di tích quốc gia đặc biệt Kim Liên và Truông Bồn.
Không chỉ vậy, sự giao thoa bản sắc của các dân tộc thiểu số miền Tây xứ Nghệ cùng mạng lưới gần 200 làng nghề truyền thống chính là nguồn chất liệu thô vô giá để phát triển chuỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ, quà tặng lưu niệm cao cấp mang đậm câu chuyện bản địa. Khi những tài nguyên độc nhất này được kết nối chặt chẽ với hạ tầng giao thông kết nối toàn diện (sân bay, cảng biển, cao tốc) và nguồn nhân lực sáng tạo, Nghệ An hoàn toàn có đủ bệ phóng để biến di sản thành dòng tiền, đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Ngay sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An đã tổ chức kết nối trực tuyến Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết trụ cột, chiến lược của Trung ương và của tỉnh mới ban hành, trong đó có Nghị quyết số 80-NQ/TW. Hội nghị được tổ chức tại 577 điểm cầu với hơn 32.900 đại biểu tham gia.
Cùng với đó, các địa phương, đơn vị trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng như tuyên truyền miệng, thông qua hệ thống thông tin cơ sở, cổng thông tin điện tử, bản tin nội bộ, mạng xã hội và hệ thống phát thanh cơ sở. Các cơ quan báo chí của tỉnh mở nhiều chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về phát triển văn hóa, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về vai trò, vị trí của văn hóa trong phát triển đất nước và quê hương Nghệ An.
Quan điểm xuyên suốt là phát triển văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; lấy con người làm trung tâm, cộng đồng là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng; phát huy tối đa các nguồn lực xã hội; bảo đảm tính kế thừa, đồng bộ với các chiến lược phát triển của tỉnh và phù hợp với điều kiện thực tiễn trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đến năm 2030, Nghệ An phấn đấu xây dựng văn hóa và con người phát triển toàn diện, với môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc. Trong đó, tỉnh đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể: Hoàn thiện đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở; 100% xã, phường có thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thụ hưởng của Nhân dân; trên 90% thiết chế hoạt động hiệu quả. Có 100% khu công nghiệp có nhà văn hóa, sân thể thao phục vụ công nhân, người lao động. Hoàn thành số hóa toàn bộ di sản văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia vào năm 2026 và tiếp tục mở rộng đến năm 2030. Có 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận, tham gia các hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản. Bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển văn hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa, phấn đấu đóng góp khoảng 7% GRDP của tỉnh.
Đồng thời, tỉnh tập trung đầu tư các công trình văn hóa trọng điểm, mang tính biểu tượng, hướng tới kỷ niệm 1.000 năm danh xưng Nghệ An, như: Trung tâm văn hóa đa chức năng kết hợp trung tâm hội nghị tỉnh, bảo tàng văn hóa các dân tộc miền Tây, công viên sinh thái – văn hóa, các khu lưu niệm danh nhân…
Tầm nhìn đến năm 2045, Nghệ An hướng tới xây dựng hệ sinh thái văn hóa phát triển toàn diện, hiện đại nhưng đậm đà bản sắc; hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa đặc trưng; đưa tỉnh trở thành trung tâm văn hóa của khu vực Bắc Trung Bộ. Đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế chính sách và phát triển nguồn lực văn hóa.
Động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội
Thời gian qua, Nghệ An đã tích cực tham mưu xây dựng nhiều chương trình, đề án về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Nhiều chính sách hỗ trợ hoạt động văn hóa cơ sở, bảo tồn di sản, hỗ trợ nghệ nhân, câu lạc bộ dân ca, đội văn nghệ truyền thống và phát triển du lịch tiếp tục được triển khai hiệu quả. Ngành văn hóa cũng đang tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững.
Cùng với bảo tồn di sản, Nghệ An đặc biệt quan tâm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh. Các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa tiêu biểu tiếp tục được triển khai sâu rộng. Công tác quản lý và tổ chức lễ hội, xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước được tăng cường.
Bên cạnh đó, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa tiếp tục được đẩy mạnh. Tỉnh đã triển khai số hóa hồ sơ di tích, tài liệu Hán – Nôm; ứng dụng công nghệ số trong trưng bày tại Bảo tàng Nghệ An – Xô viết Nghệ Tĩnh và Khu di tích Kim Liên. Việc xây dựng Đề án phát triển hệ thống truyền thông cơ sở dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin – viễn thông cũng đang được triển khai.
Trong phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch văn hóa, Nghệ An đang tập trung xây dựng nhiều sản phẩm du lịch mang bản sắc riêng của địa phương như du lịch lịch sử – tâm linh, du lịch cộng đồng miền Tây, du lịch biển gắn với văn hóa và ẩm thực xứ Nghệ. Các sự kiện lớn như Festival du lịch Cửa Lò, Lễ hội Làng Sen, Festival dân ca Ví, Giặm, Festival ẩm thực lươn Nghệ An… tiếp tục được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh quê hương, thu hút du khách.
Đặc biệt, tỉnh nghiên cứu phát triển các chương trình biểu diễn thực cảnh nghệ thuật dân ca Ví, Giặm thành sản phẩm công nghiệp văn hóa phục vụ phát triển kinh tế đêm và du lịch trải nghiệm. Một số chương trình như “Mote Show”, “Choa Show”, “Lời Ví neo sóng”, “Lửa Xô Viết”, “Chuyện làng Sen”… đang được xây dựng để biểu diễn thường xuyên tại các điểm du lịch, di tích trọng điểm.
Tỉnh cũng tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống bảo tàng, di tích, thiết chế văn hóa; đẩy mạnh xã hội hóa và thu hút đầu tư vào các dự án văn hóa, du lịch quy mô lớn như không gian trải nghiệm số “Tinh hoa xứ Nghệ”, trung tâm văn hóa đa chức năng, các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và không gian sáng tạo.
Trong thời gian tới, Nghệ An sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển văn hóa; đẩy mạnh bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; tập trung triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo di tích; tăng cường ứng dụng công nghệ số; phát triển mạnh du lịch văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới…
Theo UBND tỉnh Quảng Ninh năm 2026, tỉnh đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển với yêu cầu cao về hoàn thiện hạ tầng chiến lược, mở rộng không gian phát triển và tạo nền tảng thực hiện mục tiêu tăng trưởng trên 13%, xây dựng tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Trong bối cảnh đó, đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực quan trọng dẫn dắt tăng trưởng, khơi thông các nguồn lực xã hội và tạo dư địa phát triển mới cho địa phương.
Theo đó, ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp điều hành đầu tư công theo hướng quyết liệt, linh hoạt và sát thực tiễn.
Thực hiện Quyết định số 2691/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giao kế hoạch đầu tư công vốn NSNN năm 2026 và Nghị quyết số 320/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về dự toán thu, chi ngân sách địa phương năm 2026, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4869/QĐ-UBND giao dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ chi tiết kế hoạch vốn ngay từ đầu năm cho các sở, ngành, địa phương.
Tinh thần xuyên suốt được tỉnh quán triệt là "giao vốn sớm, triển khai sớm, giải ngân sớm", hạn chế tối đa tình trạng chờ đợi, ách tắc thủ tục, hoặc dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm.
Các sở, ngành, địa phương, chủ đầu tư chủ động xây dựng kế hoạch giải ngân theo từng tháng, quý đối với từng chương trình, dự án; đồng thời phân công rõ trách nhiệm lãnh đạo phụ trách, thường xuyên rà soát tiến độ để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Cùng với đẩy nhanh tiến độ, theo UBND tỉnh Quảng Ninh tỉnh đang tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương đầu tư công. Tỉnh yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu, lấy kết quả giải ngân theo từng mốc thời gian làm tiêu chí đánh giá, xếp loại cuối năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị.
Đây được xem là giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực điều hành, khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm, chậm triển khai dự án.
Tỉnh cũng ưu tiên nguồn lực cho các công trình trọng điểm, dự án liên vùng, liên xã có tính lan tỏa lớn, tập trung vào hạ tầng giao thông, đô thị, chuyển đổi số, logistics và các dự án mở rộng không gian phát triển ven biển, khu vực động lực phía Tây, cùng các địa bàn chiến lược.
Để bảo đảm đầu tư công không bị gián đoạn trong quá trình vận hành theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các sở, ngành tăng cường hướng dẫn chuyên môn, tập huấn nghiệp vụ và hỗ trợ nhân lực cho cấp xã.
Công tác lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, dự án đầu tư được thực hiện theo hướng rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định.
Nhờ chủ động, quyết liệt ngay từ đầu năm, kết quả giải ngân đầu tư công 5 tháng đầu năm 2026 của Quảng Ninh đạt nhiều tín hiệu tích cực. Tổng kế hoạch vốn đến đầu tháng 5 đạt 24.879 tỷ đồng, đạt 24,2% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao đầu năm.
Trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn về thủ tục đầu tư, GPMB và khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng, kết quả giải ngân của Quảng Ninh tiếp tục nằm trong nhóm tích cực, cho thấy hiệu quả từ cách điều hành linh hoạt, sát tiến độ và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong việc đưa dòng vốn đầu tư công nhanh chóng đi vào nền kinh tế.
Song song với đẩy mạnh đầu tư công, Quảng Ninh cũng tập trung rà soát, sắp xếp và khai thác hiệu quả tài sản công sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, qua đó tạo thêm dư địa và nguồn lực cho phát triển.
Toàn tỉnh hiện quản lý 2.202 trụ sở, cơ sở hoạt động sự nghiệp; trong đó 1.952 cơ sở tiếp tục sử dụng, khoảng 230 cơ sở dôi dư đang được rà soát để điều chuyển, chuyển đổi công năng phục vụ giáo dục, văn hóa, thể thao, tái định cư và các nhiệm vụ phát triển mới.
Cùng với đó, tỉnh thực hiện sắp xếp lại phương tiện công theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp tiêu chuẩn, định mức sử dụng.
Từ ngày 1.1.2026, hình thức thuế khoán được xóa bỏ, 100% hộ kinh doanh chuyển sang kê khai thuế. Tuy nhiên, mới đây, một số chuyên gia, hiệp hội đã đề nghị nghiên cứu cho thực hiện chính sách thuế khoán đối với hộ kinh doanh có mức doanh thu năm dưới 5 tỉ đồng.
Tại Công văn 5272 gửi Bộ trưởng Bộ Tài chính mới đây, Văn phòng Chính phủ nêu ý kiến của Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, nghiên cứu các kiến nghị.
Trả lời câu hỏi của Thanh Niên về vấn đề nêu trên tại họp báo thường kỳ quý 2 của Bộ Tài chính sáng 17.6, Phó cục trưởng Cục Thuế Mai Sơn cho biết, việc bỏ thuế khoán, chuyển sang cơ chế hộ kinh doanh tự kê khai, tự xác định doanh thu để thực hiện nghĩa vụ thuế là nội dung được triển khai theo tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Chính phủ.
Điểm thay đổi lớn nhất hiện nay không nằm ở thuế suất mà ở phương thức quản lý. Trước đây, hộ kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống được miễn thuế, còn hiện nay ngưỡng doanh thu miễn thuế được nâng lên 1 tỉ đồng/năm.
Đối với nhóm hộ kinh doanh nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu, mức thuế suất cơ bản không thay đổi. Người nộp thuế sẽ tự xác định doanh thu theo tháng hoặc quý để kê khai.
"Trong quá trình triển khai, cơ quan thuế đã phối hợp với các nhà cung cấp giải pháp công nghệ để hỗ trợ tối đa hộ kinh doanh. Nhiều phần mềm quản lý bán hàng, hóa đơn điện tử, chữ ký số và các gói dịch vụ phù hợp với từng quy mô kinh doanh đã được cung cấp, trong đó có nhiều gói miễn phí trong giai đoạn đầu", ông Sơn nói.
Qua tổng kết bước đầu, khoảng 98% hộ kinh doanh thuộc diện kê khai đã thực hiện đúng và kịp thời. Cơ quan thuế thường xuyên theo dõi, hỗ trợ trực tiếp nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình chuyển đổi.
Lãnh đạo Cục Thuế đánh giá, việc áp dụng phương thức quản lý mới bước đầu mang lại nhiều tín hiệu tích cực, góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh. Việc kê khai doanh thu theo thực tế cũng giúp hạn chế tình trạng doanh thu thay đổi nhưng không được điều chỉnh kịp thời như trước đây, từ đó giảm nguy cơ thất thu thuế.
Thời gian tới, ngành thuế sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định tại nghị định, thông tư hướng dẫn và cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh.
Cơ quan thuế cũng sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ để mở rộng các công cụ hỗ trợ, giúp hộ kinh doanh dễ dàng thực hiện nghĩa vụ thuế.
"Khi có những đề xuất thực sự giúp tạo thuận lợi hơn cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, cơ quan thuế ghi nhận, sẽ tiếp tục nghiên cứu, tham mưu Bộ Tài chính và các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định", ông Mai Sơn khẳng định.
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 246 kết luận phiên họp lần thứ ba năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
Phiên họp diễn ra hôm 11/5 dưới sự chủ trì của Thủ tướng Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo.
Tại phiên họp, Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an chủ trì đôn đốc hoàn thành kết nối, đồng bộ dữ liệu các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành về Trung tâm dữ liệu quốc gia, hoàn thành trong tháng 9. Từ tháng 5, việc này phải công khai tiến độ hằng tháng.
Thủ tướng yêu cầu các Bộ Công Thương, Giáo dục và Đào tạo, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Nội vụ, Công an và Thanh tra Chính phủ, phải khẩn trương hoàn thành dự án xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành được giao.
Trong đó, Thủ tướng lưu ý tập trung phân loại, ưu tiên làm trước các dữ liệu liên quan đến giải quyết thủ tục hành chính, xử lý dứt điểm các khó khăn, vướng mắc, hoàn thành trong tháng 6.
Ngoài ra, lãnh đạo Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương giao một đầu mối thống nhất về chuyển đổi số chịu trách nhiệm quản lý, điều phối hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, kết nối, chia sẻ và bảo đảm an ninh dữ liệu, hoàn thành trong tháng 6.
Để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, Bộ Công an được giao chủ trì phát triển VNeID trở thành nền tảng số quốc gia, mở rộng tiện ích phục vụ dịch vụ công, nhất là trong lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông, tư pháp, thi hành án, đấu giá tài sản và an sinh xã hội…
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng danh mục phát triển sản phẩm đối với vaccine thế hệ mới sử dụng cho phòng bệnh, chữa bệnh cho người, công nghệ tế bào phục vụ điều trị cá thể bệnh mãn tính và bệnh nan y, công nghệ in 3D trong y tế. Việc này cần hoàn thành trong tháng 6.
Bộ Xây dựng được giao chủ trì xây dựng danh mục phát triển sản phẩm trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, đô thị thông minh, giao thông thông minh và hoàn thành trong tháng 6.
Đơn vị cũng cần phối hợp với Bộ Công an tích hợp vé ô tô, đường sắt, đường thủy lên ứng dụng VNeID, hoàn thành trong quý IV năm 2026.
Thủ tướng yêu cầu các địa phương lựa chọn các sản phẩm khoa học công nghệ trọng tâm, có giá trị gia tăng cao, có thị trường, khả năng nhân rộng; không đăng ký theo phong trào, dàn trải.