Viêm não Nhật Bản chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, bác sĩ chỉ “chìa khoá” phòng ngừa

Viêm não Nhật Bản chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, bác sĩ chỉ "chìa khoá" phòng ngừa

Tại Việt Nam, trước khi vắc-xin viêm não Nhật Bản được triển khai rộng rãi, mỗi năm ghi nhận từ 2.000 đến 3.000 ca mắc viêm não Nhật Bản. Năm 1985, số ca bệnh từng lên tới gần 5.000 trường hợp. Đến năm 1995, viêm não Nhật Bản chiếm tới 61% các ca viêm não do virus.

Nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng, số ca mắc đã giảm mạnh xuống còn khoảng 100-200 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, ngành y tế vẫn ghi nhận các ca bệnh ở những người không tiêm chủng, tiêm không đủ liều hoặc bỏ quên mũi tiêm nhắc.

Phân tích dịch tễ cho thấy một số trường hợp mắc bệnh xảy ra ở những người từng được tiêm chủng nhưng miễn dịch suy giảm theo thời gian hoặc chưa hoàn thành lịch tiêm nhắc theo khuyến cáo.

Theo chương trình tiêm chủng mở rộng, trẻ cần tiêm 3 mũi cơ bản gồm mũi đầu tiên lúc 1 tuổi, mũi thứ hai sau 1-2 tuần và mũi thứ ba sau mũi thứ hai một năm. Sau đó, cần tiêm nhắc lại mỗi 3-5 năm cho đến khi đủ 15 tuổi để duy trì miễn dịch bảo vệ.

Các chuyên gia nhấn mạnh, không ít phụ huynh thường nhớ lịch tiêm cơ bản nhưng lại quên các mũi nhắc. Đây là khoảng trống miễn dịch khiến trẻ vẫn có nguy cơ mắc bệnh dù đã từng được tiêm chủng.

Nói thêm về vắc-xin viêm não Nhật Bản, theo BS.Nguyễn Tuấn Hải – Hệ thống tiêm chủng Safpo/Potec, vắc-xin là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa viêm não Nhật Bản. Việc tiêm chủng đầy đủ giúp cơ thể tạo miễn dịch chống lại virus, từ đó ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh hoặc giảm đáng kể khả năng diễn tiến nặng và tử vong.

Nhiều phụ huynh cho rằng, trẻ đã được bảo vệ suốt đời sau khi hoàn thành 3 mũi vắc-xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy lượng kháng thể phòng bệnh có thể suy giảm theo thời gian, khiến trẻ lớn và cả người trưởng thành vẫn có nguy cơ mắc viêm não Nhật Bản.

Để duy trì khả năng bảo vệ bền vững, WHO và Hội Y học Dự phòng Việt Nam khuyến cáo người dân nên tiêm nhắc bằng vắc-xin thế hệ mới sau khi hoàn thành phác đồ 3 mũi cơ bản trong chương trình tiêm chủng mở rộng.

Mũi tiêm nhắc này được xem như “chìa khóa” kích hoạt lại hệ miễn dịch, giúp cơ thể tạo ra lượng kháng thể cao và bền vững hơn trước sự tấn công của virus. Đối tượng được khuyến cáo tiêm nhắc bao gồm trẻ lớn và người trưởng thành chưa được củng cố miễn dịch đầy đủ.

Trong bối cảnh viêm não Nhật Bản vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và có thể để lại di chứng thần kinh suốt đời, việc tiêm chủng đầy đủ và tiêm nhắc đúng lịch không chỉ bảo vệ mỗi cá nhân mà còn góp phần xây dựng lá chắn miễn dịch cho cộng đồng.

Bên cạnh tiêm chủng, người dân cần chủ động phòng chống muỗi đốt bằng cách ngủ màn, vệ sinh môi trường, loại bỏ nơi sinh sản của muỗi và bảo vệ trẻ em trong mùa cao điểm từ tháng 5 đến tháng 9 hằng năm.

  Vinmec Central Park phẫu thuật nội soi cắt gan thành công cho bệnh nhân Campuchia mắc ung thư

Điều khiến viêm não Nhật Bản trở thành nỗi lo của ngành y tế là bệnh thường khởi phát với các dấu hiệu khá giống cảm cúm hoặc sốt virus thông thường như sốt cao, đau đầu, buồn nôn, nôn, mệt mỏi.

Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, virus có thể tấn công trực tiếp vào hệ thần kinh trung ương, gây viêm não, phù não, co giật, rối loạn ý thức, hôn mê và suy đa cơ quan.

Các chuyên gia cho biết tỉ lệ tử vong do viêm não Nhật Bản có thể lên tới 20-30%. Ngay cả trong số những người may mắn sống sót, khoảng 30-50% phải gánh chịu các di chứng thần kinh và tâm thần kéo dài như liệt vận động, co cứng cơ, động kinh, giảm trí nhớ, rối loạn ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ hoặc suy giảm khả năng học tập và lao động.

Nhiều trường hợp phải sống chung với di chứng suốt đời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình.

Đáng lo ngại hơn, đến nay viêm não Nhật Bản vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Các biện pháp điều trị hiện nay chủ yếu là hồi sức tích cực, kiểm soát triệu chứng và hỗ trợ chức năng sống.

Chính vì vậy, phát hiện sớm chỉ giúp tăng cơ hội cứu sống người bệnh, còn biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh vẫn là tiêm chủng.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính có khoảng 3 tỷ người đang sinh sống trong vùng nguy cơ tại 24 quốc gia châu Á, trong đó khoảng 700 triệu là trẻ em dưới 15 tuổi.

Đáng lo ngại hơn, khoảng một nửa số bệnh nhân sống sót phải mang các di chứng thần kinh kéo dài như động kinh, rối loạn vận động, suy giảm trí nhớ, giảm khả năng học tập, rối loạn hành vi hoặc mất khả năng lao động.

Tin Gốc: Người Đưa Tin