Trong một thông báo qua Telegram, quyền Tổng thống Venezuela Delcy Rodriguez cho biết, bé Klieber Mora, 3 tuổi, đã được các nhân viên cứu hộ đến từ Jordan đưa ra khỏi tòa nhà Los Corales Garden 1 ở bang La Guaira, sau khi bị mắc kẹt suốt 6 ngày dưới đống đổ nát.
Đây là người sống sót duy nhất được ghi nhận trong ngày thứ 6 của chiến dịch cứu hộ sau động đất kép ở Venezuela.
Theo các nhà chức trách và các đội cứu hộ, Venezuela đã bị rung chuyển bởi hai trận động đất có cường độ lớn 7,2 và 7,5 cách nhau chưa đầy một phút vào ngày 24 tháng 6, làm sập nhiều tòa nhà và khiến hàng nghìn người bị mắc kẹt dưới các khối bê tông vụn.
Thông báo cho biết thêm, bé Moran sau đó đã được đưa đi điều trị y tế.
Trong khi đó, Chủ tịch Quốc hội Venezuela Jorge Rodriguez cho hay, bé Moran mới 2 tuổi. Ông nói: “Chúng ta phải giữ vững hy vọng tiếp tục tìm thấy những người còn sống dưới đống đổ nát. Vào rạng sáng nay, một cậu bé hai tuổi đã được giải cứu và hiện đang được chăm sóc tại một trung tâm y tế ở Caracas”.
Chủ tịch Quốc hội Jorge Rodriguez nói thêm, hơn 6.000 người đã được giải cứu và hàng chục nghìn gia đình đã nhận được viện trợ sau trận động đất.
“6.461 người đã được giải cứu và 80.870 gia đình đã được giúp đỡ”, ông Rodriguez nói. Ông lưu ý thêm rằng có 28.380 nạn nhân của trận động đất đang được chăm sóc y tế tại các bệnh viện và các trại dã chiến.
Ông cho biết thêm, hơn 26.000 quân nhân và 15.467 tình nguyện viên, cùng với 3.660 nhân viên cứu hộ từ các quốc gia đang tham gia hỗ trợ khắc phục hậu quả của thảm họa.
Theo dữ liệu chính thức mới nhất, đã có 1.943 người thiệt mạng và 10.571 người bị thương tại Venezuela do động đất kép.
Người phát ngôn Liên hợp quốc Stephane Dujarric cho biết một chuyến hàng từ UNICEF mang theo 47 tấn vật tư nhân đạo đã đến Venezuela vào ngày 30/6, số trang thiết bị này sẽ giúp hỗ trợ trẻ em và các gia đình đang gặp khó khăn.
Ông Dujarric nói thêm, chuyến hàng bao gồm các bộ dụng cụ y tế khẩn cấp để chăm sóc y tế cấp bách, trong đó có vật tư cho các ca sinh nở an toàn, chăm sóc trẻ sơ sinh, cũng như phòng ngừa và điều trị bệnh tật.
Tin Gốc: Dân Trí

Thủ tướng Anh Keir Starmer ngày 22/6 tuyên bố từ chức, chưa đầy hai năm sau khi đắc cử với số phiếu áp đảo để đưa Công đảng trở lại nắm quyền. Điều này đồng nghĩa Anh sắp có thủ tướng thứ 7 trong vòng 10 năm, tốc độ thay lãnh đạo hiếm thấy đối với một quốc gia được xem là biểu tượng của sự ổn định chính trị.
Sóng gió bắt đầu bao phủ chính trường Anh từ tháng 6/2016, khi nước này tổ chức trưng cầu dân ý với kết quả 52% cử tri chọn rời Liên minh châu Âu, còn gọi là Brexit. Thủ tướng David Cameron của đảng Bảo thủ từ chức không lâu sau cuộc bỏ phiếu, mở đường để bà Theresa May lên kế nhiệm với cam kết thuyết phục các nghị sĩ ủng hộ thỏa thuận Brexit.
Nhưng đến tháng 5/2019, bà May tuyên bố rời nhiệm sở sau nhiều nỗ lực bất thành nhằm đưa Brexit vượt qua ải quốc hội. "Tôi vẫn luôn hối tiếc sâu sắc khi không thể đưa đất nước đạt thỏa thuận", bà nói khi đó.
Ông Boris Johnson nhậm chức thủ tướng tiếp theo vào tháng 7/2019, đưa ra cam kết đoạn tuyệt với EU và kiên quyết thực hiện Brexit vào hạn chót 31/10/2019 mà không có thêm bất cứ sự trì hoãn nào.
Ông Johnson đã phần nào thực hiện được cam kết, đưa Anh chính thức rời EU vào ngày 31/1/2020. Tuy nhiên, tháng 7/2022, thủ tướng Johnson thông báo từ chức sau khi đối mặt sức ép ngày càng tăng từ các thành viên nội các và nghị sĩ trong đảng Bảo thủ cầm quyền liên quan đến loạt bê bối.
Bà Liz Truss lên nắm quyền ngày 7/9/2022 nhờ cam kết hành động nhanh chóng để ứng phó khủng hoảng chi phí, liên quan đến tình trạng giá năng lượng gia tăng do chiến sự Ukraine.
Tuy nhiên, loạt sai lầm trong điều hành liên quan đến kế hoạch cắt giảm thuế khiến thị trường tài chính hỗn loạn đã khiến bà phải từ chức sau 49 ngày, đánh dấu nhiệm kỳ thủ tướng ngắn nhất trong lịch sử Anh.
Ông Rishi Sunak lên kế nhiệm với nhiệm vụ vực dậy nền kinh tế Anh vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 cùng xung đột Ukraine. Sunak đưa ra những cam kết cắt giảm thuế và áp dụng chính sách nhập cư cứng rắn nhưng không khắc phục được tình trạng trì trệ về kinh tế cũng như những chia rẽ vì những mâu thuẫn và bê bối nội bộ, khiến ông thất bại trước ông Starmer trong cuộc bầu cử năm 2024.
Chiến thắng của ông Starmer đưa Công đảng trở lại nắm quyền sau hơn một thập kỷ. Nhưng một trong những động thái đầu tiên của họ khi lên nắm quyền là tăng thuế, bất chấp lời hứa trước bầu cử rằng họ sẽ không làm vậy. Điều này càng gây tổn hại thêm cho nền kinh tế Anh và khiến Công đảng mất hơn 1.200 ghế trong cuộc bầu cử địa phương hồi tháng 5.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đi của mỗi người không giống nhau. Song theo nhiều chuyên gia, 6 thủ tướng Anh trong 10 năm qua đều có điểm chung là không thể thuyết phục cử tri rằng cuộc sống của người dân đang thực sự tốt lên.
"Mọi thứ sau cùng đều quay trở lại vấn đề kinh tế", Raoul Ruparel, kinh tế trưởng của Boston Consulting Group tại Anh, nhận định. Theo ông, chính cảm giác "mọi thứ dường như không được cải thiện" là lời giải thích cho vòng xoáy "trung bình thay thủ tướng 14 tháng một lần" ở Anh trong thập kỷ qua.
Theo Capital Economics, GDP của Anh chỉ tăng trung bình khoảng 1% mỗi năm kể từ năm 2016. Đây là mức tăng trưởng tương đối thấp đối với một nền kinh tế phát triển. Quan trọng hơn, GDP bình quân đầu người, thước đo phản ánh sát hơn mức sống của người dân, cũng chỉ cải thiện rất ít trong cùng giai đoạn.
Đối với nhiều cử tri, các con số thống kê không quan trọng bằng trải nghiệm thực tế trong cuộc sống hằng ngày. Điều họ quan tâm là thu nhập có theo kịp chi phí sinh hoạt hay không, việc mua nhà có dễ dàng hơn hay không, hay các dịch vụ công có được cải thiện hay không.
Những thay đổi tích cực mà người dân có thể cảm nhận được vẫn diễn ra khá chậm. Số liệu cho thấy thu nhập trung bình hàng tuần sau khi điều chỉnh lạm phát chỉ tăng chưa tới 1% kể từ khi Công đảng lên nắm quyền năm 2024. Trong khi đó, gánh nặng thuế vẫn ở mức cao nhất trong nhiều thập kỷ.
Người dân Anh cũng tiếp tục phải đối mặt với chi phí nhà ở cao, áp lực năng lượng và những tác động kéo dài từ giai đoạn lạm phát tăng mạnh trong các năm gần đây. Điều này khiến nhiều người không cảm nhận được sự cải thiện đáng kể về mức sống dù nền kinh tế vẫn tăng trưởng.
"Các cuộc thăm dò liên tục cho thấy áp lực chi phí sinh hoạt là mối quan tâm lớn nhất của người dân Anh, vì vậy đây chắc chắn là một trong những vấn đề được nhiều cử tri cân nhắc hàng đầu", Ben Harrison, giám đốc tổ chức nghiên cứu Work Foundation, Đại học Lancaster, nói.
Tăng trưởng chậm còn hạn chế khả năng ứng phó của chính phủ. Những cam kết về nâng cấp hạ tầng, cải thiện hệ thống y tế, xây dựng thêm nhà ở hoặc giảm thuế đều cần nguồn lực tài chính đáng kể. Khi nền kinh tế không tạo ra đủ tăng trưởng, các thủ tướng Anh cũng có ít dư địa hơn để thực hiện cam kết đã đưa ra.
Ông Ruparel cho rằng đây là lý do kinh tế luôn đóng vai trò trung tâm trong các cuộc tranh luận chính trị ở Anh.
"Nếu nền kinh tế tăng trưởng, chính phủ sẽ linh hoạt hơn để đầu tư và chi tiêu công, hoặc giảm thuế. Tăng trưởng là nền tảng của mọi thứ", ông Ruparel nói.
Khi mức sống không được cải thiện rõ rệt, những lời hứa về thay đổi của các chính phủ ngày càng khó thuyết phục cử tri. Điều này thể hiện rõ trong cuộc tổng tuyển cử năm 2024. Sau 14 năm cầm quyền của đảng Bảo thủ, cử tri trao cơ hội cho Công đảng với kỳ vọng về một sự thay đổi rõ rệt.
Tuy nhiên, chính trường Anh hiện đối mặt nghịch lý là nước này cần nhiều năm để giải quyết những vấn đề gai góc, trong khi các thủ tướng ngày càng có ít thời gian chứng minh hiệu suất làm việc của mình.
Từ tình trạng thiếu nhà ở, năng suất lao động thấp cho tới cơ sở hạ tầng xuống cấp, hầu hết thách thức của nền kinh tế Anh đều là vấn đề tích tụ qua nhiều thập kỷ. Đây chính là những vấn đề lớn nhất ông Starmer đối mặt sau khi lên nắm quyền hồi tháng 7/2024.
Khó khăn càng lớn bởi Công đảng đã tự giới hạn dư địa chính sách từ trước khi lên nắm quyền. Trong chiến dịch tranh cử, ông Starmer cam kết không tăng thuế nhằm tránh bị gắn với hình ảnh "đảng tăng thuế". Ngân sách gặp áp lực buộc London phải chọn các biện pháp gây tranh cãi như cắt giảm trợ cấp và vấp phải phản ứng mạnh từ dư luận cũng như nội bộ đảng.
"Chính phủ có một số ý tưởng tốt và đã triển khai những chính sách có thể mang lại động lực lâu dài cho nền kinh tế Anh. Tuy nhiên, sau một loạt bước đi thiếu hiệu quả và những vấn đề trong quá trình thực hiện, tác động tích cực nhiều khả năng sẽ không đáng kể", Ruth Gregory, phó kinh tế trưởng phụ trách Anh của Capital Economics, nhận định.
Sự bất mãn dần thể hiện rõ qua các cuộc khảo sát dư luận. Sau giai đoạn ngắn dẫn trước trong các cuộc thăm dò, tỷ lệ ủng hộ của cử tri với Công đảng liên tục giảm. Cây viết Christian Edwards của CNN mô tả ông Starmer là thủ tướng Anh rời nhiệm sở với tín nhiệm từ người dân thấp kỷ lục.
Triển vọng kinh tế Anh được dự báo vẫn ảm đạm. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hồi tháng 4 ước tính Anh chỉ tăng trưởng 0,8% trong năm 2026. Con số này cho thấy người kế nhiệm ông Starmer sẽ tiếp tục đối mặt với những khó khăn tương tự các thủ tướng trước đó.
Theo Rain Newton Smith, giám đốc điều hành Liên đoàn Công nghiệp Anh, điều nước này cần nhất hiện nay là sự ổn định.
"Thủ tướng tiếp theo phải nhanh chóng trấn an doanh nghiệp và nhà đầu tư, bảo vệ mức sống của người dân, đồng thời đưa ra một kế hoạch tăng trưởng đáng tin cậy và có thể thực hiện được", ông Smith nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Xung đột tại vùng Vịnh đã khiến gần một tỷ thùng dầu kẹt lại do eo biển Hormuz bị phong tỏa, làm gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung năng lượng toàn cầu. Các nước châu Á và châu Âu phải gấp rút tìm nguồn thay thế cho lượng dầu bị đình trệ, khiến nhu cầu thị trường thế giới đối với dầu thô Mỹ tăng vọt.
Trong khi một số quốc gia đã bắt đầu hạn chế xuất khẩu xăng dầu từ nhiều tuần trước, Mỹ vẫn đang xuất khẩu nhiều dầu hơn lượng nhập khẩu. Theo dữ liệu được Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) công bố hôm 6/5, lượng xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ của Mỹ đã tăng vọt lên mức cao chưa từng thấy, đạt 8,2 triệu thùng mỗi ngày trong tuần qua.
Mức xuất khẩu kỷ lục này được thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ đối với dầu diesel của Mỹ, với lượng xuất khẩu loại nhiên liệu này cũng chạm mốc cao nhất từ trước đến nay. Mỹ hiện đã trở thành nhà cung cấp nhiên liệu quan trọng cho thị trường toàn cầu, bao gồm các mặt hàng chiến lược như dầu diesel, nhiên liệu phản lực và xăng.
Dữ liệu liên bang công bố tuần qua cho thấy lượng tồn kho năng lượng của Mỹ, vốn được xem như "tấm đệm giảm sốc" cho thị trường xăng dầu ở nước này, tiếp tục giảm nhanh.
Trong khi xuất khẩu hàng triệu thùng xăng dầu mỗi ngày, Mỹ lại chứng kiến một nghịch lý khi giá xăng trong nước không ngừng tăng từ cuối tháng 3. Dữ liệu của GasBuddy cho thấy giá xăng trung bình tại Mỹ đã vượt 4,5 USD một gallon (1,2 USD một lít), cao nhất kể từ tháng 7/2022. California hiện là bang có giá xăng trung bình cao nhất cả nước, với 6,14 USD một gallon.
Tình trạng này khiến ngày càng nhiều người cho rằng chính quyền Tổng thống Donald Trump nên áp lệnh hạn chế xuất khẩu xăng dầu để hạ nhiệt giá xăng trong nước. Hạ nghị sĩ Dân chủ Ro Khanna gần đây tái đề xuất dự luật cấm xuất khẩu dầu trong giai đoạn giá nhiên liệu tăng cao.
"Tại sao chúng ta lại xuất khẩu dầu ra nước ngoài trong khi người dân Mỹ dốc sạch túi ở cây xăng? Nguồn cung dầu nên phục vụ người Mỹ trước. Điều đó sẽ giúp hạ giá nhiên liệu tại Mỹ", ông nói với Fox Business.
Một số chuyên gia trong ngành năng lượng thừa nhận việc hạn chế xuất khẩu có thể giúp kiềm chế giá nhiên liệu trong ngắn hạn. Rapidan Energy Group, hãng phân tích đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tại Mỹ, đánh giá có 35% khả năng giá năng lượng tăng mạnh đến mức Nhà Trắng phải áp dụng biện pháp kiểm soát xuất khẩu xăng dầu.
"Đây là ý tưởng tồi, nhưng sẽ rất khó cưỡng lại nếu giá xăng tiếp tục tăng", Bob McNally, nhà sáng lập Rapidan Energy Group và từng là cố vấn năng lượng cho cựu tổng thống George W. Bush, nhận định.
Cuộc khủng hoảng nguồn cung năng lượng hiện nay, được nhiều người xem là cú sốc nghiêm trọng nhất lịch sử, cũng khiến một số chuyên gia Mỹ từng phản đối kiểm soát xuất khẩu xăng dầu phải xem xét lại quan điểm này.
McNally không loại trừ khả năng chính quyền Tổng thống Trump sẽ áp đặt một số hình thức hạn chế xuất khẩu, nếu khủng hoảng năng lượng tiếp tục xấu đi như dự đoán của nhiều công ty.
Vikas Dwivedi, chiến lược gia năng lượng toàn cầu tại hãng Macquarie Group, cho rằng lệnh cấm tạm thời xuất khẩu dầu và các sản phẩm dầu mỏ có thể giúp giá năng lượng tại Mỹ giảm mạnh, qua đó giảm áp lực lên người tiêu dùng trước cuộc bầu cử quốc hội giữa kỳ vào tháng 11.
"Tôi không thể tin mình lại nói điều này. Trong suốt sự nghiệp, tôi đã luôn cho rằng lệnh cấm xuất khẩu sẽ không hiệu quả và không nên thực hiện", Dwivedi nói.
Chính quyền Tổng thống Trump đã nhiều lần nói hạn chế xuất khẩu xăng dầu không nằm trong các lựa chọn đang được xem xét, phần lớn vì phương án này quá nhiều rủi ro.
Giới chuyên gia cảnh báo rằng biện pháp kiểm soát xuất khẩu về lâu dài có thể gây tổn hại nặng nề cho ngành lọc dầu Mỹ, làm suy giảm uy tín của Washington với vai trò nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy, đồng thời đẩy các đồng minh vào nguy cơ suy thoái.
Một phần nguyên nhân nằm ở chuỗi cung ứng năng lượng phức tạp của Mỹ, vốn phụ thuộc đồng thời vào cả nhập khẩu lẫn xuất khẩu. Matt Smith, chuyên gia phân tích dầu mỏ tại Kpler, nhấn mạnh rằng dù Mỹ là nước xuất khẩu ròng dầu mỏ, nước này vẫn nhập khoảng 6,5 triệu thùng dầu thô mỗi ngày.
Các nhà máy lọc dầu lâu đời của Mỹ hiện đã sử dụng tối đa lượng dầu nhẹ, ít lưu huỳnh được khai thác từ lưu vực Permian ở bang Texas và New Mexico. Để sản xuất xăng và dầu diesel, họ thường phải pha trộn loại dầu đá phiến này với dầu nặng hơn nhập từ Canada, Trung Đông và Mỹ Latin. Phần dầu thô dư thừa của Mỹ sau đó được xuất khẩu ra nước ngoài, đồng nghĩa Mỹ không thể tự tách khỏi hệ thống năng lượng toàn cầu.
McNally cho rằng bất kỳ đợt giảm giá xăng nào ở Mỹ nhờ lệnh hạn chế xuất khẩu cũng chỉ mang tính tạm thời. Ông cảnh báo lệnh cấm xuất khẩu sẽ buộc các nhà máy lọc dầu Mỹ chỉ sử dụng dầu nội địa, điều có thể làm giảm lợi nhuận của họ, "từ đó dẫn đến sản lượng xăng ít hơn và cuối cùng là giá tăng trở lại".
Robert Auers, phụ trách mảng nhiên liệu tinh chế tại RBN Energy, cũng nhận định lệnh cấm xuất khẩu xăng dầu có thể kéo giá năng lượng giảm trong ngắn hạn, nhưng cái giá dài hạn sẽ rất lớn. Ông động thái này sẽ tạo ra "một núi hỗn loạn", buộc các nhà máy lọc dầu phải cắt giảm sản lượng và thậm chí khiến một số cơ sở đóng cửa vĩnh viễn.
"Bạn có thể kéo giá xuống rất mạnh ngay tuần tới, nhưng tác động đó sẽ giảm dần theo thời gian. Một năm sau, giá có thể chẳng khác gì hiện nay", Auers nói.
Giám đốc điều hành Chevron Mike Wirth tuần này cảnh báo các biện pháp như cấm xuất khẩu hay áp trần giá sẽ không mang lại hiệu quả. Phát biểu tại hội nghị toàn cầu của Viện Milken, ông Wirth cho rằng những chính sách này có thể xuất phát từ ý định tốt, nhưng lịch sử cho thấy chúng thường tạo ra những hệ quả ngoài dự kiến khiến tình hình tệ hơn.
"Một chính sách như vậy sẽ rất tệ và ngành công nghiệp dầu mỏ sẽ phản đối quyết liệt", một nguồn tin trong lĩnh vực dầu khí nói với CNN.
Việc hạn chế nguồn cung xăng dầu Mỹ cho phần còn lại của thế giới còn có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho kinh tế toàn cầu và cuối cùng tác động ngược trở lại chính nước Mỹ.
Dwivedi dự đoán giá dầu, xăng, nhiên liệu máy bay và các sản phẩm năng lượng khác trên thị trường thế giới sẽ tăng "điên cuồng" nếu Mỹ hạn chế xuất khẩu. "Bạn có thể đẩy cả thế giới vào nguy cơ suy thoái đột ngột. Và Mỹ không thể miễn nhiễm trước điều đó. Tác động cuối cùng sẽ quay lại với chính chúng ta", ông nói.
Các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á, những bên đang phụ thuộc vào nguồn năng lượng Mỹ trong giai đoạn khủng hoảng, sẽ phải trả giá bằng mức nhiên liệu cực kỳ đắt đỏ.
"Chúng ta sẽ phá hủy vĩnh viễn danh tiếng của mình với tư cách kho bảo hiểm năng lượng của thế giới", McNally cảnh báo.
Tin Gốc: Vnexpress

"Tin rất tốt đây! Tôi vừa nhận được thông báo rằng 8 phụ nữ dự kiến bị tử hình tại Iran tối nay sẽ không bị xử tử nữa. 4 người sẽ được thả ngay lập tức, 4 người còn lại bị kết án một tháng tù. Tôi đánh giá cao Iran và các lãnh đạo của họ vì tôn trọng đề nghị của Tổng thống Mỹ và hủy kế hoạch thi hành án", Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng trên mạng xã hội Truth Social ngày 22/4.
Trả lời trên Fox News sau đó, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt cũng nói rằng ông Trump đã "nhận được thông tin trực tiếp từ chính quyền Iran rằng những phụ nữ này sẽ được tha mạng".
Tổng thống Mỹ hôm 21/4 dẫn lại bài viết của một nhà hoạt động ủng hộ Israel, trong đó cho biết 8 phụ nữ tại Iran sắp bị treo cổ. Ông kêu gọi lãnh đạo Iran trả tự do cho những phụ nữ này để tạo "khởi đầu tuyệt vời" cho đàm phán.
Tuy nhiên, giới chức Iran khẳng định không có kế hoạch nào như vậy. Trang Mizan Online của cơ quan tư pháp Iran cho rằng Tổng thống Trump "một lần nữa bị tin giả đánh lừa". "Trong số những phụ nữ được cho là sắp bị tử hình, một số người đã được thả, số khác đối diện với những cáo buộc có mức án tối đa là tù giam", trang này cho hay.
Tổng thống Mỹ từng nhiều lần đưa ra thông tin về án tử hình tại Iran, nhưng thường gây tranh cãi hoặc không được xác thực.
Ông Trump hôm 21/4 gia hạn lệnh ngừng bắn với Iran, nhưng vẫn yêu cầu quân đội Mỹ phong tỏa các cảng biển nước này, gây sức ép buộc Tehran đưa ra đề xuất thống nhất nhằm nối lại đàm phán. Theo CNN, tính đến tối 21/4, chính quyền Mỹ gần như không nhận được phản hồi đáng kể nào từ Iran.
Iran ngày 22/4 tuyên bố sẽ không mở lại eo biển Hormuz chừng nào lệnh phong tỏa của Mỹ vẫn còn hiệu lực. Giá dầu, vốn đã tăng vọt kể từ khi Mỹ - Israel tấn công Iran ngày 28/2, tiếp tục tăng nhẹ do sự mơ hồ về khả năng chiến sự tiếp diễn.
Tin Gốc: Vnexpress

