Mới đây, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) ghi nhận hàng nghìn ca mắc cyclosporiasis tại nhiều bang, trong đó hàng trăm trường hợp được cho là liên quan đến cùng một nguồn thực phẩm nhiễm bẩn.
Dù giới chức y tế vẫn chưa xác định chính xác loại thực phẩm gây bùng phát, nhưng các loại rau ăn sống và rau salad đang được đặc biệt theo dõi.
Cyclospora là một loại ký sinh trùng hiển vi có thể làm ô nhiễm rau củ, trái cây tươi thông qua nguồn nước tưới, đất trồng hoặc trong quá trình thu hoạch, sơ chế và vận chuyển. Khi xâm nhập vào cơ thể, ký sinh trùng này gây bệnh cyclosporiasis với các triệu chứng điển hình như tiêu chảy nhiều lần, phân lỏng hoặc toàn nước, đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, mệt mỏi, đau nhức cơ thể, chán ăn và sụt cân.
Một số người bệnh có thể sốt nhẹ. Đối với người khỏe mạnh, bệnh thường không đe dọa tính mạng nhưng có thể kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần nếu không được điều trị.
Trẻ nhỏ, người cao tuổi và những người có hệ miễn dịch suy giảm là nhóm có nguy cơ mất nước và phải nhập viện cao hơn.
Khác với nhiều quốc gia phương Tây, nơi rau sống chủ yếu xuất hiện trong các món salad, bữa cơm của người Việt có rất nhiều loại rau được ăn trực tiếp mà không qua chế biến nhiệt. Từ xà lách, rau mùi, húng quế, húng lủi, tía tô, diếp cá cho đến các loại rau thơm ăn kèm phở, bún, bánh cuốn, gỏi cuốn hay bún chả đều là những thực phẩm quen thuộc trong mùa hè.
Nếu nguồn nước tưới hoặc quá trình sơ chế không đảm bảo vệ sinh, các loại rau này có thể trở thành con đường đưa ký sinh trùng, vi khuẩn hoặc vi rút gây bệnh đường tiêu hóa vào cơ thể. Thời tiết nóng ẩm của mùa hè cũng khiến thực phẩm dễ bị ô nhiễm hơn nếu bảo quản không đúng cách.
Các chuyên gia cho biết rửa rau dưới vòi nước sạch vẫn là bước cần thiết trước khi sử dụng, tuy nhiên biện pháp này không bảo đảm loại bỏ hoàn toàn Cyclospora. Loại ký sinh trùng này có thể bám rất chặt vào bề mặt lá hoặc ẩn trong các khe nhỏ của rau. Với những loại rau có lớp sáp tự nhiên, việc làm sạch càng trở nên khó khăn hơn.
Việc ngâm rau bằng nước sạch kết hợp với giấm hoặc dung dịch rửa rau chuyên dụng có thể giúp giảm lượng ký sinh trùng bám trên bề mặt nhưng cũng không thể tiêu diệt hoàn toàn chúng.
Theo các chuyên gia, trong một số trường hợp, nguồn ô nhiễm không nằm trên bề mặt thực phẩm mà đến từ nguồn nước sử dụng trong quá trình canh tác.
Khi đó, ký sinh trùng có thể đã xâm nhập vào bên trong mô thực vật, khiến việc rửa nhiều lần hoặc gọt bỏ lớp ngoài cũng không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Nhìn chung, nguy cơ sẽ thấp hơn đối với các loại thực phẩm được nấu chín hoàn toàn, thực phẩm đóng hộp hoặc các loại trái cây có lớp vỏ dày phải gọt bỏ trước khi ăn như chuối, cam, bưởi, dứa hay dưa hấu.
Các nghiên cứu cho thấy việc đun nóng thực phẩm ở nhiệt độ khoảng 72 độ C trở lên có thể tiêu diệt ký sinh trùng. Vì vậy trong thời điểm lo ngại về an toàn thực phẩm, các món rau luộc, rau hấp, canh hoặc món xào sẽ là lựa chọn an toàn hơn so với việc ăn hoàn toàn rau sống, đặc biệt đối với trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, người cao tuổi và người có bệnh nền.
Hiện chưa có bằng chứng cho thấy Việt Nam có người nhiễm cyclosporiasis tương tự như tại Mỹ. Tuy nhiên bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ quốc gia nào nếu thực phẩm bị ô nhiễm.
Với thói quen sử dụng nhiều rau sống trong bữa ăn hằng ngày, người Việt vẫn nên chủ động phòng ngừa bằng cách lựa chọn rau có nguồn gốc rõ ràng, rửa nhiều lần dưới vòi nước chảy, hạn chế sử dụng rau đã cắt sẵn nếu không biết rõ điều kiện bảo quản và ưu tiên ăn chín, uống sôi trong những ngày nắng nóng.
Các bác sĩ cũng khuyến cáo, nếu sau khi ăn rau sống hoặc trái cây tươi xuất hiện tình trạng tiêu chảy kéo dài, đau bụng, mệt mỏi hoặc có dấu hiệu mất nước, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được thăm khám và xác định nguyên nhân.
Việc tự ý sử dụng thuốc cầm tiêu chảy có thể làm chậm quá trình chẩn đoán và điều trị nếu nguyên nhân là do ký sinh trùng hoặc các tác nhân gây bệnh khác.
Khi được đưa vào Bệnh viện Bãi Cháy, bệnh nhân mất ngôn ngữ, chụp mạch não cho thấy động mạch thân nền bị tắc hoàn toàn. Đây là mạch máu lớn nằm ở nền sọ, có nhiệm vụ cấp máu cho thân não, tiểu não cùng nhiều trung tâm sống còn của cơ thể, kiểm soát hô hấp, tuần hoàn, nhịp tim, ý thức, vận động, nuốt, nói và thăng bằng. Khi động mạch thân nền bị tắc hoàn toàn, não bộ sẽ rơi vào tình trạng thiếu máu nghiêm trọng, gây "cơn bão thần kinh" có thể cướp đi tính mạng trong thời gian rất ngắn.
Ngày 23/6, bác sĩ Giáp Hùng Mạnh, Trưởng khoa Thần kinh, Bệnh viện Bãi Cháy, cho biết êkíp can thiệp nội mạch cấp cứu hút huyết khối qua đường động mạch và tái thông hoàn toàn mạch máu bệnh nhân. Sau 5 ngày điều trị, bệnh nhân hồi phục tốt, giao tiếp bình thường và không để lại di chứng vận động.
"Bệnh nhân mới 27 tuổi, đang trong độ tuổi lao động, là trường hợp đột quỵ trẻ ít gặp", bác sĩ Mạnh nói.
Tắc động mạch là tình trạng dòng máu trong động mạch bị chặn bởi cục máu đông hoặc mảng xơ vữa. Các mảng bám hình thành từ chất béo, cholesterol, canxi và nhiều chất khác, tích tụ lâu ngày trên thành mạch, khiến lòng mạch hẹp dần hoặc bị bít tắc hoàn toàn.
Người bị tắc động mạch thân nền có thể đột ngột xuất hiện các triệu chứng như chóng mặt dữ dội, mất thăng bằng, nói khó, nuốt khó, yếu hoặc liệt tứ chi, rối loạn ý thức, hôn mê, thậm chí ngừng tim, ngừng thở. Nếu không được tái thông mạch não kịp thời, tỷ lệ tử vong có thể vượt 90%.
Giai đoạn sớm của bệnh dễ bị nhầm với rối loạn tiền đình do biểu hiện tương tự, như đau đầu, nôn ói, chóng mặt, loạng choạng khi đi lại. Sự nhầm lẫn này có thể khiến người bệnh bỏ lỡ "thời gian vàng" điều trị. Khi triệu chứng nặng hơn, bệnh nhân nói khó, nói đớ, nuốt khó, tê yếu tứ chi, hôn mê dần khiến điều trị khó khăn.
Bác sĩ cảnh báo đột quỵ ngày càng trẻ hóa. Khi xuất hiện các dấu hiệu như méo miệng đột ngột, yếu hoặc liệt tay chân, nói khó, nói ngọng, chóng mặt dữ dội, mất thăng bằng, đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân, nhìn mờ hoặc rối loạn ý thức, cần gọi cấp cứu hoặc đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế ngay.
Bệnh nhân N.H.T thăm khám tại AIH với đau lưng kéo dài, tê yếu chân phải, vùng bàn chân phải gần như không thể nhấc lên. Sau điều trị nội khoa, bệnh không cải thiện và ảnh hưởng đến khả năng đi lại.
Qua khám lâm sàng, chụp cộng hưởng từ (MRI), điện cơ và các đánh giá chuyên sâu, bác sĩ CKI Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng đơn vị Ngoại thần kinh và cột sống tại AIH chẩn đoán bệnh nhân bị hẹp ống sống và hẹp lỗ liên hợp nhiều tầng từ L3-L4, L4-L5 đến L5-S1, trong đó các tầng L4-L5 và L5-S1 bị hẹp nặng gây chèn ép thần kinh.
Sau hội chẩn, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi cột sống hai cổng UBE nhằm giải áp thần kinh tại các tầng L4-L5 và L5-S1.
Trong phẫu thuật, ekip nhận thấy tình trạng chèn ép thần kinh rất nặng. Dây chằng vàng vôi hóa và dày lên bất thường, kết hợp với hiện tượng phì đại khớp và xương lamina khiến rễ thần kinh và chùm đuôi ngựa bị chèn ép.
Bác sĩ đã cắt một phần xương lamina và loại bỏ dây chằng vàng vôi hóa, giải phóng các cấu trúc thần kinh bị chèn ép.
Sau phẫu thuật, các triệu chứng đau lưng, tê và yếu chân của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt.
Hai tuần sau phẫu thuật, tình trạng tê đau và yếu chân của bệnh nhân tái phát và ngày càng nặng dù đã tập vật lý trị liệu.
Tái khám tại AIH, bệnh nhân yếu nặng hai chân hơn trước, yếu cả hai tay, tiểu tiện không kiểm soát và mất khả năng vận động. Theo bác sĩ CKI Nguyễn Mạnh Hùng, những biểu hiện này không hoàn toàn phù hợp với bệnh lý hẹp ống sống thắt lưng đơn thuần. Bác sĩ nghi ngờ tồn tại tổn thương thần kinh ở vị trí cao hơn.
Kết quả chụp MRI cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống cổ gây chèn ép tủy nặng tại các tầng C5-C6, C6-C7 và một khối u tủy vùng ngực cao. Đây là những tổn thương khác với bệnh lý vùng thắt lưng trước đó.
Bác sĩ còn ghi nhận bệnh nhân phù hai chân bất thường, bị huyết khối tĩnh mạch sâu ở cả hai chân sau khi thực hiện siêu âm mạch máu. Trước nguy cơ xảy ra biến chứng thuyên tắc mạch máu, ekip ưu tiên kiểm soát huyết khối bằng điều trị nội khoa trước mổ cho bệnh nhân.
Trong cuộc phẫu thuật thứ hai, bác sĩ Hùng sử dụng kỹ thuật ống nong vi phẫu để giải áp tủy cổ tại các tầng C5-C6 và C6-C7, đồng thời vi phẫu lấy bỏ khối u tủy ngực.
Sau phẫu thuật, cảm giác hai tay của bệnh nhân phục hồi, hai chân bắt đầu lấy lại cảm giác và khả năng vận động. Ban đầu, chân trái chỉ cử động được một phần, tuy nhiên tình trạng cải thiện rõ rệt theo từng ngày. Bệnh nhân xuất viện sau 7 ngày chăm sóc hậu phẫu.
Tái khám sau một tháng, bệnh nhân phục hồi gần như hoàn toàn, sức cơ hai chân cải thiện rõ rệt, hai tay hoạt động bình thường và chức năng tiểu tiện trở lại như trước.
"Trước đây, khi di chuyển tôi phải dìu, bế vợ vì bà gần như mất khả năng vận động. Tôi còn sợ không qua khỏi vì nghĩ bà bị bại liệt, bại não. Sau khi mổ tại AIH, thấy bà có thể tự đi lại, tôi rất mừng.", chồng bệnh nhân chia sẻ.
Theo bác sĩ CKI Nguyễn Mạnh Hùng, trường hợp của bà N.H.T cho thấy các bệnh lý thần kinh - cột sống có thể diễn tiến khó lường, đặc biệt khi có tổn thương liên quan đến tủy sống. Một người bệnh đồng thời tồn tại nhiều bệnh lý ở các vị trí khác nhau của cột sống, dù triệu chứng ban đầu chưa biểu hiện đầy đủ hoặc dễ bị che lấp bởi tổn thương khác. Bên cạnh việc điều trị đúng bệnh lý, người bệnh cần tái khám đúng hẹn, theo dõi sát các dấu hiệu bất thường.
Tại Bệnh viện Quốc tế Mỹ (AIH), các kỹ thuật chuyên sâu như nội soi cột sống hai cổng UBE và vi phẫu ít xâm lấn được áp dụng thường quy trong điều trị các bệnh lý thần kinh – cột sống phức tạp, bao gồm thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống, hẹp lỗ liên hợp, chèn ép tủy sống, u tủy và các tổn thương thần kinh phức tạp. Việc làm chủ các kỹ thuật hiện đại giúp đội ngũ bác sĩ xử trí hiệu quả nhiều trường hợp bệnh lý cột sống khó, đa tầng và đa tổn thương.
Bên cạnh năng lực phẫu thuật, mô hình phối hợp đa chuyên khoa giữa Ngoại thần kinh – cột sống, Nội khoa, Chẩn đoán hình ảnh, Gây mê hồi sức và Phục hồi chức năng giúp đánh giá toàn diện, kiểm soát hiệu quả các bệnh lý đi kèm.
Trường hợp của bệnh nhân N.H.T cho thấy ý nghĩa của việc phát hiện và điều trị ổn định huyết khối tĩnh mạch sâu, góp phần bảo đảm an toàn phẫu thuật và tạo điều kiện cho quá trình hồi phục thuận lợi sau mổ.
Dù tập luyện đều đặn nhưng cơ thể vẫn có thể yếu đi vì những nguyên nhân sau.
Khi tập luyện, đặc biệt là tập nặng, các sợi cơ sẽ bị tổn thương nhẹ. Đây là điều bình thường và cần thiết để cơ bắp phát triển. Tuy nhiên, cơ bắp chỉ thực sự mạnh lên trong quá trình phục hồi, không phải trong lúc tập, theo chuyên trang sức khỏe Verywellfit (Mỹ).
Nếu tập liên tục mỗi ngày mà không cho cơ thể nghỉ, các tổn thương này sẽ tích tụ lại. Cơ thể không hồi phục kịp nên dần dần trở nên yếu đi.
Một sai lầm rất phổ biến là tập nhiều nhưng ăn không đủ. Tình trạng này thường gặp ở những người đang muốn giảm mỡ nhanh. Khi đốt nhiều calo mà không bổ sung lại đầy đủ, cơ thể sẽ phải tìm nguồn năng lượng khác. Cơ bắp chính là một trong những nguồn đó.
Nếu thiếu calo và protein, cơ thể sẽ huy động dinh dưỡng từ cả mỡ thừa và cơ bắp để duy trì hoạt động. Điều này khiến càng tập thì càng yếu. Ngoài ra, thiếu vitamin và khoáng chất cũng làm giảm hiệu quả hoạt động của các enzyme trong cơ thể, khiến quá trình phục hồi kém đi.
Tập luyện quá sức không chỉ ảnh hưởng đến cơ bắp mà còn làm rối loạn hoóc môn trong cơ thể. Đây là yếu tố rất quan trọng nhưng thường bị bỏ qua.
Khi tập quá nhiều, cơ thể sẽ tăng sản xuất hoóc môn cortisol, trong khi các hoóc môn giúp phát triển cơ bắp như testosterone và hoóc môn tăng trưởng lại giảm xuống. Sự mất cân bằng này khiến cơ thể cảm thấy mệt mỏi, khó tăng cơ, thậm chí mất cơ và giảm sức mạnh dù vẫn tập đều.
Nếu tập cùng một bài tập mỗi ngày với cùng cường độ, cơ thể sẽ dần thích nghi và không còn phản ứng mạnh nữa. Đây là nguyên lý rất cơ bản trong thể thao.
Khi không có sự thay đổi về bài tập hoặc cường độ, cơ bắp không còn nhận đủ kích thích cơ. Lúc này, người tập sẽ thấy mình không tiến bộ. Thậm chí, mệt mỏi tích lũy còn cơ thể khiến yếu đi. Vì vậy, tập luyện hiệu quả không chỉ là tập đều mà còn cần thay đổi bài tập một cách hợp lý, theo Verywellfit.