Trong phiên giao dịch vừa qua, giá vàng giao ngay giảm 0,73% xuống còn 4.074 USD/ounce, trong khi bạc giảm mạnh hơn, mất 2,85% xuống 58,13 USD/ounce.
Áp lực đối với hai kim loại quý không chỉ đến từ đồng USD mạnh lên mà còn phản ánh việc nhà đầu tư điều chỉnh kỳ vọng sau khi biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cho thấy nội bộ cơ quan này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về chính sách tiền tệ.
Fed chưa tìm được tiếng nói chung về lãi suất
Biên bản cuộc họp tháng 6 của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) – cuộc họp đầu tiên dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh – cho thấy Fed tiếp tục giữ lãi suất trong vùng 3,5-3,75%, nhưng các nhà hoạch định chính sách vẫn chưa thống nhất về lộ trình tiếp theo.
Theo biểu đồ dự báo lãi suất, trong số 18 thành viên gửi dự báo kinh tế, có 9 người cho rằng Fed có thể cần tăng lãi suất ít nhất một lần trước cuối năm, 8 người đánh giá mức lãi suất hiện tại là phù hợp và chỉ một thành viên dự báo Fed sẽ cắt giảm lãi suất.
Cán cân quan điểm này cho thấy khả năng duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt vẫn được nhiều thành viên Fed ủng hộ, trái với kỳ vọng trước đó của một bộ phận thị trường rằng chu kỳ tăng lãi suất có thể đã kết thúc.
Đáng chú ý, Chủ tịch Kevin Warsh không công bố dự báo lãi suất cá nhân. Đây là lần đầu tiên kể từ khi biểu đồ dot plot được bổ sung vào Báo cáo Dự báo Kinh tế (SEP) năm 2012, Chủ tịch Fed không đưa ra quan điểm riêng về lộ trình lãi suất.
Theo CNBC, biên bản cũng không cho thấy nhiều chi tiết về các cuộc thảo luận nội bộ mà ông Warsh từng đề cập trước đó. Thay vào đó, tài liệu nhấn mạnh các quyết định tiếp theo sẽ phụ thuộc vào diễn biến của nền kinh tế, thay vì phát tín hiệu trước cho thị trường.
Điều này phản ánh cách tiếp cận mới của Fed dưới thời ông Warsh. Khác với giai đoạn trước khi Fed thường định hướng khá rõ về triển vọng chính sách, ban lãnh đạo hiện nay ưu tiên phản ứng theo dữ liệu kinh tế thay vì đưa ra cam kết trước về lộ trình lãi suất.
Vì sao giá vàng và bạc giảm sau biên bản Fed?
Bên cạnh biên bản Fed, thị trường cũng chịu tác động từ căng thẳng giữa Mỹ và Iran. Theo Kitco, việc các cuộc không kích được nối lại đã khiến giá dầu WTI và Brent cùng tăng hơn 6%, làm gia tăng lo ngại về lạm phát và đẩy lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tiến sát 4,58%.
Điều gây sức ép lên vàng không phải việc Fed đã tăng lãi suất, mà là kỳ vọng lãi suất có thể duy trì ở mức cao lâu hơn. Khi lợi suất trái phiếu tăng, chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng – tài sản không tạo ra thu nhập định kỳ – cũng tăng theo, khiến dòng tiền có xu hướng chuyển sang các tài sản sinh lợi suất.
Bạc chịu áp lực lớn hơn do ngoài vai trò là kim loại quý, đây còn là nguyên liệu quan trọng trong sản xuất chất bán dẫn, pin mặt trời và xe điện. Theo Viện Bạc, khoảng 58% nhu cầu bạc toàn cầu đến từ lĩnh vực công nghiệp. Nếu lãi suất duy trì ở mức cao trong thời gian dài, hoạt động đầu tư và sản xuất có thể chậm lại, kéo theo triển vọng tiêu thụ bạc suy yếu.
Diễn biến này cũng khiến tỷ lệ giá vàng/bạc nới lên gần 70, phản ánh bạc giảm giá mạnh hơn vàng trong giai đoạn gần đây.
Báo cáo CPI Mỹ sẽ quyết định hướng đi của giá vàng?
Sau khi biên bản Fed được công bố, tâm điểm của thị trường chuyển sang báo cáo Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ trong tháng 6, dự kiến công bố ngày 14/7.
Ngay trong biên bản, Fed cũng nhấn mạnh các quyết định chính sách sắp tới sẽ phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế. Điều đó đồng nghĩa mỗi báo cáo về lạm phát hay tăng trưởng đều có thể làm thay đổi kỳ vọng của thị trường đối với lộ trình lãi suất.
Theo phân tích của GoldSilver, nếu CPI tiếp tục duy trì từ 4% trở lên, khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất sẽ được củng cố, qua đó duy trì sức ép lên lợi suất trái phiếu, đồng USD và kim loại quý.
Ngược lại, nếu lạm phát giảm xuống dưới 3,8%, kỳ vọng về việc Fed tiếp tục thắt chặt chính sách có thể suy yếu. Khi đó, lợi suất trái phiếu và đồng USD có cơ hội hạ nhiệt, tạo điều kiện để vàng và bạc phục hồi.
Ông Jeffrey Roach, Kinh tế trưởng tại LPL Financial, nhận định: “Nếu có thể rút ra một tín hiệu từ biên bản cuộc họp lần này, thì đó là Fed đang xem xét nhiều kịch bản khác nhau và sẽ chưa cam kết với bất kỳ hướng đi nào cho đến khi các dữ liệu kinh tế mới đủ rõ ràng”.
Tháng 1/2026, tỷ phú 81 tuổi Eric Sprott (Canada) tới thăm các mỏ tại Australia và New Zealand, đúng thời điểm giá bạc lập kỷ lục 100 USD một ounce. Dù vậy, ông không quá bận tâm đến việc này. "Cổ phiếu vàng và bạc đều đang bị định giá quá thấp. Thực ra tôi nghĩ giá kim loại còn tăng mạnh nữa. Bạc hoàn toàn có thể lên 200 USD, thậm chí 300 USD. Vàng có thể lên 10.000 USD", ông nói.
Vài ngày sau, giá bạc giảm một phần ba, còn 76 USD. Vàng cũng xuống dưới 5.000 USD, hiện chỉ quanh 4.500 USD. Dù vậy, Sprott vẫn không nao núng. Ông cho rằng biến động như vậy là điều bình thường khi xung đột bùng phát trên khắp thế giới và nhà đầu tư đổ xô tìm nơi trú ẩn an toàn hơn. Theo ông, diễn biến này phản ánh thị trường chỉ đang tìm hướng đi giữa bất ổn toàn cầu.
Trú ẩn có thể là một trong những lý do nhiều nhà đầu tư mới tìm đến vàng và bạc. Tuy nhiên, Sprott cho rằng còn một nguyên nhân khác đứng sau đợt tăng phi mã gần đây của kim loại. Đó là chi tiêu thiếu kiểm soát của các chính phủ. "Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều hiểu rằng các chính phủ đã hành xử khá thiếu trách nhiệm với hệ thống tài chính. Họ in tiền và chi tiêu quá mức, từ Canada, Mỹ, Anh, Nhật Bản đến bất kỳ nước nào khác", ông nói.
Đây là lập luận được giới phân tích nhắc đến suốt nhiều thập kỷ qua. Theo lý thuyết, mức chi tiêu quá lớn sẽ làm xói mòn niềm tin của người tiêu dùng vào tiền tệ, khiến nhiều người chuyển sang các tài sản hữu hình như kim loại quý - vốn được coi là nơi lưu giữ giá trị.
Niềm tin đó khiến Sprott không chỉ tích trữ vàng, bạc vật chất, mà còn kiếm được nhiều tiền hơn nhờ gom cổ phần tại các công ty vàng và bạc. Kiến thức sâu về đầu tư cho phép ông nhắm tới các công ty nhỏ, ít tên tuổi, sở hữu những tài sản mà ông cho là đang bị định giá thấp. "Tôi nhìn vào trữ lượng mỏ. Tôi không phải nhà địa chất học, không biết gì về đá, nhưng tôi hiểu các con số. Nếu phần thưởng đủ lớn, tôi có thể chấp nhận", ông nói.
Trên thực tế, chiến lược này đã mang lại thành quả. Sprott hiện nắm cổ phần tại 120 công ty khai khoáng. Theo Forbes, tài sản của ông hiện là 3,1 tỷ USD, gấp gần 4 lần so với đầu năm 2025, nhưng đã giảm từ đỉnh 4,6 tỷ USD đầu năm nay. Sprott tiết lộ 98% tài sản của ông là từ vàng và bạc.
Con đường trở thành một trong những người lạc quan nhất thế giới về kim loại quý của Sprott bắt đầu tại Ottawa - thủ đô Canada nổi tiếng với các mỏ khoáng sản phong phú. Cha ông là một công chức tại đây, thường giao dịch chứng khoán lúc rảnh rỗi. Việc này khiến Sprott dần có hứng thú với đầu tư.
Năm 1980, ông dùng tiền tiết kiệm để tham gia giao dịch trên sàn chứng khoán Toronto. Sau đó, ông mở công ty chứng khoán riêng có tên Sprott Securities.
Năm 2000, khi bong bóng dot com phình to, Sprott bắt đầu lo ngại về kịch bản thị trường sụp đổ. Vì thế, ông bán cổ phiếu để chuyển sang mua kim loại quý. Không lâu sau đó, thị trường chứng khoán giảm tới 80%.
Sprott sau đó bán mảng môi giới chứng khoán của công ty Sprott Securities. Ông giữ lại mảng quản lý tài sản, và bắt đầu đổ tiền vào các công ty khai khoáng.
Do sự thiếu chắc chắn về chi phí và chất lượng khoáng sản, các mỏ chưa khai thác thường được định giá thấp hơn kim loại tinh luyện, kể cả sau khi đã có dự báo từ các nhà địa chất học. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm cá nhân, Sprott coi đây là lợi thế. Ông cho biết trên Forbes rằng đến nay, mình vẫn xem xét các chỉ số như trữ lượng quy đổi, hàm lượng quặng tối thiểu và hoạt động của mỏ để cân nhắc chi phí đầu tư so với giá thị trường.
Khoản đầu tư lớn nhất của ông là số cổ phần hiện trị giá 1,3 tỷ USD tại Hycroft Mining Holding (Mỹ). Đây là một trong những ví dụ về đầu tư vào tài sản bị định giá thấp. Sprott bị thu hút bởi quy mô lớn của mỏ vàng và bạc chủ lực tại Bắc Nevada này, dù khi ông đầu tư năm 2019, mỏ này còn chưa hoạt động và công ty Hycroft Mining đang chìm trong nợ nần.
Sprott đã rót hơn 360 triệu USD vào Hycroft và hỗ trợ công ty này vay vốn để nắm 1% cổ phần cùng quyền hưởng 1,5% doanh thu khai thác ròng trong tương lai. Sau vài năm biến động, cổ phiếu Hycroft bắt đầu tăng giá. Sprott tiếp tục đầu tư thêm. Từ đầu năm 2025, cổ phiếu này tăng tới gần 1.500%, dù công ty mới bắt đầu hoạt động và chưa sản xuất được ounce vàng hay bạc nào.
Khoản đầu tư lớn thứ hai của ông là vào Discovery Silver Corporation (Canada). Tháng 5/2019, Discovery và Levon Resources sáp nhập thành một công ty thăm dò tập trung vào bạc, với các dự án tại Mexico và Puerto Rico. Cuối năm đó, Sprott đầu tư khoảng 6 triệu USD để sở hữu gần 25% công ty mới. Với số vốn này, Discovery bắt đầu tập trung vào mỏ Cordero quy mô lớn tại Chihuahua (Mexico). Họ ước tính mỏ này chứa gần một triệu tấn vàng, bạc, chì và kẽm.
Giá vàng đầu năm 2024 chỉ hơn 2.000 USD một ounce, nhưng đến cuối tháng 1/2026 có thời điểm tiến sát 5.600 USD, tương đương tăng 180% trong 2 năm. Giá bạc cũng có diễn biến tương tự, khi tăng từ quanh 30 USD lên 100 USD chỉ trong 2 năm.
40 năm đầu tư giúp Sprott luôn giữ được sự điềm tĩnh, dù thị trường biến động đến mức nào. Khi được hỏi làm thế nào để tìm ra khoản đầu tư tỷ USD tiếp theo, tỷ phú chỉ cho biết: "Các con số đã đưa tôi tới đây. Hãy nhớ điều đó. Bạn không cần phải là nhà địa chất học đâu".
Theo tài liệu họp cổ đông thường niên cuối tháng này, Công ty cổ phần Thép Pomina (mã chứng khoán: POM) đặt kế hoạch thu 8.511 tỷ đồng, tăng vọt so với mức thực hiện 2.200 tỷ đồng của năm ngoái. Con số năm sau dự kiến lên gần 13.200 tỷ đồng, cao nhất tính từ 2021.
Công ty chưa công bố chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, nhưng dự tính EBITDA (lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao) năm nay khoảng 473 tỷ đồng và năm sau hơn 940 tỷ đồng. Điều này cho thấy tín hiệu khả quan từ hoạt động kinh doanh cốt lõi sau 4 năm thua lỗ liên tiếp.
Chỉ tiêu tài chính khởi sắc được Pomina công bố sau khi ký hợp đồng với VinMetal (đơn vị thành viên của Vingroup) vào cuối năm ngoái và bắt đầu khôi phục sản xuất từ đầu năm nay. VinMetal hỗ trợ công ty bằng khoản vay vốn lưu động trong tối đa hai năm với lãi suất 0%, nhờ đó giúp cải thiện dòng tiền, khôi phục chuỗi cung ứng, đảm bảo sản xuất ổn định và từng bước hồi phục các chỉ số tài chính. Bên cạnh cấp vốn, Pomina cũng được ưu tiên chọn làm nhà cung cấp thép cho các đơn vị thành viên trong hệ sinh thái Vingroup như VinFast, Vinhomes, VinSpeed.
Pomina ra đời năm 1999 và từng là doanh nghiệp thép xây dựng lớn nhất cả nước giai đoạn 2010. Trong bản cáo bạch niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM khi đó, họ cho biết chiếm khoảng 29,37% thị phần.
Công ty đã lỗ liên tiếp 4 năm từ 2022-2025, nâng lỗ lũy kế chưa phân phối lên 3.660 tỷ đồng và âm vốn chủ sở hữu hơn 800 tỷ đồng.
Trong tài liệu họp cổ đông, ông Đỗ Tiến Sĩ - Thành viên HĐQT kiêm Tổng giám đốc Pomina - cho biết công ty "rơi vào một giai đoạn cực kỳ khó khăn" từ 2023 đến nay. Dịch Covid-19 bùng nổ đúng giai đoạn xây dựng dự án lò cao tại Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, dẫn tới dự án bị kéo dài thời gian hoàn thành và đội vốn đầu tư.
Công ty phải ngừng sản xuất vào tháng 9/2022, sau đó sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên và chi nhánh. Quá trình tái cấu trúc, theo ban lãnh đạo, đến nay có chuyển biến tích cực nhưng cũng gặp khó khăn liên quan đến quy định pháp lý và sự thận trọng của nhà đầu tư.
Pomina từng có kế hoạch chuyển nhượng vốn cho nhà đầu tư chiến lược Nansei (Nhật Bản). Đây là đối tác làm việc hơn 10 năm với công ty, đồng thời nghiêm túc trong thương vụ nhận chuyển nhượng cổ phần do đã bỏ nhiều thời gian và chi phí cọc, thẩm định đầu tư... Tuy nhiên, thương vụ sau đó bị vướng quy định tỷ lệ chuyển nhượng cho doanh nghiệp nước ngoài không được vượt quá 50% vốn.
"Pomina phải xoay qua tìm cơ hội hợp tác khác với các nhà đầu tư trong nước và các quỹ đầu tư", ông Sĩ viết, đồng thời liệt kê nhiều tổ chức trong nước đã làm việc cùng như Thaco Industries, VNSteel và VinMetal.
Sau khi chốt hợp tác với VinMetal, ban lãnh đạo công ty cho biết đang tiếp tục tái cơ cấu tài chính theo hướng khắc phục dần tình trạng âm vốn lưu động.
Quý đầu năm nay, Pomina thu hơn 465 tỷ đồng và lỗ sau thuế gần 190 tỷ đồng. Tính đến cuối hết tháng 3, công ty có tổng nguồn vốn hơn 10.200 tỷ đồng, tăng khoảng 1.400 tỷ đồng so với thời điểm đầu năm. Nợ phải trả cũng tăng 1.600 tỷ đồng, lên hơn 11.000 tỷ đồng.
Theo Báo cáo về Chỉ số hiệu suất cảng container (CPPI) năm 2025 (Container Port Performance Index (CPPI) 2025) do Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp với S&P Global Market Intelligence công bố, 2 cảng biển của Việt Nam là cảng Cái Mép và cảng Hải Phòng tiếp tục ghi dấu ấn trên bản đồ hàng hải toàn cầu và nằm trong top 20 cảng có hiệu suất tốt nhất thế giới.
Cảng Cái Mép đứng thứ 11 thế giới với 122 điểm, trong khi cảng biển Hải Phòng xếp thứ 13 cũng với số điểm tương tự. Năm thứ hai liên tiếp, hệ thống cảng biển Việt Nam được xếp vào nhóm cảng container có hiệu suất khai thác hàng đầu thế giới.
Với kết quả này, 2 cảng biển trọng điểm của Việt Nam chỉ xếp sau một số cảng hàng đầu thế giới như Phúc Châu, Đại Liên, Ninh Ba, Hong Kong (Trung Quốc), Salalah (Oman) hay Kobe (Nhật Bản). Đáng chú ý, 2 cảng biển của Việt Nam đã vượt qua nhiều cảng lớn trong khu vực và trên thế giới như Tanjung Pelepas của Malaysia, Kaohsiung của Đài Loan (Trung Quốc) hay Port Said của Ai Cập.
Theo thống kê của Cục Hàng hải và Đường thuỷ Việt Nam (Bộ Xây dựng), trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng khối lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển và cảng thủy nội địa của Việt Nam ước đạt hơn 546 triệu tấn, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2025.
Ở góc độ doanh nghiệp, bức tranh tăng trưởng của ngành hàng hải cũng được phản ánh rõ nét qua kết quả kinh doanh khả quan của các đơn vị. Trong quý I/2026, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) ghi nhận doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt hơn 6.610 tỷ đồng, tăng trên 76% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 860 tỷ đồng, cao gấp đôi mức thực hiện của quý I/2025.
Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng cũng báo cáo kết quả kinh doanh tích cực với doanh thu thuần hợp nhất hơn 744,8 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 29% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt trên 350 tỷ đồng, tăng tới 90%, chủ yếu nhờ doanh thu từ hoạt động khai thác cảng tăng mạnh.