Bệnh nhân N.H.T thăm khám tại AIH với đau lưng kéo dài, tê yếu chân phải, vùng bàn chân phải gần như không thể nhấc lên. Sau điều trị nội khoa, bệnh không cải thiện và ảnh hưởng đến khả năng đi lại.
Qua khám lâm sàng, chụp cộng hưởng từ (MRI), điện cơ và các đánh giá chuyên sâu, bác sĩ CKI Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng đơn vị Ngoại thần kinh và cột sống tại AIH chẩn đoán bệnh nhân bị hẹp ống sống và hẹp lỗ liên hợp nhiều tầng từ L3-L4, L4-L5 đến L5-S1, trong đó các tầng L4-L5 và L5-S1 bị hẹp nặng gây chèn ép thần kinh.
Sau hội chẩn, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi cột sống hai cổng UBE nhằm giải áp thần kinh tại các tầng L4-L5 và L5-S1.
Trong phẫu thuật, ekip nhận thấy tình trạng chèn ép thần kinh rất nặng. Dây chằng vàng vôi hóa và dày lên bất thường, kết hợp với hiện tượng phì đại khớp và xương lamina khiến rễ thần kinh và chùm đuôi ngựa bị chèn ép.
Bác sĩ đã cắt một phần xương lamina và loại bỏ dây chằng vàng vôi hóa, giải phóng các cấu trúc thần kinh bị chèn ép.
Sau phẫu thuật, các triệu chứng đau lưng, tê và yếu chân của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt.
Hai tuần sau phẫu thuật, tình trạng tê đau và yếu chân của bệnh nhân tái phát và ngày càng nặng dù đã tập vật lý trị liệu.
Tái khám tại AIH, bệnh nhân yếu nặng hai chân hơn trước, yếu cả hai tay, tiểu tiện không kiểm soát và mất khả năng vận động. Theo bác sĩ CKI Nguyễn Mạnh Hùng, những biểu hiện này không hoàn toàn phù hợp với bệnh lý hẹp ống sống thắt lưng đơn thuần. Bác sĩ nghi ngờ tồn tại tổn thương thần kinh ở vị trí cao hơn.
Kết quả chụp MRI cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống cổ gây chèn ép tủy nặng tại các tầng C5-C6, C6-C7 và một khối u tủy vùng ngực cao. Đây là những tổn thương khác với bệnh lý vùng thắt lưng trước đó.
Bác sĩ còn ghi nhận bệnh nhân phù hai chân bất thường, bị huyết khối tĩnh mạch sâu ở cả hai chân sau khi thực hiện siêu âm mạch máu. Trước nguy cơ xảy ra biến chứng thuyên tắc mạch máu, ekip ưu tiên kiểm soát huyết khối bằng điều trị nội khoa trước mổ cho bệnh nhân.
Trong cuộc phẫu thuật thứ hai, bác sĩ Hùng sử dụng kỹ thuật ống nong vi phẫu để giải áp tủy cổ tại các tầng C5-C6 và C6-C7, đồng thời vi phẫu lấy bỏ khối u tủy ngực.
Sau phẫu thuật, cảm giác hai tay của bệnh nhân phục hồi, hai chân bắt đầu lấy lại cảm giác và khả năng vận động. Ban đầu, chân trái chỉ cử động được một phần, tuy nhiên tình trạng cải thiện rõ rệt theo từng ngày. Bệnh nhân xuất viện sau 7 ngày chăm sóc hậu phẫu.
Tái khám sau một tháng, bệnh nhân phục hồi gần như hoàn toàn, sức cơ hai chân cải thiện rõ rệt, hai tay hoạt động bình thường và chức năng tiểu tiện trở lại như trước.
“Trước đây, khi di chuyển tôi phải dìu, bế vợ vì bà gần như mất khả năng vận động. Tôi còn sợ không qua khỏi vì nghĩ bà bị bại liệt, bại não. Sau khi mổ tại AIH, thấy bà có thể tự đi lại, tôi rất mừng.”, chồng bệnh nhân chia sẻ.
Theo bác sĩ CKI Nguyễn Mạnh Hùng, trường hợp của bà N.H.T cho thấy các bệnh lý thần kinh – cột sống có thể diễn tiến khó lường, đặc biệt khi có tổn thương liên quan đến tủy sống. Một người bệnh đồng thời tồn tại nhiều bệnh lý ở các vị trí khác nhau của cột sống, dù triệu chứng ban đầu chưa biểu hiện đầy đủ hoặc dễ bị che lấp bởi tổn thương khác. Bên cạnh việc điều trị đúng bệnh lý, người bệnh cần tái khám đúng hẹn, theo dõi sát các dấu hiệu bất thường.
Tại Bệnh viện Quốc tế Mỹ (AIH), các kỹ thuật chuyên sâu như nội soi cột sống hai cổng UBE và vi phẫu ít xâm lấn được áp dụng thường quy trong điều trị các bệnh lý thần kinh – cột sống phức tạp, bao gồm thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống, hẹp lỗ liên hợp, chèn ép tủy sống, u tủy và các tổn thương thần kinh phức tạp. Việc làm chủ các kỹ thuật hiện đại giúp đội ngũ bác sĩ xử trí hiệu quả nhiều trường hợp bệnh lý cột sống khó, đa tầng và đa tổn thương.
Bên cạnh năng lực phẫu thuật, mô hình phối hợp đa chuyên khoa giữa Ngoại thần kinh – cột sống, Nội khoa, Chẩn đoán hình ảnh, Gây mê hồi sức và Phục hồi chức năng giúp đánh giá toàn diện, kiểm soát hiệu quả các bệnh lý đi kèm.
Trường hợp của bệnh nhân N.H.T cho thấy ý nghĩa của việc phát hiện và điều trị ổn định huyết khối tĩnh mạch sâu, góp phần bảo đảm an toàn phẫu thuật và tạo điều kiện cho quá trình hồi phục thuận lợi sau mổ.
Nguy cơ sức khỏe từ thịt cháy xém thường không được mọi người chú ý. Nguyên nhân là do ăn phần thịt này sẽ không gây ảnh hưởng ngay lập tức mà tích lũy dần qua thời gian, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Khi thịt được chiên hay nướng ở nhiệt độ cao, đặc biệt trên 150 - 200°C, các phản ứng hóa học phức tạp sẽ xảy ra giữa protein, đường và chất béo. Từ đó hình thành 2 nhóm chất là heterocyclic amines (HCAs) và polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs).
HCAs được tạo ra khi a xít amin và creatine trong thịt phản ứng với nhau dưới nhiệt độ cao, còn PAHs hình thành khi mỡ từ thịt nhỏ xuống lửa, tạo khói rồi bám ngược lại lên bề mặt thịt. Các hợp chất này tập trung nhiều nhất ở phần thịt bị cháy đen hoặc xém cạnh. Đây cũng chính là phần mà nhiều người thường thích ăn vì giòn, vô tình làm tăng lượng chất có hại đưa vào cơ thể.
Viện Ung thư Quốc gia Mỹ cho biết cả HCAs và PAHs đều có khả năng gây tổn thương ADN, gây đột biến tế bào và tăng nguy cơ ung thư.
Sau khi đi vào cơ thể, HCAs và PAHs không gây hại ngay lập tức. Chúng cần được chuyển hóa qua gan để trở thành dạng có khả năng tác động đến tế bào. Ở dạng này, chúng có thể gắn vào ADN và gây ra những biến đổi trong cấu trúc di truyền.
Nếu các tổn thương ADN này không được sửa chữa hiệu quả, chúng có thể tích lũy theo thời gian và làm rối loạn quá trình kiểm soát tăng trưởng tế bào. Đây là một trong những cơ chế nền tảng dẫn đến ung thư. Các nghiên cứu trên động vật đã chứng minh việc tiếp xúc lâu dài với HCAs và PAHs có thể gây ra nhiều loại khối u khác nhau.
Điều quan trọng là hiểu đúng vấn đề. Ăn thịt cháy xém không đồng nghĩa với việc chắc chắn sẽ gây bệnh. Nguy cơ chỉ tăng lên khi việc này trở thành thói quen thường xuyên và kéo dài trong nhiều năm.
Trên thực tế, ung thư là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố, từ di truyền, môi trường, lối sống đến chế độ ăn. Do đó, giảm tần suất và thay đổi cách chế biến có thể giúp hạn chế rủi ro ung thư mà không cần phải loại bỏ hoàn toàn món ăn yêu thích, theo Healthline.
Mặc dù tủ lạnh giúp giữ thực phẩm tươi ngon lâu hơn, người tiêu dùng vẫn cần cẩn trọng vì một số nguyên liệu có thể sản sinh ra các chất gây hại cho cơ thể khi tiếp xúc với không khí lạnh. Bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa Kim Tae-kyun ở Busan, chủ kênh YouTube y học "Dr. Dingyo" nổi tiếng tại Hàn Quốc, cảnh báo về những loại thực phẩm có thể sản sinh chất gây ung thư khi bảo quản trong tủ lạnh. Nguyên liệu được ông đặc biệt nhấn mạnh tuyệt đối không nên cho vào tủ lạnh chính là khoai tây.
Bác sĩ Kim giải thích khi khoai tây được lưu trữ trong môi trường lạnh, thành phần tinh bột bên trong sẽ chuyển hóa thành đường. Nếu đem loại khoai tây này đi chế biến ở nhiệt độ cao thành các món ăn như khoai tây chiên, một chất gây ung thư có tên là acrylamide sẽ được hình thành. Ông cho biết thêm các nghiên cứu đã chứng minh acrylamide là chất gây ung thư nhóm 2, có khả năng gây ung thư buồng trứng và độc tính đối với hệ thần kinh. Ngoài ra, đường cũng gây ảnh hưởng xấu đến việc kiểm soát đường huyết hơn là tinh bột.
Để tránh nguy cơ tích tụ chất gây ung thư, bác sĩ Kim khuyên người dân chuyển sang ăn khoai tây hấp. "Do chất acrylamide chỉ hình thành ở nhiệt độ cao trên 120°C, việc ăn khoai tây hấp hoàn toàn không gây hại cho sức khỏe. Nếu vẫn muốn ăn khoai tây chiên, bạn nên chế biến ở nhiệt độ thấp nhất có thể và trong thời gian ngắn nhất", ông giải thích.
Theo chuyên gia, luộc hoặc hấp là phương pháp chế biến khoai tây tối ưu nhất bởi việc tiếp xúc lâu dài với acrylamide sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa thần kinh như Alzheimer. Bên cạnh đó, các món chiên rán cũng tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh tiểu đường. Theo một nghiên cứu công bố trên tạp chí y khoa British Medical Journal, món khoai tây chiên làm gia tăng đáng kể nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường type 2.
Ngược lại, nếu được bảo quản và sử dụng đúng cách, khoai tây thực chất lại là một loại thực phẩm có lợi cho sức khỏe. Theo Tổng cục Phát triển Nông thôn Hàn Quốc, khoai tây giàu kali, một khoáng chất hỗ trợ đắc lực cho quá trình đào thải natri ra khỏi cơ thể. Nhờ vậy, loại củ này có thể ngăn ngừa tình trạng sưng phù cơ thể do ăn đồ mặn, đồng thời giúp điều hòa huyết áp ở những bệnh nhân cao huyết áp.
Hàm lượng vitamin C dồi dào trong khoai tây cũng giúp giảm bớt cảm giác mệt mỏi tích tụ do căng thẳng. Khác với nhiều loại nguyên liệu khác thường bị hao hụt dưỡng chất khi nấu chín, vitamin C trong khoai tây rất khó bị phá hủy bởi nhiệt độ. Thêm vào đó, khoai tây còn sở hữu đặc tính kháng viêm, mang lại nhiều lợi ích cho những người thường xuyên bị viêm loét dạ dày.
Để giữ nguyên giá trị dinh dưỡng, khoai tây cần được bảo quản ở những nơi thoáng mát, tối và thông gió tốt. Một số người có thói quen rửa sạch và phơi khô khoai tây trước khi cất giữ để đảm bảo vệ sinh, nhưng phương pháp đúng là phải giữ nguyên lớp đất bám bên ngoài và đặt chúng trong các thùng các-tông. Do việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời sẽ khiến vỏ khoai tây chuyển sang màu xanh và sản sinh ra các độc tố nguy hiểm như solanine, người tiêu dùng bắt buộc phải dùng giấy hoặc các vật liệu tương tự để che phủ kín bề mặt hộp lưu trữ.
Theo ThS.BS Ngô Văn Tân, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM - Cơ sở 3, những năm gần đây các đợt nắng nóng cực đoan với nhiệt độ trên 37-38 độ C xuất hiện thường xuyên hơn. Trong bối cảnh này, quan niệm "uống nhiều nước là đủ" chưa phản ánh hết tính phức tạp của việc bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là chức năng thận.
Mối nguy sỏi thận từ thời tiết khắc nghiệt
Thận đóng vai trò lọc máu, đào thải chất cặn bã và cân bằng điện giải. Khi trời nóng, cơ thể mất nước chủ yếu qua mồ hôi.
Nếu không được bù nước đúng cách, nước tiểu sẽ bị cô đặc khiến các khoáng chất như canxi, oxalat hoặc acid uric dễ kết tinh thành sỏi. Đây là lý do vì sao tỷ lệ người mắc sỏi thận thường tăng cao trong mùa hè, kể cả với những người chưa từng có tiền sử bệnh lý về thận.
Những sai lầm khi bù nước: Lợi bất cập hại
Uống nước là cần thiết, nhưng uống "sai cách" lại tiềm ẩn nhiều rủi ro:
Uống dồn dập một lúc: Nhiều người có thói quen uống một lượng lớn nước ngay sau khi đi nắng hoặc vận động mạnh. Việc này làm loãng nhanh nồng độ muối trong máu, gây rối loạn điện giải với các triệu chứng mệt mỏi, đau đầu, thậm chí chóng mặt.
Lạm dụng nước ngọt và nước tăng lực: Đồ uống có gas, chứa nhiều đường hoặc muối khoáng quá mức không những không bảo vệ thận mà còn làm tăng gánh nặng chuyển hóa, thúc đẩy quá trình hình thành sỏi.
Lời khuyên: Chia nhỏ lượng nước, uống đều đặn nhiều lần trong ngày ngay cả khi chưa thấy khát. Nước lọc vẫn là lựa chọn tối ưu. Người lao động cường độ cao có thể bổ sung nước điện giải ở mức vừa phải.
Nguy cơ từ thói quen "giải nhiệt" tức thì
Tắm nước lạnh ngay sau khi đi nắng là thói quen của nhiều người nhưng lại tiềm ẩn rủi ro lớn. Khi cơ thể đang nóng, mạch máu giãn rộng, việc tiếp xúc đột ngột với nước lạnh gây co mạch nhanh, làm rối loạn tuần hoàn tạm thời.
Dù không trực tiếp gây bệnh thận, tình trạng này lặp lại thường xuyên có thể ảnh hưởng đến cung cấp máu cho các cơ quan, đặc biệt nguy hiểm với người lớn tuổi hoặc người có bệnh lý tim mạch.
Dấu hiệu cảnh báo thận đang "kêu cứu"
Những tín hiệu sớm từ cơ thể trong mùa nóng:
Nước tiểu sẫm màu, mùi nồng, lượng nước tiểu ít.
Cảm giác tiểu rát nhẹ.
Khát nước liên tục kèm mệt mỏi.
Đau âm ỉ vùng hông hoặc thắt lưng.
Phòng bệnh theo nguyên tắc "Thanh nhiệt - Sinh tân"
Dưới góc nhìn y học cổ truyền, mùa hè thuộc hành Hỏa, dễ làm hao tổn tân dịch. Để bảo vệ sức khỏe, bác sĩ Ngô Văn Tân khuyến nghị:
Chế độ uống: Uống nước đều đặn, ưu tiên nước lọc, hạn chế chất kích thích và đồ uống quá nhiều đường.
Chế độ ăn: Tăng cường rau xanh, trái cây thanh mát để hỗ trợ thanh nhiệt và sinh tân dịch.
Sinh hoạt: Tuyệt đối không tắm lạnh ngay sau khi vận động mạnh hoặc vừa ngoài nắng về.
Theo dõi: Chú ý quan sát những thay đổi bất thường của nước tiểu và các cơn đau vùng lưng.
Nắng nóng có thể chỉ là cảm giác khó chịu nhất thời, nhưng những tác động âm thầm lên thận và hệ chuyển hóa có thể để lại hậu quả dài hạn. Hiểu đúng và thực hành phòng ngừa đúng là cách đơn giản nhất để bảo vệ bản thân trước sự khắc nghiệt của thời tiết.