“Đó là cuộc gặp tuyệt vời, rất nhiều tình yêu thương, nhiều sự đoàn kết trong căn phòng”, Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 8/7 phát biểu sau khi dự hội nghị thượng đỉnh với 31 lãnh đạo khác của NATO tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ.
Nhưng chỉ vài giờ trước đó, Tổng thống Trump phát biểu trước cuộc họp rằng ông “rất thất vọng với NATO” vì không đáp ứng yêu cầu về chi tiêu quốc phòng và không ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến với Iran. Điều này đã khiến các lãnh đạo NATO lo ngại rằng nước Mỹ dưới thời ông Trump đang ngày càng rời xa các đồng minh châu Âu, vốn đang phụ thuộc vào “chiếc ô an ninh” của Washington.
Chính quyền Tổng thống Trump đã nêu ra tầm nhìn chuyển đổi “NATO 3.0” cho liên minh quân sự xuyên Đại Tây Dương mà Mỹ dẫn đầu. Trong mô hình này, châu Âu sẽ gánh vác phần lớn nhiệm vụ bảo đảm an ninh của lục địa, còn Mỹ thu hẹp hiện diện quân sự để tập trung nguồn lực cho khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương và các ưu tiên chiến lược khác.
Những tín hiệu từ Washington cho thấy sự thay đổi này không còn dừng ở các tuyên bố. Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth tháng trước thông báo Lầu Năm Góc sẽ tiến hành đợt rà soát kéo dài 6 tháng về hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu, làm dấy lên khả năng Washington cắt giảm lực lượng trong tương lai.
Triển vọng đó buộc các đồng minh châu Âu tăng tốc chi tiêu quốc phòng, mở rộng năng lực sản xuất vũ khí và xây dựng những khả năng tác chiến vốn lâu nay phụ thuộc chủ yếu vào Mỹ.
“Chúng ta phải làm nhiều hơn, nhanh hơn và sát cánh hơn. Chúng ta không có thời gian để chần chừ”, Tổng thư ký NATO Mark Rutte phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở Ankara ngày 7/7. “Chúng ta cần ngay những năng lực cần thiết để bảo đảm liên minh luôn trong trạng thái sẵn sàng”.
Điều khiến các nước châu Âu lo ngại không nằm ở việc Mỹ giảm vài nghìn binh sĩ đồn trú, mà ở những năng lực quân sự chiến lược của Washington. Trong nhiều thập kỷ, NATO xây dựng các kế hoạch phòng thủ trên giả định rằng nếu xung đột nổ ra, Mỹ sẽ cung cấp những khí tài mà họ không có hoặc sở hữu rất ít, từ oanh tạc cơ chiến lược, máy bay tiếp dầu, tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân đến hệ thống tình báo vệ tinh.
Những năng lực này đóng vai trò then chốt giúp NATO triển khai lực lượng nhanh chóng trong các tình huống khẩn cấp. Do đó, châu Âu cần đảm bảo NATO vẫn duy trì được khả năng răn đe nếu Washington tiếp tục thu hẹp hiện diện quân sự trên châu lục.
Một trong những giải pháp nhằm bù đắp tình trạng thiếu hụt oanh tạc cơ chiến lược là triển khai thêm các hệ thống tên lửa tầm xa trên mặt đất, đồng thời tăng cường số lượng tiêm kích. Châu Âu cũng đang đẩy mạnh chi tiêu cho quân sự sau hàng chục năm liên tục cắt giảm ngân sách quốc phòng để ưu tiên cho phát triển kinh tế.
Nghiên cứu do viện chính sách SIPRI, Thụy Điển, cho thấy các nước NATO ở châu Âu năm ngoái đã chi tới 559 tỷ USD cho quốc phòng, 22 quốc gia đã chi tối thiểu 2% GDP, mức tiêu chuẩn hiện tại của liên minh. NATO năm ngoái đã cam kết tăng mức này lên 5% vào năm 2035.
Tại Diễn đàn Hợp tác Công nghiệp Quốc phòng Xuyên Đại Tây Dương ngày 7/7, Tổng thư ký Rutte đã công bố hàng loạt sáng kiến và thỏa thuận, đồng thời kêu gọi một “cuộc cách mạng” trong ngành công nghiệp quốc phòng của liên minh.
“Chúng ta không còn nhiều thời gian. Chúng ta cần ngay những năng lực cần thiết để bảo đảm luôn trong trạng thái sẵn sàng. Tình hình an ninh hiện nay đòi hỏi điều đó”, ông Rutte nói. “Tiếng máy móc vận hành phải trở thành một bản hòa âm mạnh mẽ”.
Theo một quan chức NATO, các thỏa thuận được công bố có tổng giá trị ước tính ít nhất 50 tỷ USD. Trong số này có một số quốc gia châu Âu mua máy bay không người lái trinh sát của tập đoàn quốc phòng Mỹ Northrop Grumman, cũng như NATO đặt mua máy bay do công ty Saab của Thụy Điển sản xuất.
Chính phủ Anh cho biết 12 quốc gia châu Âu, trong đó có Anh, Pháp và Đức, sẽ chi hơn 50 tỷ USD trong vòng 10 năm tới để phát triển các loại vũ khí tấn công chính xác tầm xa nhằm tăng cường năng lực phòng thủ của NATO.
Per Erik Solli, chuyên gia phân tích quốc phòng tại Viện Các vấn đề Quốc tế Na Uy (NUPI), cho biết châu Âu hiện có một số sáng kiến nổi bật trong lĩnh vực không quân, như Chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới (GCAP) do Anh, Italy và Nhật Bản phối hợp phát triển, hay hệ sinh thái xoay quanh tiêm kích Gripen mà Thụy Điển đang xây dựng.
“Các nhà sản xuất vũ khí của châu Âu như Rheinmetall, Thales và Leonardo đang hưởng lợi từ xu hướng này”, ông Solli nói.
Dù tốc độ đầu tư quốc phòng tăng nhanh, nhiều chuyên gia cho rằng khoảng cách giữa tham vọng và năng lực thực tế của châu Âu vẫn còn rất lớn. Trở ngại đầu tiên là họ không thể nhanh chóng tìm phương án thay thế cho những khí tài chiến lược mà chỉ có Mỹ đang sở hữu.
“Các hệ thống hỏa lực tầm xa trên mặt đất có thể đóng vai trò bổ sung, nhưng không thể sánh được với tầm hoạt động của oanh tạc cơ chiến lược như B-1 hay B-52”, David Deptula, chủ tịch Viện Mitchell về Nghiên cứu Không gian, nói. “Tiêm kích của châu Âu cũng không thể mang lượng lớn bom đạn như oanh tạc cơ và có tầm hoạt động ngắn hơn”.
Nếu Mỹ rút hoàn toàn “chiếc ô an ninh”, châu Âu cũng sẽ phải dựa vào kho vũ khí hạt nhân vốn có quy mô nhỏ hơn nhiều của Anh và Pháp để đảm bảo khả năng răn đe hạt nhân.
Đây cũng là thách thức lớn, bởi kho vũ khí hạt nhân của hai nước này được đánh giá là tương đối già cỗi và họ cũng gặp nhiều khó khăn với các hệ thống mang phóng, đặc biệt là oanh tạc cơ chiến lược.
Điểm yếu tiếp theo nằm ở năng lực hậu cần tác chiến. Mỹ vẫn chiếm ưu thế vượt trội về máy bay tiếp dầu, vận tải cơ chiến lược, vệ tinh quân sự, tình báo và hệ thống hậu cần. Điều này khiến các lực lượng châu Âu, dù được bổ sung thêm xe tăng hay máy bay chiến đấu, vẫn khó phát huy tối đa hiệu quả nếu thiếu mạng lưới tiếp tế, kết nối và chia sẻ thông tin mà Washington lâu nay cung cấp.
Một trở ngại khác là thời gian. Các dây chuyền sản xuất quốc phòng cần nhiều năm để mở rộng công suất, còn quá trình phát triển một hệ thống vũ khí hiện đại có thể kéo dài gần một thập kỷ, khiến châu Âu khó đáp ứng ngay yêu cầu tăng cường năng lực quân sự trong thời gian ngắn.
Không chỉ thiếu khí tài, nhiều nước châu Âu còn thiếu cả nhân lực vận hành. Sau nhiều năm cắt giảm quân số, các quốc gia này đang gặp khó khăn trong tuyển mộ tân binh và duy trì lực lượng thường trực. Các kế hoạch tăng quy mô quân đội vì thế có thể mất nhiều năm mới phát huy hiệu quả.
Thách thức cuối cùng là cơ chế chỉ huy. Theo cựu quan chức NATO Camille Grand, châu Âu có nhiều tướng giỏi, nhưng chưa có cơ chế chỉ huy thống nhất ở cấp châu lục, bởi họ rốt cuộc vẫn phải chịu trách nhiệm trước chính phủ quốc gia của họ. Tư lệnh Tối cao Đồng minh châu Âu, sĩ quan cũng nắm quyền chỉ huy lực lượng Mỹ đồn trú tại lục địa, hiện là người Mỹ.
“Nếu Mỹ rút lui hoặc thu hẹp hiện diện quân sự, các quốc gia châu Âu sẽ phối hợp với nhau thế nào?”, Max Bergmann thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS), đặt câu hỏi. “Đó là một vấn đề chính trị vô cùng quan trọng mà châu Âu đang phải đối mặt, bởi thực tế chúng ta chưa thấy nhiều sự hợp tác quốc phòng ở cấp độ châu lục”.
Hãng Thông tấn Quốc gia Lebanon ngày 1.6 đưa tin về các cuộc tấn công của Israel vào một số khu vực phía nam, trong đó có các làng Marwaniyeh, Sidiqine, Yater và Mansouri, và "một vụ nổ rất dữ dội" đã làm rung chuyển thị trấn Debbine, theo AFP.
Trong khi đó, Hezbollah tuyên bố rằng tại thị trấn Hadatha thuộc miền nam Lebanon, các thành viên của lực lượng này đã đánh vào một xe tăng Merkava bằng máy bay không người lái tấn công, và tấn công binh sĩ Israel bằng "loạt tên lửa và pháo kích". Lực lượng này còn tuyên bố sau đó đã tấn công hai xe tăng Israel trong cùng khu vực.
Trong tuyên bố thứ 3, cũng giống những tuyên bố khác, đều chỉ ra thời gian tấn công sau 23 giờ ngày 1.6 (giờ địa phương), Hezbollah khẳng định các thành viên của họ đã nhắm mục tiêu vào một xe tăng Merkava ở thị trấn Bayada "bằng tên lửa dẫn đường".
Hiện chưa có thông tin phản ứng từ phía Israel đối với tuyên bố mới của Hezbollah. Vào sáng sớm 2.6 (giờ địa phương), quân đội Israel thông báo hệ thống phòng không đã đánh chặn hai vật thể bay được phóng từ Lebanon hướng vào miền bắc Israel.
Trước đó vài giờ, Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo Israel và Hezbollah đã đồng ý ngừng giao tranh. Nhà lãnh đạo Mỹ cho hay ông đã nói chuyện với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và có một "cuộc điện đàm rất tốt" thông qua các đại diện giấu tên của Hezbollah.
Tổng thống Trump viết trên mạng xã hội rằng ông Netanyahu đã đồng ý hủy bỏ cuộc tấn công quân sự vào thủ đô Beirut của Lebanon, trong khi Hezbollah đồng ý "tất cả các cuộc bắn phá sẽ dừng lại".
Thủ tướng Netanyahu cho hay ông đã nói với Tổng thống Trump rằng nước ông sẽ tấn công Beirut nếu Hezbollah không ngừng tấn công Israel, theo AFP.
Phía Lebanon hôm 1.6 cũng khẳng định Hezbollah đã chấp nhận đề xuất của Mỹ về việc ngừng tấn công Israel để đổi lấy việc Israel ngừng các cuộc tấn công vào phía nam Beirut. Hiện chưa có thông tin phản ứng từ Hezbollah.
Tổng thống Trump thông báo về việc Israel và Hezbollah đồng ý ngừng giao tranh vài giờ sau khi Tehran tuyên bố lệnh ngừng bắn ở Lebanon vẫn là điều kiện then chốt cho bất kỳ thỏa thuận nào với Washington.
Trưởng đoàn đàm phán Iran Mohammad Bagher Ghalibaf nói rằng việc Mỹ phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran và tình trạng leo thang căng thẳng ở Lebanon là "bằng chứng rõ ràng về việc Mỹ không tuân thủ lệnh ngừng bắn".
Trong một thông điệp được phát trên truyền hình nhà nước, cơ quan tình báo của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran cảnh báo rằng "vượt qua lằn ranh đỏ ở Lebanon và Dải Gaza" sẽ đồng nghĩa với "chiến tranh trực tiếp".
Đến cuối ngày 1.6, hãng tin Tasnim của Iran đưa tin Tehran đã đình chỉ đối thoại với các nhà trung gian hòa giải để phản đối cuộc tấn công ngày càng mở rộng của Israel ở Lebanon chống lại Hezbollah.
Cũng theo Tasnim, Iran sẽ tiếp tục phong tỏa eo biển Hormuz và cùng với các đồng minh "kích hoạt các mặt trận khác", bao gồm cả eo biển Bab al-Mandab ở cửa biển Đỏ.
Trong khi đó, Tổng thống Trump ngày 1.6 nói rằng các cuộc đàm phán với Tehran đang diễn ra với "tốc độ nhanh chóng", nhưng khẳng định lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ đối với Iran vẫn được duy trì, theo AFP.
Theo Hãng tin Reuters ngày 25-5, Tổng tư lệnh Quân đội Myanmar Ye Win Oo vừa ra lệnh mở một loạt cuộc tấn công nhắm vào các cứ điểm chiến lược dọc biên giới đang được các nhóm vũ trang nổi dậy kiểm soát.
Đại diện các nhóm nổi dậy và giới phân tích nhận xét đợt tấn công lần này tập trung vào ba hướng: bang Kachin giáp Trung Quốc, bang Chin giáp Ấn Độ và hành lang giao thương trọng yếu ở bang Karen tiếp giáp Thái Lan.
Ở phía bắc Kachin, quân đội nhắm tới các khu mỏ dọc biên giới Trung Quốc. Đây là khu vực sản xuất khoảng một nửa lượng đất hiếm nặng toàn cầu, vốn là loại nguyên liệu thiết yếu sản xuất tua bin gió và xe điện.
Ông Naw Bu, người phát ngôn Quân đội Độc lập Kachin (KIA) - lực lượng kiểm soát khu vực này từ tháng 10-2024, tuyên bố nhóm này đã sẵn sàng phòng thủ, đặc biệt quanh các thị trấn Chipwi và Pangwa.
"Chúng tôi sẽ đón họ bằng họng súng", ông Naw Bu nhấn mạnh.
Tại bang Chin, quân đội Myanmar mở chiến dịch quy mô lớn nhằm cắt đứt tuyến hậu cần xuyên biên giới của các nhóm đối lập.
Trước đó, theo tờ Irrawaddy, phát biểu trước binh sĩ ngày 18-5, ông Ye Win Oo tuyên bố phe quân đội đã kiểm soát thị trấn Falam (bang Chin) cùng tuyến đường huyết mạch nối Mandalay - Myitkyina (bang Kachin).
Ông Salai Van, người phát ngôn nhóm Mặt trận Quốc gia Chin, ngầm xác nhận điều trên khi cho biết lực lượng này đã chủ động rút khỏi Falam và Tonzang trước các đợt không kích dữ dội của quân đội.
Mặt trận thứ ba diễn ra dọc cao tốc Myawaddy - Kawkareik gần Thái Lan, nơi giao tranh kéo dài từ khi Liên minh Quốc gia Karen (KNU) chiếm cửa khẩu Myawaddy năm 2024.
Các chiến dịch diễn ra sau khi Tổng thống Myanmar Min Aung Hlaing, người đã có nhiều năm làm tổng tư lệnh quân đội, đề nghị các nhóm vũ trang đối lập ngồi vào bàn đàm phán trong vòng 100 ngày hồi tháng 4.
Đề xuất này lập tức bị nhiều nhóm vũ trang bác bỏ. Trong số đó, người phát ngôn KNU Saw Taw Nee đã đơn phương cáo buộc: "Quân đội nhiều lần vi phạm cam kết về con đường hòa bình và phớt lờ mọi thỏa thuận. Vì vậy không cần bàn cãi: giữa hai bên không còn chút lòng tin nào. Họ làm gì cũng sẽ thất bại".
Trong khi đó, nhà phân tích Sai Kyi Zin Soe nhận định: "Logic chiến lược của quân đội là họ buộc phải giành lại các tuyến liên lạc và thương mại chính yếu của Myanmar. Có thể thấy họ đang cố hết sức để chiếm lại những thị trấn có cửa khẩu biên giới".
Nhóm vũ trang Hezbollah ở Lebanon hôm 21/5 công bố video cuộc tập kích nhằm vào trận địa phòng không Iron Dome (Vòm Sắt) gần khu dân cư Shomera, miền bắc Israel, trước đó 3 ngày. Trong video, thiết bị bay không người lái góc nhìn thứ nhất (drone FPV) vượt quãng đường tương đối xa, tiếp cận khu vực mục tiêu rồi lao vào bệ phóng đã nạp đạn.
Đây là lần thứ ba Hezbollah công bố bằng chứng về đòn tập kích bằng drone FPV nhằm vào trận địa Vòm Sắt của Israel trong vòng 2 tuần qua. Sự việc nghiêm trọng nhất xảy ra hồi đầu tháng, khi Hezbollah tập kích một bệ phóng trực chiến và sau đó nhắm mục tiêu vào binh sĩ Israel đang thay thế khí tài hư hỏng.
Trong các video, không có dấu hiệu nào cho thấy hệ thống Vòm Sắt của Israel khai hỏa đánh chặn mục tiêu để tự bảo vệ.
Trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục Alma, viện nghiên cứu của Israel chuyên tập trung vào thách thức an ninh ở phía bắc đất nước, hồi tháng 9/2024 từng cảnh báo mối đe dọa từ drone FPV của Hezbollah.
Trong báo cáo công bố gần đây, Trung tâm Alma nhận định các loại drone, đặc biệt là thiết bị điều khiển bằng cáp quang, đang trở thành vũ khí chủ lực được Hezbollah dùng để tấn công lực lượng Israel. "Hezbollah đang nhanh chóng chuyển đổi sang drone FPV. Họ trước đây chủ yếu sử dụng rocket và máy bay không người lái (UAV) cánh bằng", tài liệu có đoạn.
Vòm Sắt thuộc lớp trong cùng trong hệ thống phòng không đa tầng của Israel, chuyên bắn hạ mục tiêu tốc độ chậm, có quỹ đạo dễ đoán như rocket, đạn cối và UAV tầm thấp. Nhà sản xuất tuyên bố hệ thống có tỷ lệ đánh chặn thành công lên đến 90%.
Phần lớn rocket và UAV Hezbollah đều bị Vòm Sắt đánh chặn. Ngoài ra, vũ khí laser mà Israel mới triển khai ở biên giới phía bắc và phần còn lại của lưới phòng không đa tầng, trong đó có các hệ thống tác chiến điện tử, cũng giúp đối phó những khí tài kiểu cũ của nhóm vũ trang Lebanon.
Tuy nhiên, drone FPV tạo ra thách thức mới vì chúng bay chậm và thấp hơn, có khả năng cơ động và tiếp cận theo hướng khó dự đoán. Drone FPV cũng thường hoạt động trong môi trường phức tạp, gồm nhiễu địa vật và các vật thể bay như chim, khiến radar cảnh giới thông thường càng khó phân biệt mục tiêu.
Stephen Bryen, chuyên gia cấp cao tại Trung tâm Chính sách An ninh (CSP) có trụ sở tại Mỹ, nói rằng đây là điểm yếu khiến những hệ thống phòng không truyền thống như Vòm Sắt không thể phát hiện và đánh chặn drone FPV, đòi hỏi triển khai khí tài chuyên chống drone để đối phó.
"Radar chống drone tập trung vào vật thể bay thấp và chậm, có thể bị những hệ thống thông thường bỏ qua. Một số tổ hợp có cơ sở dữ liệu tích hợp, cho phép đánh giá mục tiêu là drone hay chim hoặc vật thể khác. Chúng có thể loại bỏ nhiễu tạp và nhiễu địa vật", ông giải thích.
Nhược điểm lớn nhất của loại radar này là tầm hoạt động ngắn, chỉ được tối ưu để phát hiện và bám bắt mục tiêu trong bán kính dưới 2 km, cũng chưa có dấu hiệu nào cho thấy IDF triển khai chúng cùng các khẩu đội Vòm Sắt ở biên giới.
Một phương án khác để phát hiện drone FPV là dùng cảm biến quang - điện tử, hồng ngoại hoặc âm thanh, song tầm hoạt động và thời gian cảnh báo của chúng còn ngắn hơn nhiều so với dùng radar.
Sử dụng cáp quang để điều khiển giúp drone FPV không bị lộ diện bởi tín hiệu điện từ và miễn nhiễm với các thiết bị gây nhiễu của IDF. Chúng cũng có thể bay rất thấp mà vẫn duy trì được kết nối và truyền hình ảnh độ nét cao về người điều khiển, cho phép tiếp cận trận địa Vòm Sắt từ dưới tầm phát hiện của radar và khiến đối phương không kịp trở tay.
Theo Trung tâm Alma, có một số giải pháp đối phó drone FPV của Hezbollah như chăng lưới, triển khai drone đánh chặn, trang bị kính ngắm hỗ trợ hạ drone cho súng bộ binh và vũ khí laser. Biện pháp dùng tên lửa đánh chặn rất khó thành công, do đây là loại mục tiêu nhỏ, giá rẻ và có tính cơ động cao.
"Nếu không nhanh chóng thu hẹp khoảng cách hiện tại, những chiếc drone vài trăm USD sẽ đánh bại các tổ hợp phòng không trị giá hàng triệu USD. Thành công chiến thuật của Hezbollah sẽ dẫn tới hạn chế chiến lược và ảnh hưởng đến khả năng tự do hành động của IDF", tổ chức này cảnh báo.