Tại hội nghị công bố quy hoạch tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư sáng 29/6, UBND TP Hà Nội đã trình chiếu bộ phim quy hoạch Thủ đô tới khoảng 1.200 đại biểu, trong đó 580-780 nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Theo định hướng, Hà Nội sẽ được phát triển trở thành thành phố “Thịnh vượng – Hài hòa – Văn hiến – Bản sắc”, là đô thị kết nối toàn cầu dựa trên nền tảng giá trị nghìn năm lịch sử. Thủ đô trong tương lai được định hướng trở thành nơi hội tụ các dòng chảy thương mại, tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, với khả năng kết nối nhanh tới các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.
Mô hình chùm đô thị hướng tâm
Để hiện thực hóa tầm nhìn dài hạn, Hà Nội xác định bốn nhóm đột phá lớn gồm: thể chế, không gian, khoa học công nghệ và thí điểm dự án hồi sinh các dòng sông. Trong đó, đột phá về thể chế tập trung vào việc tăng cường phân quyền, nâng cao vai trò điều phối của Hà Nội trong Vùng Thủ đô, tạo cơ chế phát triển đồng bộ giữa trung tâm và các địa phương lân cận.
Đột phá thứ hai về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng mới. Tái cấu trúc không gian đô thị, phát triển hạ tầng chiến lược được xác định là đột phá thứ ba. Cuối cùng là thí điểm hồi sinh các dòng sông theo mô hình hạ tầng tích hợp đa năng.
Theo định hướng này, Hà Nội sẽ không còn phát triển như một đô thị độc lập mà chuyển sang mô hình chùm đô thị hướng tâm, liên kết vùng, trong đó Thủ đô giữ vai trò trung tâm dẫn dắt, còn các đô thị xung quanh trở thành các cực hỗ trợ, chia sẻ áp lực dân số, hạ tầng và tạo động lực tăng trưởng chung.
Ở phía Bắc, Thái Nguyên được định hướng trở thành trung tâm y tế, giáo dục đào tạo chất lượng cao của vùng Trung du và miền núi phía Bắc, hỗ trợ giảm tải cho Hà Nội trong lĩnh vực đào tạo và khám chữa bệnh.
Phía Đông Bắc, tỉnh Bắc Ninh sẽ hình thành chuỗi đô thị công nghiệp – dịch vụ liên hoàn tiếp giáp trực tiếp với Hà Nội. Khu vực này phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch, logistics, không gian sản xuất và nhà ở cho công nhân, chuyên gia làm việc tại khu vực phía Bắc và Đông Thủ đô.
Ở phía Đông Nam, tỉnh Hưng Yên được quy hoạch phát triển chuỗi đô thị sinh thái, thương mại, dịch vụ cao cấp. Khu vực Văn Giang sẽ kết nối trực tiếp với cực tăng trưởng phía Đông Hà Nội thông qua hành lang sông Bắc Hưng Hải, hình thành không gian sống chất lượng cao, góp phần giảm áp lực dân số cho khu vực nội đô. Trong khi đó, Mỹ Hào và Phố Nối tiếp tục đóng vai trò trung tâm công nghiệp, đô thị dịch vụ dọc quốc lộ 5, hỗ trợ hành lang kinh tế Đông – Tây.
Phía Nam, tỉnh Ninh Bình với đô thị Duy Tiên sẽ tạo thành chuỗi đô thị – công nghiệp liên hoàn với khu vực Phú Xuyên của Hà Nội. Đô thị Phủ Lý được định hướng trở thành trung tâm y tế vùng, giáo dục và dịch vụ cửa ngõ phía Nam, chia sẻ áp lực với hệ thống bệnh viện, trường học tại Thủ đô.
Ở phía Tây, Vĩnh Yên được định hướng phát triển thành trung tâm nghỉ dưỡng, công nghiệp sạch; Phúc Yên trở thành cửa ngõ công nghiệp ôtô, xe máy, kết nối trực tiếp với Mê Linh, Sóc Sơn. Việt Trì tiếp tục giữ vai trò thành phố lễ hội về cội nguồn, kết nối với cực tăng trưởng phía Tây Bắc của Hà Nội thông qua cầu Văn Lang, tạo thành quần thể du lịch văn hóa tâm linh Đền Hùng – Tản Viên Sơn.
Phía Đông, TP Hải Phòng được xác định là đô thị trung chuyển chiến lược, trung tâm dịch vụ hỗ trợ công nghiệp quan trọng của toàn vùng.
Tái cấu trúc đô thị
Hà Nội sẽ thực hiện chiến lược tái cấu trúc đô thị trên nguyên tắc “Cải tạo tích cực – Tái thiết thích ứng”, nâng cao chất lượng môi trường sống, tối ưu hóa giá trị đất đai và bảo tồn bản sắc Thủ đô. Trong đó, Thủ đô dự kiến tái cấu trúc khu vực trung tâm và hệ thống mặt nước, tái thiết khu vực trung tâm gắn kết chặt chẽ với Trục cảnh quan sông Hồng tạo diện mạo đô thị hiện đại và năng động, hồi sinh hệ thống sông nội đô (sông Nhuệ, Tô Lịch, Đáy, Tích…)
Thành phố trong tương lai sẽ bảo tồn di sản và không gian đặc thù bao gồm các khu vực: Phố Cổ (36 phố phường), phố Cũ và các khu vực dân cư đặc trưng lâu đời; khu vực hồ Tây và vùng phụ cận; bảo vệ nghiêm ngặt các vùng di tích, di sản chiến lược như hoàng thành Thăng Long, Cổ Loa, Văn Miếu – Quốc Tử Giám và các không gian văn hóa đặc trưng khác.
Các khu vực vành đai 1, vành đai 2, vành đai 3 sẽ được mở rộng cải tạo và tái cấu trúc, lan tỏa ra các khu vực đô thị và nông thôn trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả, nâng cao chất lượng đô thị và đảm bảo môi trường, sinh kế của người dân, tạo dư địa, động lực phát triển.
Thành phố sẽ tái thiết đô thị gắn với mô hình giao thông (TOD), ưu tiên cải tạo, tái thiết đô thị xung quanh mạng lưới các ga đường sắt đô thị để hình thành các khu phức hợp đa chức năng mật độ cao; tập trung thực hiện tại các tổ hợp nhà ga đầu mối trọng điểm như: ga Ngọc Hồi, ga Hà Nội, Gia Lâm, Yên Thường và các điểm nút giao thông chiến lược khác để tối ưu hóa năng lực vận tải công cộng khối lượng lớn.
Một trong những điểm nổi bật của quy hoạch là chuyển đổi tư duy từ khai thác mặt bằng sang khai thác hiệu quả tài nguyên không gian theo chiều đứng. Mô hình đô thị đa tầng nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, giảm áp lực lên mặt đất, mở rộng không gian công cộng, cây xanh, mặt nước, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Không gian ngầm được phân chia thành nhiều lớp. Tầng nông từ 0 đến sâu 15 m ưu tiên cho các hoạt động công cộng, thương mại dịch vụ, hành lang đi bộ ngầm, bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật. Tầng trung từ độ sâu 15 m đến 30 m dành cho các đầu mối giao thông đường sắt đô thị, kho bãi ngầm, hào kỹ thuật tổng hợp, công trình phòng tránh thiên tai và kho dự trữ chiến lược.
Tầng cận sâu từ 30 m đến 50 m dành cho các tuyến hạ tầng kỹ thuật chính, hệ thống trữ nước ngầm quy mô lớn và các công trình phục vụ an ninh – quốc phòng. Không gian sâu dưới 50 m được bảo vệ như quỹ dự trữ chiến lược, chưa khai thác trong thời kỳ quy hoạch.
Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2045 tỷ lệ xây dựng không gian ngầm tại khu vực đô thị trung tâm đạt từ 20% diện tích đất trở lên, đến năm 2065 đạt khoảng 40%.
Trong tương lai, Hà Nội cũng nghiên cứu phát triển kinh tế tầm thấp với taxi bay eVTOL, thiết bị bay không người lái (drone), cùng hệ thống giám sát đô thị thông minh. Không gian trên 3.000 m được kiểm soát phục vụ hành lang bay quốc tế, nội địa, viễn thông, quan trắc khí hậu và quốc phòng.
Xây dựng gần 1.000 km đường sắt đô thị
Theo quy hoạch, mạng lưới đường sắt đô thị gồm 18 tuyến với tổng chiều dài khoảng 979 km sẽ được nghiên cứu triển khai theo từng giai đoạn. Trong đó giai đoạn 2026-2035, Hà Nội đặt mục tiêu nghiên cứu đầu tư khoảng 500 km đường sắt đô thị, ưu tiên các tuyến trong Nghị quyết 188/2025 và tuyến số 1 Nội Bài – Yên Viên – ga Hà Nội – Ngọc Hồi. Giai đoạn 2036-2045, thành phố tiếp tục hoàn thiện mạng lưới với khoảng 479 km còn lại.
Tổng mạng lưới đường sắt của Thủ đô, bao gồm đường sắt đô thị và đường sắt vùng, dự kiến đạt khoảng 1.200 km.
Hệ thống TOD gắn với đường sắt đô thị sẽ trở thành động lực phát triển mới. Các ga lớn như Ngọc Hồi, ga Hà Nội, Gia Lâm, Yên Thường và các đầu mối giao thông chiến lược sẽ hình thành các khu đô thị mật độ cao, đa chức năng. Quy hoạch dự kiến phát triển khoảng 5-10 TOD cấp quốc gia/vùng, 20-30 TOD cấp thành phố và 120-150 TOD cấp khu vực.
Hà Nội cũng định hình cấu trúc không gian bao gồm 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực đóng vai trò là “xương sống” kỹ thuật, kết nối trực tiếp các cực tăng trưởng với khu vực trung tâm và mạng lưới liên kết Vùng Thủ đô, xác lập hệ sinh thái không gian kinh tế đô thị bền vững.
9 trục động lực phát triển, trong đó Nhật Tân – Nội Bài/Bắc Thăng Long – Nội Bài là trục xương sống phía Bắc, phát triển đô thị cửa ngõ quốc tế, đô thị sân bay, biểu tượng cho sự hiện đại và hội nhập.
Trục Hồ Tây – Cổ Loa – sân bay Gia Bình kết nối trung tâm Hà Nội với vùng Đông Bắc, hình thành các khu đô thị sáng tạo, tài chính, công nghệ cao, liên kết hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
Trục quốc lộ 5/cao tốc Hà Nội – Hải Phòng hướng ra biển, phát triển dịch vụ thương mại, logistics và đô thị thông minh. Trục quốc lộ 1A/cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ tạo hành lang kinh tế phía Nam, tập trung vào công nghiệp hỗ trợ, logistics, vận tải đa phương thức.
Trục quốc lộ 21B – 21C kết hợp vai trò công nghiệp – logistics với trục xanh, văn hóa, kết nối chuỗi di sản từ Hoàng thành Thăng Long đến Hương Tích, Bái Đính. Trục quốc lộ 6/Hà Đông – Xuân Mai phát triển chuỗi đô thị sinh thái phía Tây Nam, kết nối Hà Nội với vùng Tây Bắc.
Đại lộ Thăng Long/Hồ Tây – Ba Vì là trục động lực phía Tây, thúc đẩy khoa học – công nghệ – giáo dục tại Hòa Lạc, đồng thời phát triển không gian văn hóa, cảnh quan xứ Đoài. Quốc lộ 32/Tây Thăng Long là trục kết nối trung tâm với Sơn Tây và vùng thượng lưu sông Hồng, định hướng đô thị du lịch, văn hóa, lịch sử.
Đại lộ cảnh quan sông Hồng là trục chiến lược trung tâm, phát triển không gian xanh, thương mại, dịch vụ, đô thị sáng tạo, trở thành biểu tượng mới của Hà Nội văn minh, hiện đại.
Trở thành một trong 10 thủ đô hạnh phúc nhất thế giới vào năm 2065
Theo lộ trình, giai đoạn 2026-2035, Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân trên 11% mỗi năm, quy mô GRDP đạt khoảng 200 tỷ USD, dân số khoảng 14-15 triệu. Kinh tế số dự kiến chiếm 50% GRDP, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 10%.
Đến năm 2045, GRDP Hà Nội được kỳ vọng đạt khoảng 640 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người tối thiểu 42.000 USD, dân số khoảng 15-16 triệu. Chỉ số hạnh phúc 9,5/10.
Đến giai đoạn 2046-2065, Thủ đô hướng tới quy mô kinh tế khoảng 1.920 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người tối thiểu 95.000 USD, dân số khoảng 17-19 triệu.
Hà Nội đặt mục tiêu trở thành một trong 10 thủ đô hạnh phúc nhất thế giới, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,92; tuổi thọ trung bình 80. Thành phố phát triển theo mô hình đô thị nén – xanh, trong đó quỹ đất còn lại được bảo vệ để duy trì hệ thống vành đai xanh, hành lang xanh, nêm xanh và tỷ lệ che phủ rừng trên 6,2%.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô vì vậy không chỉ là kế hoạch mở rộng đô thị mà là chiến lược tái cấu trúc toàn diện Hà Nội trong 100 năm tới, hướng tới một đô thị hiện đại nhưng vẫn giữ được chiều sâu văn hóa, lịch sử và bản sắc riêng.
Công an tỉnh Phú Thọ vừa có thông tin chính thức về vụ cháy xảy ra tại Công ty TNHH SYC Green World, thuộc khu công nghiệp Bình Xuyên 1, xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ.
Khoảng 22 giờ ngày 26.5, lực lượng chức năng nhận được tin báo cháy tại nhà xưởng số 2 của Công ty SYC Green World.
Công an tỉnh Phú Thọ đã huy động 15 xe chữa cháy, 2 xe xitec, 2 xe thang, 2 máy múc, nhiều xe nâng hàng và 95 cán bộ, chiến sĩ tham gia chữa cháy. Đồng thời, đề nghị Công an TP.Hà Nội chi viện 3 xe chữa cháy; huy động thêm 3 xe chữa cháy chuyên ngành tại các khu công nghiệp và 1 xe máy múc khẩn trương đến hiện trường.
Lực lượng cảnh sát PCCC chia thành nhiều mũi, tập trung khống chế đám cháy, ngăn chặn hiệu quả nguy cơ cháy lan. Đến 0 giờ 30 phút ngày 27.5, đám cháy cơ bản được kiểm soát.
7 giờ 30 sáng nay, đám cháy được khống chế. Rất nhiều tài sản được đưa ra ngoài, không gây thiệt hại về người.
Đây cũng là vụ cháy thứ hai xảy ra trong cùng ngày 26.5 tại Phú Thọ. Lúc 17 giờ49, công an tỉnh nhận tin báo cháy xảy ra tại Công ty Hàn Việt Halocom, địa chỉ lô số 4, khu công nghiệp Thuỵ Vân, P.Nông Trang.
Tiếp nhận thông tin, cảnh sát PCCC điều động 6 xe chữa cháy cùng trên 50 cán bộ, chiến sĩ và các trang thiết bị chữa cháy hiện đại đến ngay hiện trường.
Giữa thời tiết nắng nóng gay gắt, lực lượng đã khẩn trương tiếp cận, triển khai các mũi chữa cháy, phun nước làm mát, khoanh vùng chống cháy lan sang khu vực xung quanh. Đám cháy do đó được khống chế hoàn toàn.
Công an tỉnh Phú Thọ khuyến cáo thời tiết nắng nóng gay gắt kéo dài làm gia tăng nguy cơ cháy, nổ tại hộ gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh và khu công nghiệp.
Người dân cần thường xuyên kiểm tra hệ thống điện, thiết bị tiêu thụ điện công suất lớn; không câu mắc điện tùy tiện, không sạc thiết bị điện qua đêm hoặc khi không có người trông coi.
Đồng thời, không để các vật liệu dễ cháy gần nguồn nhiệt, khu vực thờ cúng, bếp gas, thiết bị điện; chủ động trang bị bình chữa cháy, dụng cụ phá dỡ và học kỹ năng xử lý khi xảy ra sự cố cháy, nổ.
Các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp cần tăng cường kiểm tra an toàn PCCC, bố trí lực lượng trực, bảo đảm hệ thống báo cháy, chữa cháy hoạt động hiệu quả; đồng thời nâng cao ý thức, kỹ năng thoát nạn cho công nhân, người lao động.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 161/2026 quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Theo đó, mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1.7 tới (tăng 8%). Mức lương này là căn cứ để tính tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Công thức tính như sau: Lương = lương cơ sở x hệ số lương (chưa bao gồm các khoản phụ cấp).
Hệ số lương tương ứng với từng bậc, ngạch công chức được ban hành kèm theo Nghị định 204/2004 của Chính phủ.
Theo đó, lương của công chức giữ chức danh chuyên gia cao cấp là cao nhất, đạt mức 25,3 triệu đồng/tháng từ 1.7. Bên cạnh đó, mức lương của cán bộ, công chức còn lại được chia theo ngạch: A3, A2, A1, A0, B và C. Trong đó, công chức loại C nhóm 3 có mức lương thấp nhất là 3,415 triệu đồng/tháng.
Theo bảng lương mới, nhóm chuyên gia cao cấp tiếp tục là đối tượng hưởng mức lương cao nhất trong hệ thống công chức.
Nhóm chuyên gia cao cấp có hệ số lương từ 8,8 đến 10. Với mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng/tháng, mức lương cao nhất đạt khoảng 25,3 triệu đồng/tháng.
Cụ thể, bậc 1 hệ số 8,8, mức lương tăng từ 20,592 triệu đồng lên 22,264 triệu đồng/tháng. Bậc 2 hệ số 9,4, tăng lên 23,782 triệu đồng/tháng. Bậc 3 hệ số 10: đạt 25,3 triệu đồng/tháng. So với trước ngày 1.7, mỗi bậc tăng thêm khoảng 1,7 - 1,9 triệu đồng/tháng.
Trong khi đó, công chức loại A3 tăng cao nhất hơn 20 triệu đồng. Đối với công chức loại A3 nhóm A3.1, mức lương dao động từ 15,686 triệu đồng đến 20,24 triệu đồng/tháng. Đây là nhóm công chức có trình độ chuyên môn cao, thường đảm nhiệm vị trí chuyên viên cao cấp hoặc tương đương.
Cụ thể, bậc 1 hệ số 6,2 hưởng 15,686 triệu đồng/tháng. Bậc 6 hệ số 8, hưởng 20,24 triệu đồng/tháng
Công chức loại A3 nhóm A3.2 có mức lương từ 14,547 triệu đồng đến 19,101 triệu đồng/tháng. Mức tăng tuyệt đối của hai nhóm này dao động khoảng 1,1 - 1,5 triệu đồng/tháng so với trước.
Công chức loại A2 tăng thêm từ 700.000 - 1,2 triệu đồng/tháng
Với công chức loại A2 nhóm A2.1, mức lương mới từ ngày 1.7 dao động từ 11,132 triệu đồng đến 17,153 triệu đồng/tháng. Ở bậc cao nhất, hệ số 6,78 tương ứng mức lương 17,153 triệu đồng/tháng. Đây là nhóm phổ biến với các chức danh chuyên viên chính tại nhiều cơ quan nhà nước.
Trong khi đó, công chức loại A2 nhóm A2.2 có mức lương từ 10,12 triệu đồng đến 16,141 triệu đồng/tháng. So với trước điều chỉnh, mỗi công chức nhóm A2 tăng thêm khoảng 700.000 đồng đến hơn 1,2 triệu đồng/tháng.
Công chức loại A1 phổ biến hưởng gần 12,6 triệu đồng ở bậc cao nhất. Nhóm A1 là lực lượng đông đảo nhất trong hệ thống công chức hiện nay, bao gồm các ngạch chuyên viên và tương đương.
Bảng lương công chức loại A1 và A0
Theo bảng lương mới, bậc 1 hệ số 2,34 hưởng 5,920 triệu đồng/tháng. Bậc 9 hệ số 4,98, hưởng 12,599 triệu đồng/tháng. Như vậy, đa số công chức ở ngạch chuyên viên sẽ có mức lương từ khoảng 6 - 12,6 triệu đồng/tháng, chưa bao gồm phụ cấp và các khoản bổ sung khác.
Với công chức loại A0, mức lương mới dao động từ 5,313 triệu đồng đến 12,3 triệu đồng/tháng. Cụ thể, bậc 1 hệ số 2,1: hưởng 5,313 triệu đồng/tháng. Bậc 10 hệ số 4,89: hưởng 12,371 triệu đồng/tháng. Dù là nhóm có mức lương thấp hơn các ngạch còn lại, nhưng việc tăng lương cơ sở giúp thu nhập cải thiện rõ rệt, đặc biệt với công chức trẻ mới vào nghề.
Công chức loại B, mức lương mới cũng có sự cải thiện, dao động từ 4,7 triệu đồng/tháng đến 10,271 triệu đồng 10,2 triệu đồng/tháng.
Trong đó, lương bậc 1, hệ số 1,86 là 4,7 triệu đồng/tháng. Lương bậc 12, hệ số 4,06 là 10,271 triệu đồng/tháng.
Công chức loại C, có mức lương từ 3,4 triệu đồng/tháng, cao nhất là 9,1 triệu đồng/tháng.
Ngoài lương, cán bộ, công chức cũng được hưởng thêm các phụ cấp. Các phụ cấp này cũng sẽ được điều chỉnh khi tăng lương cơ sở.
Hiện một số nhóm đang hưởng lương theo mức lương cơ sở và hệ số lương như: cán bộ, công chức từ T.Ư đến cấp xã; viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.
Cạnh đó, còn có nhóm người làm việc trong tổ chức cơ yếu; hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân; người hoạt động không chuyên trách ở cấp cơ sở...
Thủ tướng vừa ký ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Quy hoạch xác định rõ đến năm 2030, Quảng Ninh trở thành trung tâm dịch vụ du lịch quốc tế, cửa ngõ thương mại quốc gia, dịch vụ chất lượng cao và sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Đến năm 2040, Quảng Ninh sẽ trở thành trung tâm kinh tế biển quốc gia, đô thị biển văn minh, hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ các mô hình đổi mới sáng tạo trong phát triển kinh tế, xã hội và quản trị.
Đến năm 2050, Quảng Ninh được định hướng trở thành phố gắn với di sản mang tầm quốc tế, trung tâm kinh tế biển quốc gia và khu vực Đông Nam Á, vùng đô thị mang tầm khu vực và quốc tế, là một trong những đầu tàu kinh tế quan trọng của quốc gia, là hình mẫu về quản trị phát triển đô thị xanh, hiện đại, thông minh, bền vững có bản sắc, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo dự báo phát triển, quy mô dân số Quảng Ninh năm 2030 đạt khoảng 2,23-2,32 triệu; năm 2040 đạt 2,98-3,10 triệu và chạm mốc tối đa 3,8 triệu vào năm 2050. Trong số này, dân số thường trú chiếm khoảng 2,8 triệu, phần còn lại là quy mô dân số quy đổi từ lượng khách du lịch và lao động vãng lai.
Trong đó, đô thị hạt nhân Hạ Long sẽ đạt quy mô 860.000-880.000 người vào năm 2050, giữ vai trò thúc đẩy du lịch quốc tế, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Khu kinh tế ven biển Quảng Yên quy mô 760.000-780.000 người, định hướng trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ logistics hiện đại của cả vùng.
Khu kinh tế Vân Đồn quy mô dân số 500.000-560.000, phát triển theo mô hình đặc khu kinh tế, có casino, logistics hàng không - hàng hải quốc tế và dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng cao cấp.
Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái đạt quy mô dân số 210.000-220.000, giữ vị trí đầu mối giao thương quốc tế, phát triển thương mại biên giới, logistics và du lịch cửa khẩu với thị trường Trung Quốc.
Các đô thị công nghiệp, dịch vụ lớn như Cẩm Phả (290.000-300.000 người) và Uông Bí (230.000-240.000 người) đóng vai trò chia sẻ áp lực mật độ dân cư và chuyển dịch mô hình từ công nghiệp khai khoáng sang dịch vụ, công nghiệp sạch.
Quy hoạch xác định đất xây dựng đô thị sẽ tăng mạnh, cụ thể diện tích đất xây dựng từ mức 80.000-90.000 ha vào năm 2030 sẽ tăng lên 110.000-115.000 ha vào năm 2040 và đạt khoảng 125.000-135.000 ha vào giữa thế kỷ.
Để không gian không bị quá tải trước áp lực dân số, quy hoạch tổ chức lãnh thổ theo mô hình chuỗi đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng, đa lớp. Trong đó có ba hành lang phát triển là đô thị ven biển, biển đảo, sinh thái đồi núi. Bốn phân vùng kinh tế - xã hội: phía Tây gồm Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Đông Triều, Uông Bí; phía Đông gồm Móng Cái, Quảng Hà, Đầm Hà, Tiên Yên; đô thị biển đảo gồm Vân Đồn, Cô Tô, vịnh Hạ Long; vùng đồi núi phía Bắc. 5 trung tâm động lực gồm Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Quảng Yên và trung tâm di sản Yên Tử - vịnh Hạ Long.
Bộ khung hạ tầng giao thông được quy hoạch định hình theo mô hình TOD (phát triển đô thị gắn kết với giao thông công cộng). Chuỗi đô thị tập trung dọc hành lang ven biển kết nối trực tiếp với các trục xương sống là cao tốc Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái, đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái và đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Hạ Long. Các trung tâm đô thị phức hợp sẽ xây dựng quanh các đầu mối giao thông đường sắt lớn.
Riêng tại đô thị trung tâm Hạ Long không gian phát triển đô thị dịch chuyển theo hướng đa cực lên phía Bắc, lấy vịnh Cửa Lục làm trung tâm kết nối. Khu trung tâm hành chính mới cấp tỉnh cùng các công trình văn hóa, thể thao, dịch vụ lớn cũng được bố trí tại khu vực phía bắc vịnh này.
Đối với diện tích khai trường khai thác than sau khi hoàn nguyên, quy hoạch yêu cầu ưu tiên phát triển mảng xanh, công viên đô thị, sân golf và các công trình dịch vụ mật độ xây dựng thấp. Một phần diện tích mỏ cũ được giữ lại làm bảo tàng ngành than phục vụ du lịch.
Quy hoạch cũng định hướng cho Quảng Ninh siết chặt các giới hạn sinh thái nhằm phát triển bền vững, áp đặt chế độ kiểm soát đối với hoạt động lấn biển, khai thác khoáng sản và phát triển công nghiệp tại khu vực nhạy cảm.
Vùng lõi di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, các khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, rừng quốc gia Yên Tử và khu bảo tồn biển Cô Tô - Đảo Trần được đặt trong ranh giới bảo tồn nghiêm ngặt, hạn chế phát triển tối đa để tránh xung đột với quá trình đô thị hóa. Quy hoạch cũng yêu cầu xây dựng hạ tầng nông thôn có tiêu chuẩn và chất lượng sống tương đương khu vực đô thị nhằm giảm áp lực di dân tự do vào các lõi trung tâm.