Ngày 8-7, UBND TP Hà Nội công bố tình huống khẩn cấp về thiên tai tại khu vực sụt trượt, sạt lở mái dốc ở khu du lịch văn hóa Đền Sóc (xã Sóc Sơn), đồng thời yêu cầu cắm biển cảnh báo, canh gác, không cho người dân và du khách đi vào khu vực nguy hiểm.
Theo quyết định do Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội Bùi Duy Cường ký, khu vực Đền Sóc chịu ảnh hưởng của các đợt mưa lớn trong tháng 5 và trận mưa kèm dông lốc ngày 4-6, khiến tình trạng mất ổn định mái dốc tiếp tục phát triển tại hai vị trí.
Tại vị trí thứ nhất, nhiều vết nứt xuất hiện dọc theo đỉnh ta luy, rộng trung bình 1 – 1,3m. Các vết nứt đang có xu hướng mở rộng, liên kết thành cung sạt trượt dài khoảng 98m.
Khối đất đá phía trên được xác định đang dịch chuyển từ đỉnh xuống chân ta luy, làm biến dạng địa hình tự nhiên.
Kết quả khảo sát cho thấy mái ta luy cao khoảng 30 – 40m đã xảy ra nhiều điểm sạt lở cục bộ, tầng đất đá phong hóa rời rạc, nhiều cây xanh nghiêng đổ và có nguy cơ tiếp tục trượt xuống hồ điều hòa nếu xảy ra mưa lớn.
Tại vị trí thứ hai, cơ quan chức năng ghi nhận hiện tượng sạt lở cục bộ mái ta luy và xói lở bề mặt sườn dốc. Nước mưa chảy tràn làm rửa trôi lớp đất phủ, bong bật thảm thực bì, để lộ tầng đất phong hóa yếu bên dưới.
Nhiều cây xanh bị trơ rễ, đất đá trượt xuống chân dốc sát tuyến đường nội bộ phục vụ công tác quản lý và hoạt động tham quan, chiêm bái của du khách.
Trước diễn biến trên, UBND TP Hà Nội yêu cầu các đơn vị theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, diễn biến sạt lở và triển khai ngay các biện pháp gia cố nhằm hạn chế các vết nứt và cung sạt tiếp tục phát triển.
Thành phố cũng yêu cầu cắm biển cảnh báo, căng dây, bố trí lực lượng canh gác, hướng dẫn người dân và du khách tuyệt đối không đi qua khu vực nguy hiểm; đồng thời tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng phòng chống sạt lở.
UBND xã Sóc Sơn được giao thường xuyên theo dõi diễn biến thời tiết, chủ động triển khai các biện pháp ứng phó theo phương châm “4 tại chỗ”, xử lý kịp thời khi có tình huống phát sinh.
Địa phương cũng phối hợp với các sở, ngành khảo sát hiện trạng, đề xuất phương án xử lý lâu dài và triển khai các công trình khẩn cấp theo quy định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Bộ Chính trị: Nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp 2013 phù hợp với thực tiễn

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành kết luận 17 của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Theo đó, xem xét tờ trình của Đảng ủy Quốc hội về đề án định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thông qua những nội dung cơ bản của đề án.
Bộ Chính trị nhấn mạnh mục tiêu của công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI là tạo lập khung khổ pháp lý thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2031, gắn với định hướng phát triển đất nước.
Đến năm 2030, Việt Nam có hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, mở đường cho kiến tạo phát triển, huy động mọi người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội.
Tạo tiền đề đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống pháp luật chất lượng cao, tiên tiến, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và thông lệ quốc tế.
Công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI tập trung vào các định hướng lớn, trong đó nghiên cứu tổng kết, sửa đổi tổng thể Hiến pháp năm 2013 phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác lập pháp cần tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính...
Bộ Chính trị yêu cầu các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị kịp thời thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng.
Trong đó tập trung hoàn thành thể chế hóa ngay trong năm 2026 những nội dung cốt lõi, quan trọng của nghị quyết Đại hội XVI và các nghị quyết chiến lược, trụ cột.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu tập trung khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý để khơi thông, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "2 con số" trong giai đoạn phát triển mới.
Tạo lập hành lang pháp lý cho các vấn đề mới, như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo...
Tiếp tục đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang phục vụ, kiến tạo phát triển đất nước, xã hội, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, đưa pháp luật trở thành nguồn lực và lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Kết luận cũng nêu rõ việc dứt khoát từ bỏ tư duy không quản được thì cấm. Xóa bỏ cơ chế xin - cho, triệt để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn để thu hút đầu tư.
Công tác quản lý nhà nước cần chuyển từ tư duy tiền kiểm, yêu cầu an toàn tuyệt đối sang chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát, luật hóa cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo.
Chính sách, pháp luật gắn với kiểm soát chặt chẽ quyền lực, nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm công bằng, minh bạch, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không để xảy ra lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm an ninh chính trị; đề cao vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy trình xây dựng pháp luật, nhất là của người đứng đầu.
Hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội trong công tác lập pháp cần tiếp tục đổi mới phương thức.
Tăng cường giám sát công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những nội dung bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn.
Cơ quan, tổ chức được giao chủ trì soạn thảo tập trung làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, xây dựng chính sách, tham vấn, đánh giá tác động chính sách trong quá trình soạn thảo.
Người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện, trực tiếp chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế của bộ, ngành mình.
Chính phủ quyết liệt chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác xây dựng pháp luật của các bộ, ngành để bảo đảm chất lượng, tiến độ chuẩn bị dự án. Tiếp tục hoàn thiện các khâu trong quy trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật...
Thời Sự
Sắp 'lột xác' thành đô thị, vì sao người dân xứ cồn xã Long Hựu, Tây Ninh băn khoăn?

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Nguyễn Minh Toãn, Chủ tịch UBND xã Long Hựu (tỉnh Tây Ninh), cho biết xã vừa phối hợp Ban Quản lý dự án Dân dụng và công nghiệp tỉnh Tây Ninh công bố quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 khu đô thị mới Long Hựu (xã Long Hựu) trên website của xã và niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã.
Theo đó, bản quy hoạch điều chỉnh trên 2.609 ha đất, chiếm 94% diện tích đất tự nhiên của xã Long Hựu. Điều này khẳng định rằng dân ở xã cồn Long Hựu trở thành dân đô thị.
Thế nhưng, đằng sau những con số "triệu đô" và viễn cảnh về một đô thị thông minh, sinh thái tráng lệ vẫn có nỗi băn khoăn về sinh kế, định cư và tương lai của hơn 30.000 con người đã gắn bó lâu đời với sông nước Vàm Cỏ.
Những ngày tháng 4.2026, đứng trên cầu Kinh Nước Mặn nhìn xuống, mặt nước trong xanh như nước biển. Kinh Nước Mặn được người Pháp đào hơn 100 năm trước và tách biệt xã Long Hựu khỏi đất liền. Công trình cầu Kinh Nước Mặn được thông xe vào năm 2010, giúp kết nối giao thông đường bộ cho khoảng 30.000 con người ở cồn Long Hựu với quốc lộ 50.
Nếu cây cầu năm ấy giúp xã Long Hựu nối nhịp với quốc lộ 50, thúc đẩy giao thương nông sản thì bản quy hoạch đô thị mới lần này chính là nhịp cầu đưa cư dân xứ cồn tiến thẳng vào kỷ nguyên đô thị hóa.
Cụ thể, khu đô thị mới Long Hựu có tổng diện tích tự nhiên lên đến 2.609 ha - một con số cho thấy tầm vóc của một trung tâm đô thị - dịch vụ tầm cỡ phía đông nam của tỉnh Tây Ninh. Điểm nhấn của đồ án là tính "sinh thái" và "thông minh", với hơn 600 ha dành cho cây xanh và mặt nước hồ điều hòa; đất lúa, nuôi tôm sẽ được xây dựng các khu chức năng tích hợp dịch vụ du lịch, sân tập golf, tennis và khu nhà ở cao cấp… Tất cả tạo nên một hệ sinh thái đô thị hiện đại dọc theo sông Vàm Cỏ và sông Cần Giuộc.
Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp sản xuất mỗi năm hơn 1.200 tấn tôm, 8.000 tấn lúa và đất ở của hầu hết người dân trong xã vốn tồn tại hơn 100 năm qua sẽ gần như biến mất hoàn toàn.
Bên vuông tôm thâm canh, ông Ba Huân (ở ấp Rạch Đào) không giấu được nỗi trăn trở: "Nghe đất lên giá, dân mình bỗng chốc thành tỉ phú trên giấy. Nhưng tôi lo lắm, vì nuôi tôm cả đời, giờ đất nuôi tôm của mình sắp dùng để xây dựng sân golf, resort, chung cư… Đến lúc đó, nông dân như tôi biết làm gì?".
Nỗi lo của ông Ba Huân không phải là cá biệt. Dù tỷ lệ lao động qua đào tạo của xã đạt mức ấn tượng 80,26%, nhưng phần lớn vẫn gắn liền với kỹ thuật nông - ngư nghiệp. Việc chuyển sang làm dịch vụ đô thị cao cấp đòi hỏi một cuộc cách mạng về tư duy và kỹ năng mà không phải ai cũng theo kịp.
Hơn thế nữa, bài toán định cư đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Theo phương án đề xuất, có khoảng 24.000 dân sẽ thuộc diện tái định cư trên diện tích 84,58 ha. Một cuộc "di cư tại chỗ" quy mô lớn như vậy chắc chắn sẽ gây ra những xáo trộn về mạng lưới quan hệ xóm giềng, thói quen sinh hoạt đã định hình hơn 100 năm qua tại nơi này.
Theo ông Nguyễn Minh Toãn, Chủ tịch UBND xã Long Hựu, khi dự án được triển khai, song song với việc tiến hành giải tỏa đền bù và tái định cư cho người dân, xã cũng sẽ phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh... để triển khai các lớp tập huấn, hỗ trợ người dân chuyển đổi nghề nghiệp với tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau".
Theo báo cáo của Đảng ủy xã Long Hựu (Tây Ninh), xã vẫn đang đối mặt với những thách thức nội tại đầy cam go, trực tiếp tác động đến đời sống dân sinh và hiệu quả điều hành của chính quyền mới.
Trong đó, dù đạt chỉ tiêu về sản lượng nông nghiệp, nhưng thực tế kinh tế địa phương chỉ ở mức ổn định, thiếu đột phá. Hệ thống giao thông nông thôn hạn chế đang trở thành rào cản lớn khiến địa phương kém sức hút đối với doanh nghiệp đầu tư. Tiến độ giải ngân và chi ngân sách còn chậm, trong khi thiết chế văn hóa, thể thao phục vụ người dân vẫn trong tình trạng thiếu hụt và hạn chế.
Bên cạnh đó, vấn đề về y tế, vệ sinh môi trường nông thôn chưa được đảm bảo. Công tác quản lý đất đai vẫn còn tình trạng giải quyết thủ tục trễ hạn, gây phiền hà cho người dân. Một bộ phận cán bộ có trình độ, kinh nghiệm chuyên môn chưa phù hợp với vị trí việc làm mới. Đặc biệt, vai trò người đứng đầu tại một số đơn vị chưa thực sự quyết liệt, linh hoạt; tâm lý "trông chờ, ỷ lại" vào chỉ đạo từ cấp trên vẫn tồn tại, làm giảm tính năng động, nhạy bén trong việc tham mưu và giải quyết các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn.
Để xã Long Hựu thực sự chuyển mình, việc tháo gỡ những "điểm nghẽn" về hạ tầng là yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết. Việc hiện thực hóa quy hoạch phân khu đô thị mới Long Hựu chính là chìa khóa tháo gỡ triệt để những khó khăn nội tại. Bởi khi đó, hạ tầng đồng bộ sẽ xóa bỏ rào cản về giao thông nông thôn hạn chế. Các trục đường kết nối vùng và hạ tầng kỹ thuật chuẩn đô thị sẽ tạo "thảm đỏ" thu hút doanh nghiệp, thay vì chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần túy.
Các quỹ đất công cộng được ấn định rõ ràng sẽ giải quyết tình trạng thiếu hụt thiết chế văn hóa, thể thao và hạ tầng giáo dục hiện nay. Áp lực từ các dự án lớn đổ về xã sẽ buộc đội ngũ cán bộ phải nâng cao năng lực chuyên môn, xóa bỏ tư duy "trông chờ, ỷ lại", đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện đại.
Khi quy hoạch đi vào thực tế, xã Long Hựu sẽ thoát ly khỏi thế khó "độc canh", vươn mình trở thành đô thị sinh thái năng động của tỉnh Tây Ninh. Nhưng ngược lại, nếu quy hoạch đã công bố mà chậm triển khai thì quy hoạch đó vô tình trở thành "vòng kim cô" siết chặt tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của gần như toàn bộ xã Long Hựu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 23.5, nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội quả điều vàng thành phố Đồng Nai, hội thảo khoa học "Xây dựng, phát triển bền vững ngành hàng điều tại thành phố Đồng Nai giai đoạn 2026 - 2030" đã diễn ra với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học cùng đông đảo các hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến điều trên địa bàn thành phố.
Theo Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas), năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nhân điều của toàn ngành đạt trên 5,4 tỉ USD, xuất khẩu đến hơn 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm trên 80% thị phần nhân điều xuất khẩu toàn cầu.
Đồng Nai hiện là vùng nguyên liệu trọng điểm với diện tích hiện có trên 176.000 ha, sản lượng hằng năm khoảng 300.000 tấn điều thô với chất lượng được đánh giá "ngon nhất thế giới".
"Từ nay đến năm 2030, ngành điều Đồng Nai cần chuyển mạnh từ mô hình trung tâm chế biến điều nhân sang trung tâm công nghiệp điều công nghệ cao, xanh, sâu, hiện đại và có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị toàn cầu", Vinacas kiến nghị.
Ông Vũ Thái Sơn, Chủ tịch Hội điều thành phố Đồng Nai cho biết, các thị trường nhập khẩu lớn hiện nay ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững, phát thải carbon và trách nhiệm xã hội trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, yêu cầu doanh nghiệp ngành điều phải đẩy mạnh đầu tư công nghệ chế biến, xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Từ góc độ người nông dân, ông Nguyễn Sỹ Sóng (nông dân xã Phú Riềng, thành phố Đồng Nai) có hơn 30 năm kinh nghiệm trồng điều với năng suất 3,5 - 4 tấn/ha (cao gấp 3 lần năng suất bình quân hiện nay - PV), cho rằng cần phải thay đổi, trẻ hóa vườn điều ghép giống mới có năng suất cao, chịu hạn tốt và kháng sâu bệnh là giải pháp then chốt để nâng cao kinh tế cho bà con.
"Phải có đơn vị, doanh nghiệp là đầu mối chuyên cung cấp giống cây trồng đảm bảo uy tín, chất lượng để bà con nông dân yên tâm thực hiện chuyển đổi giống mới", ông Sóng đề xuất.
Trong khi đó, PGS-TS Nhữ Trọng Bách, Phó giám đốc Học viện chính sách và phát triển (Bộ Tài chính) đề xuất ngành điều Đồng Nai cần thực hiện các chiến lược trọng tâm gồm: Xây dựng chỉ dẫn địa lý điện tử gắn với doanh nghiệp, nông dân; thay đổi tư duy xúc tiến thương mại, trong đó lãnh đạo chính quyền cần trực tiếp vào cuộc cùng người dân, các KOLs (những người có tầm ảnh hưởng - PV) quảng bá nông sản; đề xuất trích tỷ lệ ngân sách phù hợp tái đầu tư toàn diện cho giống, khuyến nông; xây dựng "không gian văn hóa điều"; kết nối thông tin sản phẩm đến khách hàng, trường đại học, doanh nghiệp lữ hành, du lịch; làm sao để nhận được chấm "sao Michelin" (chứng nhận danh giá nhất trong thế giới ẩm thực toàn cầu - PV) cho hạt điều Đồng Nai.
"Đồng Nai chỉ cần một, hai chấm về chỉ dẫn địa lý cho hạt điều này của Michelin thì sẽ tạo điểm nhấn chấm sao trong chuỗi bản đồ du lịch thế giới", PGS-TS Nhữ Trọng Bách nhận định.
Bà Lê Thị Ánh Tuyết, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đồng Nai cho biết, thành phố đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, hỗ trợ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu, vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm. Đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia thị trường xuất khẩu, gắn kết ngành điều với hoạt động du lịch và văn hóa địa phương cũng như xây dựng và quảng bá thương hiệu "Điều Đồng Nai".
Tin Gốc: Thanh Niên

