Ngân hàng nói không thiếu tiền, vì sao doanh nghiệp vẫn than khó vay?

Ngân hàng nói không thiếu tiền, vì sao doanh nghiệp vẫn than khó vay?

Lãi suất huy động và cho vay cùng duy trì ở mức cao thời gian qua. Song bên cạnh lãi suất, không ít doanh nghiệp phản ánh vẫn khó tiếp cận vốn ngân hàng dù có hợp đồng xuất khẩu, triển vọng kinh doanh tích cực…

Phóng viên báo Dân trí đã trao đổi với TS Lê Bá Chí Nhân – chuyên gia kinh tế – xung quanh vấn đề này và giải pháp để khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp.

Nhiều doanh nghiệp cho biết dù có đơn hàng xuất khẩu, phương án kinh doanh khả thi nhưng vẫn khó vay vốn vì thiếu tài sản bảo đảm hoặc báo cáo tài chính chưa đủ 3 năm liên tục… Đâu là “nút thắt” lớn nhất khiến dòng vốn tín dụng chưa đến được nhóm doanh nghiệp này?

– Nếu nhìn từ góc độ vĩ mô, tôi cho rằng “nút thắt” lớn nhất không nằm ở việc ngân hàng thiếu vốn cho vay mà ở khoảng trống về cơ chế chia sẻ rủi ro giữa ngân hàng và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).

Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng kiểm soát nợ xấu và bảo đảm an toàn vốn theo chuẩn mực an toàn vốn Basel, việc yêu cầu tài sản bảo đảm hay lịch sử tín dụng đầy đủ là cần thiết, nhưng không phải là nguyên nhân gốc rễ.

Điều nghịch lý của thị trường tín dụng Việt Nam là nhiều doanh nghiệp thiếu vốn để phát triển nhưng hệ thống ngân hàng lại không thiếu thanh khoản. Vấn đề không phải là “không có tiền để cho vay”, mà không có cơ chế đủ mạnh để ngân hàng chấp nhận rủi ro đối với những doanh nghiệp có tiềm năng nhưng chưa đủ điều kiện tín dụng truyền thống.

Cụ thể, đặc điểm của phần lớn doanh nghiệp SME là quy mô vốn nhỏ, tài sản hữu hình hạn chế, dòng tiền biến động theo chu kỳ đơn hàng và hệ thống quản trị tài chính chưa thật sự chuẩn hóa.

Trong khi đó, mô hình cấp tín dụng tại Việt Nam vẫn dựa khá nhiều vào tài sản thế chấp thay vì đánh giá năng lực tạo dòng tiền trong tương lai. Chính sự lệch pha này khiến nhiều doanh nghiệp dù có hợp đồng xuất khẩu, có khách hàng ổn định và phương án kinh doanh khả thi vẫn không thể tiếp cận vốn.

Thực tế là câu chuyện trên không mới, và bối cảnh hiện tại doanh nghiệp vẫn gặp khó. Có cách nào để tháo gỡ và kinh nghiệm quốc tế hỗ trợ doanh nghiệp ra sao?

– Đây là vấn đề mà nhiều nền kinh tế phát triển đã chuyển đổi từ nhiều năm trước. Thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm, họ phát triển mạnh các cơ chế bảo lãnh tín dụng, bảo hiểm tín dụng, tài trợ chuỗi cung ứng, cho vay dựa trên dòng tiền và khai thác dữ liệu số… để đánh giá khả năng trả nợ. Xu hướng này phù hợp với định hướng phát triển tài chính bao trùm và nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ.

Nếu vẫn duy trì tư duy có tài sản mới được vay, nhóm doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ hay doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu sẽ luôn gặp bất lợi. Bởi giá trị lớn nhất của họ nhiều khi nằm ở tri thức, công nghệ, thương hiệu và các hợp đồng thương mại chứ không phải ở bất động sản.

Theo tôi, việc tháo gỡ cần đến từ cả 3 phía.

Thứ nhất là cần nâng cấp các quỹ bảo lãnh tín dụng cho SME theo hướng thực chất hơn, tăng quy mô bảo lãnh, chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng và kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, hải quan, ngân hàng để hình thành hệ sinh thái đánh giá tín dụng hiện đại.

Thứ hai, các ngân hàng cần đẩy nhanh chuyển đổi mô hình thẩm định từ cho vay dựa vào tài sản sang cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu, tận dụng AI, dữ liệu hóa đơn điện tử, doanh thu, dòng tiền thanh toán và lịch sử giao dịch… để xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng phù hợp với SME.

Thứ ba, chính doanh nghiệp cũng phải thay đổi theo hướng minh bạch báo cáo tài chính, chuẩn hóa quản trị, số hóa hoạt động và xây dựng lịch sử tín dụng tốt. Những điều này sẽ giúp giảm đáng kể chi phí vốn trong dài hạn.

Muốn dòng vốn thực sự chảy vào khu vực SME, chúng ta cần chuyển từ tư duy đòi hỏi doanh nghiệp phải đủ điều kiện mới được vay sang tư duy thiết kế cơ chế để doanh nghiệp có tiềm năng được tiếp cận vốn với mức rủi ro được chia sẻ hợp lý. Khi đó, tín dụng mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao, ngành ngân hàng cần cơ chế nào để mạnh dạn cho vay dựa trên dòng tiền, hợp đồng đầu ra và hiệu quả của phương án kinh doanh, nhưng vẫn kiểm soát được rủi ro?

– Khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Đã đến lúc hệ thống ngân hàng cần chuyển từ tư duy cho vay dựa trên tài sản sang tài trợ dựa trên năng lực tạo dòng tiền. Đây không chỉ là sự thay đổi trong kỹ thuật tín dụng mà còn là bước chuyển về mô hình phân bổ vốn của nền kinh tế.

  Kỳ nghỉ lễ 30-4 và 1-5, du lịch Đà Nẵng thắng lớn nhờ đâu?

Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh không thể để dòng vốn chỉ chảy đến nơi có nhiều tài sản thế chấp; dòng vốn phải được dẫn dắt đến nơi tạo ra giá trị gia tăng, năng suất và việc làm. Đó mới là bản chất của tín dụng phục vụ tăng trưởng.

Đơn cử, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu tín dụng quốc gia kết nối giữa ngân hàng, cơ quan thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, sàn thương mại điện tử và các nền tảng thanh toán số. Đây sẽ là nền tảng để hình thành mô hình chấm điểm tín dụng hiện đại dựa trên dữ liệu lớn, AI, giúp giảm bất cân xứng thông tin – một trong những rào cản lớn nhất của tín dụng SME.

Trong nền kinh tế số, dữ liệu chính là “tài sản bảo đảm mới”. Doanh nghiệp có dòng tiền minh bạch và lịch sử giao dịch tốt cần được nhìn nhận như một tài sản tín dụng có giá trị, thay vì chỉ dựa vào bất động sản hay tài sản hữu hình.

Đồng thời, cần nâng cấp cơ chế chia sẻ rủi ro thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME, bảo hiểm tín dụng và các chương trình đồng tài trợ giữa Nhà nước với hệ thống ngân hàng. Khi rủi ro được phân bổ hợp lý, ngân hàng sẽ có thêm dư địa mở rộng tín dụng mà vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.

Cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để khuyến khích đổi mới mô hình quản trị rủi ro. Ngân hàng Nhà nước có thể ban hành hướng dẫn riêng đối với các khoản vay dựa trên dòng tiền, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát theo chất lượng danh mục tín dụng thay vì quá chú trọng vào tỷ lệ tài sản bảo đảm.

Kiểm soát rủi ro không có nghĩa là né tránh. Quản trị ngân hàng hiện đại là đo lường, định giá và phân tán rủi ro bằng dữ liệu, công nghệ và các cơ chế chia sẻ phù hợp. Nếu vẫn lấy tài sản thế chấp làm trung tâm, sẽ rất khó tạo ra một hệ thống tài chính đủ sức đồng hành với mục tiêu tăng trưởng nhanh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.

Giảm sức ép từ vốn tín dụng

Hiện hơn 60% nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, tạo áp lực rất lớn lên hệ thống tài chính và làm gia tăng rủi ro mất cân đối kỳ hạn.

Vì vậy, Việt Nam cần phát triển thêm các trụ cột huy động vốn khác. Trong đó, cần phát triển thị trường vốn theo hướng minh bạch và đa dạng hơn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ đầu tư tư nhân (Private Equity). Đây là nguồn vốn trung và dài hạn rất quan trọng đối với các doanh nghiệp đang mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ hoặc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu…

Ngoài ra là mở rộng các kênh huy động vốn thông qua công nghệ tài chính (fintech), nền tảng gọi vốn cộng đồng, các giải pháp tài chính số. Khi được đặt trong khuôn khổ pháp lý phù hợp, đây sẽ là nguồn bổ sung quan trọng cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Hệ sinh thái thông tin tín dụng quốc gia, kết nối dữ liệu giữa cơ quan thuế, hải quan, ngân hàng, bảo hiểm xã hội và các nền tảng số để hình thành cơ chế xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp cũng cần được phát triển. Khi thông tin minh bạch hơn, chi phí vốn sẽ giảm và khả năng tiếp cận các nguồn tài chính ngoài ngân hàng cũng được cải thiện đáng kể.

Ảnh: Lam Giang

Tin Gốc: Dân Trí