Trong số đó, khoai lang luộc là món ăn đơn giản, quen thuộc với người Việt nhưng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Theo tiến sĩ Teresa Fung, giáo sư dinh dưỡng tại Trường Y tế Công cộng Harvard T.H. Chan (Mỹ), một bữa ăn nhẹ giữa buổi chiều có thể giúp kiểm soát cơn đói, duy trì năng lượng và tránh ăn quá nhiều vào bữa tối.
Khoai lang là thực phẩm giàu chất xơ và carbohydrate phức hợp, giúp cơ thể tiêu hóa chậm hơn, nhờ đó tạo cảm giác no lâu và giữ đường huyết ổn định hơn so với các loại bánh ngọt hay nước ngọt.
Khoai lang còn cung cấp nhiều beta-carotene – tiền chất của vitamin A, cùng vitamin C, kali và các chất chống oxy hóa.
Đặc biệt, lượng kali trong khoai lang giúp cân bằng natri trong cơ thể, hỗ trợ kiểm soát huyết áp, trong khi chất xơ góp phần nuôi lợi khuẩn đường ruột và cải thiện tiêu hóa.
Nhờ chỉ số đường huyết ở mức trung bình (đặc biệt khi luộc), khoai lang cũng giúp năng lượng được giải phóng từ từ, hạn chế cảm giác mệt mỏi hay thèm ăn vào cuối buổi chiều.
Các chuyên gia khuyến nghị, bữa xế chỉ nên vừa đủ để giảm đói trước bữa tối.
Với khoai lang, 1 củ cỡ vừa (khoảng 100 – 150 gram) là lượng phù hợp cho hầu hết người trưởng thành. Nên chọn khoai luộc hoặc hấp, hạn chế chiên hoặc thêm nhiều đường để tránh làm tăng năng lượng không cần thiết.
Ngoài ra, có thể kết hợp 1 củ khoai lang luộc và 1 hũ sữa chua không đường. Sự kết hợp này cung cấp chất xơ, protein, lợi khuẩn, giúp no lâu, hỗ trợ tiêu hóa và hạn chế ăn quá nhiều vào bữa tối, theo Harvard Health Publishing.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 6/4, ThS.BS Lê Hoàng Hùng, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết bệnh nhi từ Phú Quốc nhập viện nửa đêm trong tình trạng sưng nề, đau nhiều ở mắt phải và đầu. Vết thương mi dưới mắt phải dài 6 mm, rách kết mạc, xuất huyết củng mạc, đồng tử phải dãn 4 mm và phản xạ ánh sáng yếu.
CT scan đầu mặt thấy xuất huyết võng mạc mắt phải, dị vật là khối kim loại hình cầu đường kính 5 mm nằm sát màng não gần thùy thái dương bên phải. Nếu mổ chậm trễ, bệnh nhi dễ viêm xương, áp xe nội sọ, viêm màng não vi khuẩn với nguy cơ nhiễm trùng nặng, khiến quá trình điều trị khó khăn hơn và tỷ lệ tử vong cao.
Bác sĩ phẫu thuật khẩn, mở hộp sọ để gắp dị vật là viên bi sắt ngay trong đêm. Sau mổ, bé tỉnh táo, hết đau và sưng mắt, kiểm soát được nguy cơ nhiễm trùng. Dù vậy, do tổn thương nhãn cầu và xuất huyết võng mạc quá nghiêm trọng, bệnh nhi có nguy cơ cao bị mất thị lực hoàn toàn ở mắt phải.
BS.CK1 Nguyễn Thành Đô, Phó trưởng khoa Ngoại Thần kinh, cho biết mỗi năm bệnh viện tiếp nhận khoảng một đến hai trường hợp dị vật vùng đầu mặt do nghịch ná bắn chim hoặc súng tự chế khiến đạn găm vào đầu. Đây được xem là những tai nạn nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng.
Bác sĩ Đô khuyến cáo phụ huynh không sử dụng hoặc lưu trữ các loại vật dụng có tính sát thương trong nhà. Người lớn cần sát sao con trẻ, cất giữ các đồ vật nguy hiểm xa tầm tay các em. Nhà trường và gia đình nên thường xuyên giáo dục, nhắc nhở trẻ không được chơi đùa hoặc tự chế tạo các loại đồ chơi gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng, nhằm tránh những tai nạn thương tâm lặp lại.
Lê Phương
Nguồn: https://vnexpress.net/nghich-na-ban-chim-be-trai-bi-bi-sat-xuyen-so-5058839.html

Tại Bệnh viện Quân y 175, sau khi loại trừ các nguyên nhân bệnh lý thực thể, các bác sĩ tìm ra "thủ phạm" nằm ngay trong lòng bàn tay chàng trai mỗi đêm: chiếc điện thoại di động. Nam được chẩn đoán mất ngủ do vệ sinh giấc ngủ kém, không cần dùng thuốc, giải pháp duy nhất là "cách ly" thiết bị điện tử trước khi ngủ. Sau một tháng kiên trì điều chỉnh hành vi, giấc ngủ mới dần quay trở lại với Nam.
Thảo, 18 tuổi, cũng đến gặp bác sĩ với tình trạng đau đầu âm ỉ vùng trán suốt hai tháng kèm khó vào giấc, thậm chí đến 2-3 giờ sáng mới có thể ngủ. Theo lời kể của người mẹ, Thảo học bài đến tận nửa đêm, dần trở nên ít nói, đánh mất mọi sở thích cá nhân. Kết quả chẩn đoán cho thấy cô bị đau đầu căng thẳng kèm trầm cảm, phác đồ điều trị là dùng thuốc và trị liệu tâm lý.
Nam và Thảo không phải là những trường hợp cá biệt. Tại phòng khám Nội thần kinh, Bệnh viện Quân y 175, những người trẻ dưới 30 tuổi hiện chiếm đến 40-50% tổng số ca khám đau đầu, mất ngủ mỗi ngày. TS.BS Hoàng Tiến Trọng Nghĩa, Chủ nhiệm khoa, cho biết xu hướng này đang trẻ hóa rõ rệt khi rất nhiều bệnh nhân dưới 30 tuổi đến khám vì đau đầu, mất ngủ, hoặc cả hai. Riêng nhóm dưới 22 tuổi chiếm khoảng 8% số ca đau đầu và 5-6% số ca rối loạn giấc ngủ tại đây.
Tình hình tương tự diễn ra tại các khoa thần kinh của Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội..., khi số người trẻ đến khám do mất ngủ ngày càng tăng.
"Bức tranh tại Việt Nam đang đồng nhất với xu hướng toàn cầu", bác sĩ Nghĩa cho biết. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 50% người trưởng thành đau đầu ít nhất một lần mỗi năm. Tại Đức, một nghiên cứu chỉ ra 60% sinh viên có chất lượng giấc ngủ kém.
Nguyên nhân không chỉ đến từ áp lực học hành thi cử, đặc biệt là "cuộc chiến" chuyển cấp của học sinh lớp 12, mà còn từ lối sống hiện đại. Với sinh viên, không gian trọ chật hẹp, ồn ào, lịch làm thêm đêm khuya và thói quen lạm dụng thiết bị điện tử đã trực tiếp tàn phá đồng hồ sinh học.
Đau đầu thường là triệu chứng đầu tiên khiến người trẻ đi khám. Nhưng khi bóc tách lớp vỏ ấy, các bác sĩ thường phát hiện cả một "hệ sinh thái" bệnh lý đi kèm như mệt mỏi, lo lắng, giảm tập trung và hay quên. Thống kê cho thấy hơn 50% bệnh nhân mất rất nhiều thời gian mới có thể dỗ giấc, hoặc thường xuyên tỉnh giấc giữa đêm, khiến cơ thể không bao giờ được phục hồi trọn vẹn.
Không dừng lại ở đó, việc thiếu ngủ mãn tính còn làm tăng xu hướng ăn đêm và giảm tần suất vận động, từ đó dễ dẫn đến tăng cân không kiểm soát.
Về mặt sức khỏe tâm thần, bệnh nhân rất dễ đối mặt với các hội chứng trầm cảm và đặc biệt là rối loạn lo âu. Điều này vô tình tạo ra một vòng lặp luẩn quẩn cực kỳ đáng ngại khi rối loạn lo âu kích thích đau đầu, mất ngủ và ngược lại, khiến các triệu chứng trở nên dai dẳng và khó điều trị hơn.
Đáng ngại nhất, mất ngủ kéo dài còn có thể gây nên những tổn thương nặng nề cho hệ tim mạch, dẫn đến tăng huyết áp hoặc thậm chí là đột quỵ.
Vì tính chất phức tạp của bệnh, việc điều trị đau đầu và mất ngủ kéo dài bắt buộc phải căn cứ vào nguyên nhân cụ thể cũng như các bệnh lý đồng mắc của từng bệnh nhân. Do đó, thời gian điều trị ở mỗi trường hợp sẽ có sự khác biệt, nhưng thông thường một liệu trình chuẩn phải kéo dài ít nhất khoảng 6 tháng để đạt hiệu quả ổn định.
Hiện, y học đang phối hợp nhiều phương pháp điều trị tiên tiến bao gồm điều trị nội khoa bằng thuốc, áp dụng các thiết bị điều hòa thần kinh như kích thích từ trường xuyên sọ, hoặc kết hợp các liệu pháp không dùng thuốc như liệu pháp nhận thức - hành vi tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của mỗi người.
Nhằm chủ động phòng ngừa những ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, các bác sĩ khuyến cáo người dân nên chủ động xây dựng lối sống lành mạnh, đảm bảo dinh dưỡng và duy trì tập luyện thể dục thể thao thường xuyên. Trước khi đi ngủ, cần tạo thói quen thư giãn tinh thần bằng các hình thức lành mạnh như đọc sách giấy, đồng thời tắt hoặc tránh xa các thiết bị điện tử.
Quan trọng hơn, khi có dấu hiệu bất thường, cần đến cơ sở chuyên khoa sớm, tránh để bệnh chuyển nặng thành mãn tính khó chữa, bác sĩ nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Kem là món tráng miệng được nhiều người yêu thích nhưng cũng khiến không ít người, đặc biệt là người mắc đái tháo đường hoặc tiền đái tháo đường, lo ngại về ảnh hưởng đến đường huyết. Theo Verywell Health, kem có thể làm tăng đường huyết, song phản ứng của cơ thể không giống các thực phẩm nhiều đường khác do chứa cả chất béo và protein.
Đường huyết tăng sau ăn
Giống như các thực phẩm giàu carbohydrate khác, kem được cơ thể phân giải thành glucose trong quá trình tiêu hóa. Khi glucose đi vào máu, đường huyết bắt đầu tăng.
Mức tăng phụ thuộc chủ yếu vào lượng carbohydrate trong khẩu phần. Carbohydrate trong kem đến từ đường bổ sung, đường lactose tự nhiên trong sữa và các nguyên liệu như bánh quy, kẹo, caramel được trộn thêm. Vì vậy, khẩu phần càng lớn thì lượng carbohydrate nạp vào càng nhiều, đường huyết càng dễ tăng cao.
Chất béo và protein làm chậm quá trình hấp thu
Khác với nước ngọt hay kẹo, kem chứa nhiều chất béo và protein. Hai thành phần này làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày, khiến carbohydrate được tiêu hóa và hấp thu từ từ hơn. Nhờ đó, glucose đi vào máu chậm hơn, đường huyết không tăng quá nhanh ngay sau khi ăn. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa lượng đường hấp thu sẽ ít hơn mà chỉ làm thay đổi tốc độ hấp thu.
Theo các chuyên gia, tốc độ tiêu hóa còn phụ thuộc vào hàm lượng chất béo của kem, lượng kem ăn vào, việc ăn kem riêng hay cùng các thực phẩm khác cũng như khả năng tiêu hóa của từng người.
Đường huyết có thể đạt đỉnh muộn hơn
Do quá trình tiêu hóa diễn ra chậm, đường huyết sau khi ăn kem có thể đạt đỉnh muộn hơn so với nhiều món tráng miệng khác. Đây cũng là lý do không nên đánh giá tác động của kem chỉ dựa vào vị ngọt. Một loại kem có thể không làm đường huyết tăng ngay lập tức nhưng vẫn khiến đường huyết tăng đáng kể sau đó.
Thời điểm đường huyết đạt đỉnh chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng chất béo, protein, lượng đường bổ sung, khẩu phần ăn và đặc điểm chuyển hóa của mỗi người.
Lưu ý khi ăn kem
Khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng lớn đến đường huyết. Nửa cốc kem chứa ít carbohydrate hơn nhiều so với một tô kem lớn hoặc khẩu phần tại nhà hàng. Ăn càng nhiều kem, cơ thể càng hấp thu nhiều glucose, đồng thời nạp thêm nhiều đường và calo, khiến đường huyết dễ tăng cao hơn.
Thành phần của kem cũng tạo ra sự khác biệt. Một số loại chứa nhiều đường bổ sung hoặc các nguyên liệu như bánh quy, caramel, kẹo, trong khi một số khác được bổ sung protein, chất xơ hoặc sử dụng chất tạo ngọt thay thế. Chất xơ và protein có thể giúp làm chậm quá trình hấp thu glucose, nhưng ngay cả kem ít đường vẫn có thể làm tăng đường huyết nếu tổng lượng carbohydrate cao.
Ngoài ra, phản ứng đường huyết ở mỗi người không giống nhau. Tuổi tác, độ nhạy insulin, mức độ vận động, chất lượng giấc ngủ, căng thẳng và tình trạng chuyển hóa đều ảnh hưởng đến cách cơ thể xử lý glucose. Vì vậy, rất khó dự đoán chính xác mức tăng đường huyết chỉ dựa trên một khẩu phần kem.
Theo Healthline, người mắc đái tháo đường không nhất thiết phải kiêng hoàn toàn kem mà vẫn có thể thưởng thức với lượng vừa phải nếu kiểm soát tốt đường huyết và duy trì chế độ ăn cân đối. Nên ưu tiên các loại kem ít đường bổ sung, hạn chế kem chứa nhiều bánh quy, caramel, kẹo hoặc siro vì thường chứa nhiều carbohydrate hơn. Ăn kem sau bữa chính hoặc kết hợp cùng thực phẩm giàu protein, chất xơ cũng có thể giúp làm chậm quá trình hấp thu glucose so với ăn kem riêng lẻ.
Tin Gốc: Vnexpress

