Sau một tháng bộ máy mới vận hành, Chính phủ đã cắt giảm 52% điều kiện kinh doanh – điều chưa từng có tiền lệ. VnExpress phỏng vấn TS Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright về những ưu tiên chính sách cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) và thách thức trong điều hành của Chính phủ.
– Trong khoảng một tháng, Chính phủ đã ban hành 11 nghị quyết cắt giảm ĐKKD. Theo ông, đợt cải cách lần này có điểm gì khác biệt so với trước?
– Có 4 điểm khác biệt lớn ở đợt cắt giảm ĐKKD lần này. Đầu tiên, cải cách diễn ra một cách đồng bộ, từ ngành nghề, giấy phép đến điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính, đồng thời gắn với chủ trương phân cấp, phân quyền. Nhờ đó, chính quyền địa phương tăng tính chủ động, đưa thẩm quyền quyết định đến gần người dân, doanh nghiệp hơn.
Cải cách lần này còn chuyển từ “phòng thủ” sang “tấn công”. Trước đây, cắt giảm ĐKKD mang tính thụ động, nhằm cải thiện xếp hạng môi trường đầu tư kinh doanh. Lần này là chiến lược chủ động để giải phóng nguồn lực, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số.
Các chỉ tiêu định lượng cắt giảm được đưa ra rất mạnh. Ví dụ, giảm tối thiểu 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 50% chi phí và thời gian tuân thủ, cấp bộ chỉ trực tiếp xử lý không quá 30% thủ tục thuộc lĩnh vực quản lý. Cuối cùng, Chính phủ đã đi thẳng, chỉ đích danh vào những nút thắt lâu nay như phòng cháy chữa cháy, đánh giá tác động môi trường… chứ không nêu chung chung.
Sự chuyển dịch lần này mang tính bước ngoặt, từ cắt giảm ĐKKD “đúng quy trình” sang “đúng trên thực địa”, có hiệu lực trong cuộc sống. Nói cách khác, tiêu chí thành công không phải là đã ban hành bao nhiêu nghị quyết, mà doanh nghiệp có thực sự giảm được thời gian, chi phí, rủi ro hay không.
Yếu tố tạo ra quyết tâm chính trị mạnh mẽ lần này là sự kết hợp giữa ba áp lực: mục tiêu tăng trưởng rất cao, yêu cầu khơi thông nguồn lực xã hội, nhất là khu vực tư nhân, và nhu cầu củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào Chính phủ mới.
– Ông gọi đây là một cuộc cải cách mang tính bước ngoặt. Theo ông, đâu là những thay đổi quan trọng nhất trong tư duy quản lý?
– Điểm dịch chuyển tư duy quan trọng nhất là lần này Chính phủ không chạy theo các con số hình thức, mà đi thẳng vào giảm bớt thời gian và chi phí tuân thủ. Tức là, nhà điều hành đã chuyển từ những chỉ tiêu “dễ bị làm đẹp” sang thực chất, tác động trực tiếp đến hoạt động và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chính phủ đang thay đổi cách tiếp cận quản lý, từ tư duy “cho – cấp phép”, sang tinh thần “doanh nghiệp được quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm” nêu tại Luật Doanh nghiệp 1999, và Nhà nước chỉ quản lý bằng tiêu chuẩn, dữ liệu, hậu kiểm. Lần này Chính phủ nỗ lực hiện thực hóa những điều tuyên bố từ lâu mà chưa làm được.
– Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn đến 2030. Mục tiêu này có ý nghĩa thế nào với quyết tâm cải cách của Chính phủ, thưa ông?
– Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số tạo ra động lực chính trị ban đầu rất lớn, nhưng chỉ riêng áp lực này thôi sẽ không đủ để duy trì quá trình cải cách bền vững. Bởi lẽ, áp lực này sẽ biến thiên theo thời gian, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế bên ngoài và ổn định vĩ mô bên trong.
Thực tế, kỷ luật thực thi mới là yếu tố quyết định then chốt. Bản thân các nghị quyết, dù tốt đến đâu, cũng không thể tự động thay đổi được động cơ, áp lực hay chế tài với những người trực tiếp xử lý hồ sơ, đặc biệt khi chính sách được đẩy xuống cấp địa phương. Chưa kể, nguy cơ điều kiện kinh doanh có thể bị cắt giảm về hình thức ở cấp này, nhưng lại được tái tạo dưới các dạng thức khác.
Để dòng chảy cải cách không bị nghẽn, cần biến áp lực tăng trưởng thành kỷ luật thực thi thường xuyên qua đo lường chi phí thực tế của doanh nghiệp. Kết quả cải cách của từng bộ, ngành, địa phương cần được công khai và xử lý nghiêm hiện tượng cắt giảm hình thức, biến tướng.
– Sau khi các nghị quyết được ban hành, yếu tố nào sẽ quyết định cuộc cải cách này đi vào thực chất hay không, thưa ông?
– Về tư duy chính sách, định hướng phân cấp tối đa, đưa thẩm quyền giải quyết thủ tục từ Trung ương về địa phương là hoàn toàn đúng đắn. Việc này nhằm giảm tải cho các bộ, và tăng chủ động với địa phương.
Tuy nhiên, khảo sát của chúng tôi tại địa phương cho thấy 3 nút thắt lớn, gồm năng lực cán bộ, cơ sở hạ tầng hạn chế và tâm lý níu giữ quyền lực của cấp sở ngành. Khi áp lực dồn từ trên xuống nhưng cấp cơ sở chưa sẵn sàng, dòng chảy cải cách rất dễ bị nghẽn.
Đơn cử, khi chúng tôi khảo sát trung tâm hành chính công của một phường tại TP HCM cách đây không lâu, cán bộ ở đó phản ánh rằng họ phải vận hành cùng lúc 8 nền tảng công nghệ khác nhau do 8 bộ, ngành đưa xuống. Do các hệ thống này thiếu liên thông, nên một việc đơn giản như thống kê số hồ sơ quá hạn hoặc sắp quá hạn của từng lĩnh vực, rồi chuyển thông tin đến các công chức phụ trách theo dõi, xử lý cũng mất thời gian đáng kể. Vì thế, nếu thiết kế và thực thi không đúng, chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, người dân có nguy cơ tăng do “số hóa quan liêu”.
Mặt khác, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoàn toàn có thể bị thiết kế quá mức cần thiết, hoặc địa phương tự ý đưa ra yêu cầu, hồ sơ riêng. Đây chính là lý do vì sao tôi nhấn mạnh các quy trình cần được chuẩn hóa ngay từ cấp bộ, không cho phép địa phương tự ý thêm bất kỳ giấy tờ nào ngoài danh mục. Bởi sự tự phát này rất dễ dẫn đến tình trạng “phố thông, nhưng ngõ ngách lại tắc”. Nếu không xử lý khéo khâu thực thi ở cơ sở, dòng chảy cải cách từ cấp bộ xuống địa phương có nguy cơ làm tăng chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, những cụm từ như “giấy xác nhận”, “ý kiến chấp thuận”, “văn bản phê duyệt”… có thể là biến thể của giấy phép con. Hậu kiểm bắt buộc phải có quy tắc, quy chuẩn minh bạch để khâu này không trở thành rào cản mới của doanh nghiệp.
– Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp giám sát độc lập và lập đề án chấm điểm các bộ, ngành trong cắt giảm ĐKKD. Ông đánh giá ra sao về cơ chế này?
– Việc giao quyền cho Bộ Tư pháp làm cơ quan độc lập giám sát các bộ, ngành khác chứng tỏ Chính phủ đã nhìn ra điểm nghẽn trong thực thi của giai đoạn trước. Điều này gợi nhắc kinh nghiệm thành công của những năm 2000 dưới thời Thủ tướng Phan Văn Khải, khi chúng ta có một Tổ giám sát thi hành Luật Doanh nghiệp hoạt động cực kỳ hiệu quả.
Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu áp lực giám sát chỉ dừng lại ở các cơ quan hành chính với nhau. Đo lường cải cách bằng các giải pháp thuần túy hành chính rất dễ rơi vào bẫy “làm đẹp số liệu”.
TS Nguyễn Đình Cung từng kể, trước đây khi làn sóng cắt giảm giấy phép con dâng cao, các bên liên quan đã gắn ba chữ “đơn giản hóa” vào cụm “cắt giảm ĐKKD”. Nghe thì rất hay, nhưng ba chữ này đã không thể hiện được tinh thần cải cách. Thay vì xóa bỏ, họ chỉ cần sửa vài chữ, giữ lại nguyên vẹn khung quản lý, tạo ra dư địa tùy nghi diễn giải ở cấp dưới. Đó chính là cửa ngõ của nhũng nhiễu, tham nhũng.
Bên cạnh đó, việc đánh giá tác động chính sách đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, điều mà một cơ quan pháp lý thuần túy như Bộ Tư pháp khó có thể bao quát toàn diện. Nguồn thông tin phản hồi xác thực nhất sẽ đến từ bản thân các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, tổ chức đại diện cho doanh nghiệp như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Để việc giám sát là thực chất, hệ thống đánh giá phải mở ra cho những bên có lợi ích liên đới trực tiếp. Bộ Tư pháp cần có cơ chế liên kết, tích hợp dữ liệu từ các thiết chế độc lập này để hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá của mình. Nếu không có tiếng nói và sự giám sát của cộng đồng này, cải cách có thể rơi vào kịch bản cũ, đó là hoàn thành chỉ tiêu trên báo cáo, nhưng doanh nghiệp vẫn “kêu trời”.
– Để tránh việc kết quả chỉ dừng lại trên giấy, theo ông cần thêm giải pháp căn cơ nào nhằm đưa dòng chảy cải cách đến thành công?
– Thực tế, các cách như siết KPI hay tinh giản biên chế thuần túy thường khó mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Vì vậy, bên cạnh những chỉ tiêu này, Chính phủ có thể cân nhắc một số giải pháp sau.
Thứ nhất, thu thập số liệu phải là ưu tiên hàng đầu. Cơ quan quản lý cần tổ chức khảo sát nhanh hàng tháng với các doanh nghiệp trực tiếp làm thủ tục, và tránh phụ thuộc vào số liệu báo cáo thành tích trên giấy của các đơn vị. Điều này hoàn toàn đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng, là chuyển từ đúng trên giấy tờ sang đúng trong cuộc sống.
Đo lường phải bằng những số liệu rất cụ thể trên thực địa. Ví dụ, một thủ tục hành chính, thời gian người dân, doanh nghiệp phải đi lại bao lâu, mất mấy lần và tốn bao nhiêu tiền?
Thứ hai, công khai số liệu thực thi của các sở, ngành, địa phương để tạo áp lực dư luận. Khi con số được đưa ra rõ ràng, các địa phương sẽ nhìn nhau, từ đó tạo ra áp lực thi đua và giám sát lẫn nhau rất lớn.
Thứ ba, thiết lập bộ lọc tự động ngăn chặn tái diễn “giấy phép con”. Phải xây dựng cơ chế kiểm tra, thanh tra đánh giá kết hợp với các biện pháp khảo sát để giám sát chặt chẽ tình trạng biến tướng của ĐKKD.
Thứ tư, chuẩn hóa quy trình khi phân cấp. Tức là, cấp dưới chịu trách nhiệm thực thi trực tiếp, nhưng cấp trên cần đưa ra hệ thống, biểu mẫu thống nhất và thực hiện đánh giá thống kê. Biện pháp này nhằm kiểm soát, không để các địa phương biến quyền lực được phân cấp thành sự diễn giải riêng hoặc tự ý cài cắm lợi ích cục bộ vào quy trình.
Thứ năm, cơ chế hậu kiểm phải tương ứng với mức độ rủi ro, và việc đánh giá phải dựa hoàn toàn vào dữ liệu.
Cuối cùng, tôi cho rằng nên có một tổ giám sát thực thi đủ mạnh, là sự liên kết chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp, các hiệp hội doanh nghiệp và VCCI. Đây sẽ là tổ có thực quyền vì hoạt động dưới sự chủ trì của Bộ Tư pháp, đồng thời nắm thông tin thực tế và có động cơ cải cách mạnh mẽ nhất nhờ sự tham gia trực tiếp của cộng đồng doanh nghiệp. Thành công của giai đoạn cải cách đầu thập niên 2000 có đóng góp quan trọng từ một tổ giám sát thực quyền như vậy.
Suy thoái kinh tế luôn mang đến những bất định, nhưng tỷ phú Mark Cuban - "cá mập" đình đám của chương trình Shark Tank - cho rằng việc dự đoán thị trường là vô nghĩa. Thay vào đó, ông đưa ra cẩm nang 9 bước giúp mỗi cá nhân chủ động xây dựng bộ đệm tài chính bền vững.
Đây không chỉ là lời khuyên cho giới đầu tư, mà còn là bài học thực tế cho bất kỳ ai đang muốn giữ vững tay lái trước những cơn gió ngược của nền kinh tế.
Tái cơ cấu nợ, đừng để lãi suất ăn mòn thu nhập
Tỷ phú Cuban nhấn mạnh việc xử lý các khoản nợ lãi suất cao là ưu tiên hàng đầu. "Nợ xấu" giống như một lỗ hổng trong túi tiền, khiến dòng tiền của bạn bị bào mòn bất kể kinh tế đang tăng trưởng hay suy thoái. Việc rà soát, tìm cách chuyển đổi sang các gói vay có lãi suất thấp hơn hoặc ưu đãi là cách nhanh nhất để tối ưu hóa ngân sách cá nhân.
Quỹ dự phòng: "Chìa khóa" của cơ hội
"Cơ hội lớn nhất chỉ đến khi bạn là người có sẵn tiền mặt", Cuban khẳng định. Một quỹ khẩn cấp đủ sống trong 6 tháng không chỉ giúp bạn an tâm trước các biến cố như mất việc, mà còn là "vé thông hành" để bạn sẵn sàng nắm bắt cơ hội khi người khác buộc phải bán tháo tài sản. Theo vị tỷ phú, trong thời kỳ khó khăn, tiền mặt chính là vị thế.
Hiểu rõ "sức khỏe" doanh nghiệp
Cuban khuyên người lao động đừng đợi đến khi nhận thông báo cắt giảm mới bắt đầu lo lắng mà hãy dành thời gian phân tích cách công ty bạn tạo ra doanh thu. Việc hiểu rõ rủi ro của ngành nghề mình đang làm sẽ giúp bạn sớm nhận diện được các tín hiệu bất ổn, từ đó có lộ trình nâng cao kỹ năng hoặc xây dựng nguồn thu nhập dự phòng ngay từ sớm.
"Nâng cấp" bản thân để không thể thay thế
Trong thời kỳ suy thoái, Cuban luôn khẳng định kỹ năng, cũng giống như tài sản, cần được đầu tư để sinh lãi kép. Việc chủ động học thêm các lĩnh vực mới như AI, phân tích dữ liệu hay quản lý dự án sẽ tạo ra "lớp giáp" bảo vệ bạn trước làn sóng sa thải. Người có kỹ năng càng đa dạng, cơ hội để nhà tuyển dụng giữ chân bạn càng lớn.
Sống như một sinh viên
"Hóa đơn càng thấp, áp lực càng nhỏ", Cuban chia sẻ triết lý sống tối giản. Điều này không có nghĩa là bạn phải khổ hạnh, mà là cắt giảm những chi phí lãng phí như các dịch vụ đăng ký không sử dụng, đi ăn ngoài quá nhiều. Khi đã quen với lối sống tinh gọn, sự biến động của thu nhập sẽ ít gây ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của bạn hơn.
Đồ cũ là lựa chọn thông minh
Tại sao phải mua những món đồ mới cứng khi chúng sẽ mất giá ngay khi rời khỏi cửa hàng? Vị tỷ phú khuyến khích ưu tiên mua đồ cũ đối với các vật dụng như xe cộ, nội thất hay đồ điện tử. Việc tiết kiệm từ những món đồ đã qua sử dụng giúp bạn bảo toàn dòng tiền mặt quan trọng, tạo thêm nguồn lực để trả nợ hoặc bổ sung vào quỹ khẩn cấp.
Ngừng tin vào các dự báo của "chuyên gia"
Thế giới vận hành theo hiệu ứng cánh bướm, nơi các sự kiện nhỏ có thể gây ra hệ quả lớn. Cuban cho rằng thay vì chạy theo những dòng tít dự đoán suy thoái từ các chuyên gia, vốn thường có thành tích dự báo không mấy ấn tượng, bạn nên tập trung vào việc chuẩn bị bền bỉ. Hành động dựa trên nỗi sợ từ báo chí chỉ khiến bạn dễ đưa ra các quyết định sai lầm.
Không bán tháo trong hoảng loạn
Lịch sử đã chứng minh, những người bán sạch danh mục đầu tư khi thị trường lao dốc thường là những người thua cuộc lớn nhất. Theo vị tỷ phú, việc giữ vững kỷ luật đầu tư giúp bạn tránh biến những khoản lỗ trên giấy tờ thành lỗ thực tế. Bạn đừng cố gắng căn thời gian để bắt đáy mà hãy kiên trì với danh mục đa dạng và để thời gian phục hồi giá trị.
Thẳng thắn đối diện với "con số thật"
Nhiều người rơi vào cảnh túng quẫn vì không dám đối mặt với các con số tài chính của chính mình. Cuban khuyên bạn hãy kiểm toán chi tiêu, số dư nợ và mức độ an toàn trong công việc ngay lúc này. Việc thành thật với tình hình tài chính cá nhân sẽ giúp bạn có những điều chỉnh cần thiết trước khi tình hình trở nên khó kiểm soát hơn.
Việc chuẩn bị cho suy thoái không bao giờ là quá sớm. Giống như lời khuyên từ các chuyên gia tài chính, sự chủ động và kỷ luật chính là hai yếu tố then chốt giúp mỗi cá nhân không chỉ vượt qua giai đoạn khó khăn mà còn tạo tiền đề cho những bứt phá trong tương lai.
Mùa hè đã điểm, thời tiết cũng bước vào giai đoạn nắng nóng nhất. Tại TPHCM, Đà Nẵng, Hà Nội, nhiệt độ ngoài trời có lúc hơn 40 độ C. Thậm chí, với những công việc ngoài trời liên tục, nhân viên đang phải chịu nhiệt độ trên mặt sân còn cao hơn nữa.
Do đó, những ngày này, kem chống nắng trở thành một trong những vật dụng thiết yếu để bảo vệ làn da dưới tác động tiêu cực của ánh nắng mặt trời, không chỉ chống lão hóa mà còn giúp phòng ngừa ung thư da.
Chị Hoa (Phường Thạnh Mỹ Tây, TPHCM) cho biết mỗi ngày ra khỏi nhà lúc 9-10h, khi nắng chưa gay gắt nhưng cũng khiến da chị rát bỏng. Bên cạnh tăng thêm lớp áo khoác ngoài, chị Hoa cũng tăng cường dùng kem chống nắng phổ rộng hơn để bảo vệ làn da.
“Có rất nhiều loại kem chống nắng tốt với dải giá đa dạng. Giai đoạn này không chỉ sắm cho bản thân, tôi còn khuyến khích bạn trai và em trai sử dụng thêm kem chống nắng để bảo vệ da. Tôi lựa chọn dòng kem chống nắng phổ rộng, phù hợp với da để cho hiệu quả tốt nhất nhưng giá cũng rất phải chăng”, chị Hoa chia sẻ.
Không phải dùng kem chống nắng xịn trị giá hàng triệu đồng là có được hiệu quả cao, mà để đạt hiệu quả tối ưu. Những người có kinh nghiệm khuyên người dùng nên lựa chọn sản phẩm phù hợp với từng loại da. Cùng với đó, sử dụng số lần phù hợp với lịch sinh hoạt sẽ đạt được hiệu quả tối ưu nhất.
Người làm văn phòng, không chỉ thoa kem chống nắng trước khi ra đường đến cơ quan, mà sau giờ nghỉ trưa nên thoa lại một lần để chống tia UV từ màn hình máy tính.
Những người làm việc ngoài trời nhiều hoặc đang du lịch ở khu vực nắng nóng… tốt nhất nên dặm lại kem chống nắng sau mỗi 2 đến 3 tiếng. Bởi sau khoảng thời gian này, lớp kem sẽ bị giảm tác dụng do mồ hôi, bã nhờn hoặc bị cọ xát, khiến da không còn được bảo vệ tối ưu khỏi tia UV.
Bạn Bảo Trân (Phú Nhuận, TPHCM) cho biết trước đây chi rất nhiều tiền mua kem chống nắng, nhưng do không biết cách sử dụng nên da vẫn bị sạm đen. Sau khi được bạn bè tư vấn lựa chọn và cách dùng, da Bảo Trân đã được cải thiện tốt hơn với chi phí “vừa túi tiền”.
Dưới đây là 5 bí quyết chọn kem chống nắng hiệu quả, kể cả với những loại giá chưa tới 500.000 đồng vẫn có tác dụng tốt, theo kinh nghiệm từ những người đã dùng kem chống nắng lâu năm:
Chọn kem chống nắng có phổ rộng: Để bảo vệ làn da khỏi những tác động xấu từ môi trường gây tổn thương da cần lựa chọn những loại kem chống nắng có phổ rộng. Song song, thoa kem chống nắng mỗi ngày sẽ giúp chống lão hóa da, hạn chế nguy cơ gây ung thư.
Lựa chọn chỉ số chống nắng: Nên lựa chọn những loại kem có chỉ số SPF từ 50 trở lên vì chúng giúp bảo vệ tốt cho da, đặc biệt giai đoạn nắng nóng đỉnh điểm hiện nay. Trên thị trường, có rất nhiều loại kem chống nắng có chỉ số SPF 30, thậm chí có SPF dưới 15 không thể chống lại những tác động xấu từ các tia tử ngoại.
Sử dụng kem chống nắng kháng nước: Loại kem này có được thể giữ trên da khoảng 40-80 phút khi đổ mồ hôi hoặc đi bơi dưới thời tiết nóng. Nên thoa lại kem chống nắng ít nhất 15 phút trước khi ra ngoài để kem phát huy tác dụng tốt nhất.
Kem chống nắng hóa học: Kem chống nắng hóa học có kết cấu mỏng nhẹ, dễ thẩm thấu vào da. Loại kem này cũng có khả năng chống tia UV tốt, bảo vệ làn da bằng cách chuyển hóa nhiệt ra ngoài giúp bảo vệ da khỏi bị nóng. Tuy nhiên, bạn cần chọn những loại kem phù hợp với cấu tạo da (da khô, da nhạy cảm, da dầu...) để tránh tình trạng bị kích ứng, nổi mụn...
Kem chống nắng vật lý: Kem chống nắng vật lý giống như một lớp màn chắn bảo vệ da khỏi tác động xấu từ ánh nắng mặt trời gây lão hóa, ung thư da. Bên cạnh đó, loại kem này còn có tác dụng khi tia tử ngoại tiếp xúc với lớp kem sẽ phản xạ ra ngoài, tránh gây hại cho da.
iMoney là dòng sản phẩm chuyên các bài viết về tư vấn đầu tư, tư vấn tiêu dùng, được đăng tải vào thứ 4 mỗi tuần trên báo Dân trí.
iMoney sẽ giải đáp thắc mắc của độc giả về đầu tư, tiêu dùng, tư vấn tài chính, các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản, tiền mã hóa, tư vấn tiêu dùng cũng như chia sẻ các tip tiêu dùng thông minh, hiệu quả...
Chính phủ ban hành Nghị định số 198 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7.
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ 20 đơn vị. Tuy nhiên, đơn vị này thực hiện việc đổi tên Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thành Vụ Tín dụng. Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính thành Vụ Dự báo, Thống kê.
Đồng thời Nghị định số 198 cũng bổ sung quy định "Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước" và thay đổi số lượng phòng thuộc các vụ.
Theo quy định mới, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ bao gồm: Vụ Chính sách tiền tệ; Vụ Thanh toán; Vụ Tín dụng; Vụ Dự báo, Thống kê; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Pháp chế; Vụ Tài chính - Kế toán; Vụ Tổ chức cán bộ; Văn phòng; Thanh tra Ngân hàng Nhà nước; Sở Giao dịch.
Các cục thuộc Ngân hàng Nhà nước gồm: Cục Công nghệ thông tin; Cục Phát hành và Kho quỹ; Cục Quản lý ngoại hối; Cục Phòng, chống rửa tiền; Cục Quản lý, Giám sát tổ chức tín dụng; Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Ngoài ra là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực (Ngân hàng Nhà nước khu vực); Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam và Thời báo Ngân hàng.
Ngoại trừ hai đơn vị gồm Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam và Thời báo Ngân hàng là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước, các đơn vị còn lại là tổ chức hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương.
Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước.
Hiện tại, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là ông Phạm Đức Ấn, thay bà Nguyễn Thị Hồng được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội hồi tháng 4. Các Phó Thống đốc đương nhiệm gồm các ông: Đoàn Thái Sơn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Thanh Hà, Phạm Quang Dũng, Nguyễn Ngọc Cảnh.