PGS.TS.BS Phạm Quang Thái, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, tại tọa đàm nâng cao hiểu biết về phế cầu khuẩn do Hội Y học dự phòng Việt Nam phối hợp Pfizer Việt Nam tổ chức ngày 24/6, cho biết con số này được công bố năm 2025, dựa trên nghiên cứu 274 ca bệnh phế cầu xâm lấn tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2019-2022, trong đó 24 trẻ tử vong, chủ yếu dưới 5 tuổi.
Theo ông Thái, gánh nặng bệnh do phế cầu vẫn bị nhiều phụ huynh đánh giá thấp, dù đây là một trong những tác nhân gây bệnh xâm lấn nguy hiểm hàng đầu ở trẻ nhỏ. Dữ liệu từ Bệnh viện Nhi đồng 1 và 2 cũng cho thấy phế cầu khuẩn là nguyên nhân của hơn 86% ca viêm màng não vi khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi.
BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, kể về một bệnh nhi 11 tuổi nhập viện với biểu hiện ban đầu sốt, ho, sổ mũi nên gia đình nghĩ bị cảm cúm và tự điều trị tại nhà . Sau vài ngày, trẻ khó thở, viêm phổi nặng rồi nhanh chóng suy tim, phải can thiệp ECMO để duy trì sự sống.
“Bệnh nhi phải chạy ECMO suốt 4 tuần, sau đó điều trị thêm gần một tháng mới xuất viện, chi phí hàng trăm triệu đồng”, bác sĩ Tiến nói, cho biết phế cầu thường khởi phát bằng các triệu chứng rất dễ nhầm với cảm cúm thông thường như ho, sổ mũi, sốt nhẹ.
Phế cầu khuẩn là tác nhân phổ biến gây viêm phổi, viêm tai giữa, viêm xoang ở trẻ nhỏ. Khi xâm lấn vào máu hoặc hệ thần kinh trung ương, vi khuẩn có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, tràn mủ màng phổi, thậm chí suy đa cơ quan. Theo bác sĩ Tiến, trẻ mắc bệnh mạn tính có nguy cơ nhiễm phế cầu nặng cao gấp 3 lần trẻ khỏe mạnh, trong khi trẻ suy giảm miễn dịch có nguy cơ cao gấp tới 40 lần.
Theo nghiên cứu công bố năm 2026, khoảng 33% trẻ em Việt Nam dưới 18 tuổi mang phế cầu khuẩn ở vùng mũi họng nhưng không có triệu chứng, trở thành nguồn lây chính trong gia đình và cộng đồng.
Một thách thức lớn khác là tình trạng kháng kháng sinh ngày càng nghiêm trọng. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, 75,3% chủng phế cầu gây bệnh xâm lấn đã kháng cephalosporin thế hệ ba, gần 100% kháng erythromycin và clindamycin. Tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, tỷ lệ kháng một số nhóm kháng sinh phổ biến cũng lên tới khoảng 80%. Các chuyên gia nhận định việc tự ý dùng kháng sinh trong cộng đồng là nguyên nhân quan trọng khiến vi khuẩn ngày càng đề kháng, làm thu hẹp lựa chọn điều trị.
Phó giáo sư Thái cho biết sau khi vaccine Hib được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ viêm màng não mủ do Hib giảm mạnh 60-70% xuống khoảng 6%. Trong khi đó, phế cầu nổi lên, chiếm khoảng 70% số ca viêm màng não mủ ở trẻ em.
“Ở các trường hợp phế cầu xâm lấn nặng, tỷ lệ tử vong có thể lên tới 40-45%, gần tương đương não mô cầu”, ông nói. Ngay cả khi được cứu sống, nhiều trẻ vẫn có thể mang di chứng lâu dài như điếc, giảm khả năng học tập, rối loạn vận động hoặc co giật.
GS.TS.BS Phan Trọng Lân, Viện trưởng Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Chủ tịch Hội Y học dự phòng Việt Nam, nhấn mạnh có những bệnh nếu chờ đến khi vào viện mới quan tâm thì thường đã muộn, hoặc ít nhất là đã phải trả giá bằng rất nhiều lo lắng, chi phí và đôi khi là cả những hậu quả nặng nề cho trẻ. Bệnh do phế cầu khuẩn là một ví dụ như vậy vì khuẩn này là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi, viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em.
“Dưới tác động của ô nhiễm môi trường, đô thị hóa và tình trạng tự ý sử dụng kháng sinh, bức tranh dịch tễ của bệnh do phế cầu khuẩn đang trở nên phức tạp hơn”, giáo sư Lân nói.
PGS.TS.BS Cao Hữu Nghĩa, Trưởng Bộ môn Khoa học Y sinh, Viện Pasteur TP HCM, cho biết bệnh do phế cầu không chỉ là mối nguy ở trẻ dưới 5 tuổi mà còn có thể gây bệnh nặng ở trẻ lớn hơn có bệnh nền nguy cơ cao. Theo ông, nhận diện đúng nhóm nguy cơ ở từng độ tuổi là yếu tố quan trọng để lựa chọn biện pháp dự phòng phù hợp.
Các chuyên gia khuyến cáo phụ huynh cần đặc biệt lưu ý nếu trẻ sốt kéo dài, ho nặng dần, thở mệt, bỏ bú hoặc lừ đừ sau một đợt cảm cúm tưởng như đã hồi phục. “Không nên chủ quan, bởi một cơn sổ mũi tưởng nhẹ đôi khi chỉ sau vài ngày có thể trở thành ca cấp cứu nặng”, bác sĩ Tiến cảnh báo.
Cục An toàn thực phẩm nhận được thông tin ngày 18-4 trên địa bàn xã Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ghi nhận hơn 20 người nhập viện cấp cứu nghi do ngộ độc thực phẩm sau khi ăn bánh mì với các triệu chứng như nôn ói, đau bụng, tiêu chảy, sốt cao… và đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Trước tình hình trên, Cục An toàn thực phẩm đề nghị Sở Y tế tỉnh Nghệ An khẩn trương triển khai chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh có bệnh nhân đang điều trị, tập trung nguồn lực tích cực điều trị cho bệnh nhân nghi ngộ độc thực phẩm không để ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng.
Tổ chức điều tra, truy xuất nguồn gốc thực phẩm để xác định rõ nguồn cung cấp nguyên liệu, thực phẩm nghi ngờ gây ngộ độc, lấy mẫu thực phẩm, bệnh phẩm để xét nghiệm tìm nguyên nhân; điều tra và xử lý nghiêm các vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (nếu có), công khai kết quả để kịp thời cảnh báo cho cộng đồng.
Đồng thời tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, nâng cao vai trò, trách nhiệm của người quản lý, người sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.
Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn kiến thức bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, tập trung truyền thông vào nhóm cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm thực phẩm liên quan đến thức ăn đường phố.
Thực hiện nghiêm các nội dung về việc tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố.
Cục An toàn thực phẩm cũng đề nghị các đơn vị theo dõi, cập nhật diễn biến tình hình vụ ngộ độc, thực hiện báo cáo nhanh theo hướng dẫn, chủ động truyền thông thông tin vụ việc và sớm công khai kết quả điều tra ngộ độc thực phẩm, đồng thời báo cáo về Cục An toàn thực phẩm theo quy định.
Trước đó, như Tuổi Trẻ Online đã đưa tin theo thông tin ban đầu, từ sáng 17 đến sáng 18-4, các bệnh nhân nhập viện rải rác, sau đó tăng nhanh vào buổi tối. Hầu hết đều có triệu chứng như nôn ói, đau bụng, tiêu chảy, một số trường hợp sốt cao.
Bệnh nhân nhập viện từ 4 - 85 tuổi, ngụ ở các xã của huyện Diễn Châu (cũ) như Diễn Ngọc, Diễn Hoa, Diễn Thọ, Diễn Bích.
Trong số các bệnh nhân, có khoảng 20 người có ăn bánh mì tại tiệm bánh Q. ở xã Diễn Châu. 5 trường hợp còn lại có ăn các thực phẩm khác như bánh ngọt, xoài, dứa, ốc xào… nên chưa thể khẳng định nguyên nhân cụ thể.
Sức khỏe một số người đã ổn định nhưng vẫn cần tiếp tục giám sát do triệu chứng tiêu hóa còn nặng. Cơ quan chức năng đã kiểm tra cơ sở kinh doanh nghi liên quan, đồng thời lấy mẫu thực phẩm và bệnh phẩm để xét nghiệm, xác định nguyên nhân.
Rau là nguồn cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều hợp chất thực vật có lợi cho sức khỏe. Theo Healthline, người trưởng thành nên ăn khoảng 2-3 khẩu phần rau mỗi ngày, tương đương khoảng 2-3 cốc rau, tùy nhu cầu năng lượng. Nên đa dạng các loại rau để bổ sung đầy đủ vitamin, khoáng chất và hợp chất thực vật có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, nhiều người vẫn có thói quen ăn rất ít hoặc gần như không ăn rau vì không hợp khẩu vị hoặc ưu tiên các thực phẩm khác.
Cắt bỏ hoàn toàn rau khỏi thực đơn không gây ảnh hưởng ngay lập tức, nhưng theo thời gian có thể gây nhiều vấn đề do thiếu chất xơ, vitamin và các chất chống oxy hóa.
Hệ tiêu hóa hoạt động kém
Theo Verywell Health, chất xơ trong rau giúp tăng khối lượng phân, giữ nước và kích thích nhu động ruột, nhờ đó giảm nguy cơ táo bón. Khi không ăn rau, lượng chất xơ nạp vào giảm, khiến phân khô cứng, đầy hơi và khó đại tiện.
Chất xơ còn là nguồn thức ăn của lợi khuẩn đường ruột để tạo ra các hợp chất có lợi, giúp duy trì hàng rào bảo vệ đường tiêu hóa và giảm viêm. Vì vậy, thiếu rau kéo dài có thể làm mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột và ảnh hưởng đến sức khỏe tiêu hóa.
Thiếu vitamin và khoáng chất thiết yếu
Rau cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất quan trọng như vitamin A, vitamin C, vitamin K, folate, kali và magiê. Nếu không ăn rau trong thời gian dài, cơ thể có nguy cơ thiếu các vi chất này.
Vitamin C giúp hình thành collagen, hỗ trợ miễn dịch, thúc đẩy quá trình lành vết thương. Vitamin A cần thiết cho thị lực và sức khỏe làn da. Vitamin K tham gia quá trình đông máu, duy trì xương chắc khỏe, trong khi folate đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo tế bào mới và đặc biệt cần thiết với phụ nữ mang thai.
Mặc dù một số dưỡng chất có thể được bổ sung từ trái cây, ngũ cốc hoặc thực phẩm động vật, nhưng việc loại bỏ hoàn toàn rau vẫn khiến chế độ ăn trở nên mất cân đối và khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng.
Tăng nguy cơ mắc bệnh mạn tính
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, ăn nhiều rau và trái cây giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh tiểu đường type 2 và một số loại ung thư. Kali và magiê trong rau góp phần điều hòa huyết áp, chất xơ hòa tan có thể giảm cholesterol LDL (cholesterol "xấu"), còn các chất chống oxy hóa và hợp chất thực vật giúp giảm viêm, stress oxy hóa và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương.
Ngược lại, chế độ ăn thiếu rau trong thời gian dài khiến cơ thể thiếu hụt nhiều dưỡng chất và hợp chất thực vật có lợi, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.
Khó kiểm soát cân nặng
Theo Eatingwell, rau thường có mật độ năng lượng thấp nhưng lại giàu chất xơ và nước, giúp tạo cảm giác no lâu hơn sau bữa ăn. Nếu không ăn rau, nhiều người có xu hướng thay thế bằng các thực phẩm chứa nhiều tinh bột tinh chế hoặc chất béo, khiến tổng năng lượng nạp vào tăng lên nhưng cảm giác no lại giảm. Điều này có thể làm tăng nguy cơ tăng cân và béo phì nếu kéo dài.
Chất xơ còn góp phần làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu đường, giúp ổn định đường huyết sau ăn, từ đó hỗ trợ kiểm soát cơn đói.
Có thể giảm miễn dịch
Nhiều vitamin và chất chống oxy hóa trong rau đóng vai trò hỗ trợ hoạt động bình thường của hệ miễn dịch. Chẳng hạn, vitamin C giúp tăng cường chức năng của các tế bào miễn dịch, còn vitamin A góp phần duy trì sự toàn vẹn của da và niêm mạc - hàng rào bảo vệ đầu tiên chống lại tác nhân gây bệnh.
Không ăn rau chưa khiến hệ miễn dịch suy yếu ngay, nhưng nếu tình trạng thiếu vitamin và khoáng chất kéo dài, khả năng chống lại bệnh tật và phục hồi sau nhiễm trùng của cơ thể có thể giảm dần.
Lương y Bùi Đắc Sáng, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Hội Đông y Hà Nội, cho biết vải và nhãn là những loại trái cây mọng nước, vị ngọt thanh rất được ưa chuộng trong mùa hè. Dù chứa nhiều dưỡng chất tốt, cả hai loại quả này đều có tính nóng, hàm lượng đường cao. Nếu ăn quá nhiều, chúng có thể làm mất cân bằng cơ thể, gây nhiệt miệng, nổi mụn, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến một số nhóm đối tượng đặc thù.
Quả vải
Trong 100g vải chứa tới 15,2g đường. Hàm lượng đường lớn trong cùi vải vượt quá khả năng hấp thu và chuyển hóa của gan, khiến đường huyết tăng nhanh. Ăn nhiều vải khiến lượng đường trong máu tăng vọt, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa glucose, khiến tình trạng bệnh trầm trọng hơn. Người bệnh có thể gặp các triệu chứng choáng váng, đổ mồ hôi lạnh, buồn nôn hoặc phát sốt.
Hệ tiêu hóa của trẻ còn non nếu ăn nhiều vải dễ gây rối loạn chuyển hóa đường, gây nóng trong dẫn đến khó tiêu, nổi rôm sảy và sốt cao. Trẻ em chỉ nên ăn khoảng 5-6 quả trong một lần.
Vải giàu vitamin C và chất chống oxy hóa mạnh. Đối với người bị bệnh tự miễn (như đa xơ cứng, lupus, viêm khớp dạng thấp), các hoạt chất này có thể kích thích hệ miễn dịch hoạt động quá mức, làm tăng các triệu chứng bệnh.
Ăn nhiều vải gây thừa cân, béo phì, dị ứng, rôm sẩy. Thai phụ vốn có nguy cơ mắc tiểu đường thai kỳ cao. Ăn quá nhiều vải khiến đường huyết tăng vọt, gây khó sinh, tăng nguy cơ xuất huyết và nhiễm trùng sau sinh.
Người trưởng thành có sức khỏe bình thường cũng chỉ nên tiêu thụ vải với lượng hợp lý, khoảng 10-15 quả/lần để phòng tránh tác hại.
Nhãn
Quả nhãn tuy có vị ngọt thanh, mọng nước nhưng lại chứa lượng đường rất lớn. Trong 100g nhãn tươi chứa khoảng 48 kcal cùng nhiều dưỡng chất, nhưng nếu ăn quá nhiều sẽ gây ra cảm giác khó chịu, mụn nhọt và mẩn ngứa.
Do nhãn có tính nhiệt cao, khi ăn vào sẽ gây áp lực cho hệ tim mạch, dẫn đến tăng huyết áp, hoàn toàn không tốt cho tiến trình điều trị bệnh. Thai phụ (đặc biệt là trong 7-8 tháng đầu thai kỳ) cần kiêng ăn nhãn. Tính nóng của loại quả này dễ gây động thai, ra huyết, đau tức bụng dưới, thậm chí tổn thương thai khí dẫn đến sảy thai.
Khi cho trẻ nhỏ ăn nhãn, người lớn cần bóc vỏ, bỏ hạt trước để tránh nguy cơ trẻ nuốt chửng gây hóc, nghẹn đường thở nguy hiểm đến tính mạng.
Nếu là người có cơ địa nóng trong, hay nổi mụn nhọt nhưng vẫn muốn ăn nhãn, bạn cần chú ý bổ sung đủ nước (2-2,5 lít/ngày) và tăng cường ăn nhiều rau xanh (200-300g/ngày) để cân bằng lại cơ thể.