Các vấn đề như mờ mắt, nhiễm trùng, tổn thương giác mạc hay bệnh võng mạc ngày càng phổ biến, đặc biệt khi tuổi tác tăng lên. Dù y học hiện đại có thể can thiệp bằng thuốc hoặc phẫu thuật, các bác sĩ nhấn mạnh rằng phòng ngừa vẫn là giải pháp hiệu quả nhất.
Dưới đây là 9 thói quen mà các bác sĩ nhãn khoa khuyên bạn nên tránh nếu muốn bảo vệ thị lực lâu dài.
Thói quen thứ nhất: Đeo kính áp tròng khi ngủ
Việc ngủ quên khi đang đeo kính áp tròng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển mạnh trên bề mặt mắt. Điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng, loét giác mạc, thậm chí tổn thương thị lực nghiêm trọng. Trừ khi là loại kính được cho phép đeo dài ngày, bạn nên tháo kính trước khi ngủ trong mọi trường hợp.
Thói quen thứ hai: Nhìn màn hình liên tục mà không nghỉ
Việc dán mắt vào điện thoại hoặc máy tính trong thời gian dài không chỉ gây mỏi mắt mà còn làm tăng nguy cơ cận thị, đặc biệt ở người trẻ. Các chuyên gia khuyến nghị áp dụng quy tắc 20:20:20, cứ 20 phút nhìn xa khoảng 6m trong 20 giây để giảm áp lực cho mắt.
Thói quen thứ ba: Trì hoãn khám mắt định kỳ
Nhiều bệnh lý về mắt tiến triển âm thầm mà không có triệu chứng rõ ràng. Việc khám mắt định kỳ, đặc biệt là kiểm tra giãn đồng tử, giúp phát hiện sớm các vấn đề như bệnh võng mạc do tiểu đường, đục thủy tinh thể hay tăng nhãn áp trước khi gây mất thị lực.
Thói quen thứ tư: Bỏ qua dấu hiệu bất thường của thị lực
Những biểu hiện như chớp sáng, xuất hiện nhiều “ruồi bay” hoặc cảm giác có màn che trước mắt có thể là dấu hiệu của rách hoặc bong võng mạc. Nếu không xử lý kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn.
Thói quen thứ năm: Không tẩy trang mắt trước khi ngủ
Trang điểm vùng mắt, đặc biệt là eyeliner và mascara, có thể làm tắc tuyến lệ và giảm khả năng bôi trơn tự nhiên của mắt. Nếu không được làm sạch, chúng có thể gây kích ứng, nhiễm trùng và khô mắt kéo dài.
Thói quen thứ sáu: Nhìn trực tiếp vào Mặt trời
Việc nhìn thẳng vào Mặt trời, kể cả trong thời gian ngắn, có thể gây tổn thương võng mạc không hồi phục. Ngay cả khi xảy ra hiện tượng thiên văn như nhật thực, việc sử dụng kính bảo vệ chuyên dụng là bắt buộc để tránh “bỏng võng mạc”.
Thói quen thứ bảy: Hút thuốc lá hoặc thuốc lá điện tử
Hút thuốc không chỉ gây hại cho phổi mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nghiêm trọng về mắt như thoái hóa võng mạc hay đục thủy tinh thể. Ngoài ra khói thuốc còn gây kích ứng bề mặt mắt, dẫn đến khô mắt và tổn thương giác mạc.
Thói quen thứ tám: Rửa kính áp tròng bằng nước máy
Nước máy có thể chứa vi khuẩn và vi sinh vật gây hại cho mắt. Việc dùng nước này để vệ sinh kính áp tròng làm tăng nguy cơ viêm giác mạc, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa. Kính áp tròng cần được làm sạch bằng dung dịch chuyên dụng và thay đúng thời hạn.
Thói quen thứ chín: Ăn uống thiếu cân bằng
Chế độ ăn nhiều đường và chất béo không chỉ ảnh hưởng đến tim mạch mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về mắt, đặc biệt là biến chứng từ tiểu đường. Ngược lại, chế độ ăn lành mạnh, giàu rau xanh và dưỡng chất giúp bảo vệ thị lực và giảm nguy cơ bệnh lý.
Nhìn chung, nhiều tổn thương mắt bắt nguồn từ những thói quen rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày. Việc thay đổi hành vi, kết hợp với chăm sóc và kiểm tra định kỳ, có thể giúp duy trì thị lực khỏe mạnh lâu dài.
Thạc sĩ - bác sĩ nội trú Nguyễn Văn Huy, Khoa Y học cổ truyền, Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết khi cắt lá nha đam, có thể thấy 3 lớp chính: vỏ xanh bên ngoài, lớp nhựa vàng sát vỏ và phần gel trong suốt ở giữa.
Phần gel chứa hơn 98% là nước, cùng một lượng nhỏ vitamin, khoáng chất, axit amin, enzyme và polysaccharide, nổi bật là acemannan. Đây là thành phần tạo nên đặc tính thanh mát, giữ ẩm và tương đối dịu nhẹ của nha đam.
"Trong khi đó, lớp nhựa vàng lại chứa aloin - một hoạt chất thuộc nhóm anthraquinone có tác dụng nhuận tràng mạnh. Khi tự sơ chế nha đam tại nhà, phần nhựa này rất dễ lẫn vào gel, khiến người dùng vô tình hấp thu một chất xổ kích thích", bác sĩ Huy phân tích.
Theo Mayo Clinic hệ tiêu hóa của con người vốn đã có cơ chế tự nhiên để đào thải chất cặn bã và vi khuẩn. Việc áp dụng các biện pháp làm sạch đại tràng để thải độc là không cần thiết và không được khuyến cáo. Cơ thể chúng ta được trang bị một hệ thống thanh lọc hoàn hảo gồm gan và thận lọc máu, phổi đào thải khí, và da bài tiết qua mồ hôi.
Nhiều người tin rằng nha đam có thể "làm sạch ruột" nhờ các enzyme tự nhiên. Thực tế, phần gel nha đam có chứa một số enzyme tiêu hóa như amylase và lipase, vai trò của chúng dừng lại ở mức hỗ trợ tiêu hóa thức ăn, hoàn toàn không có khả năng nạo vét hay hút độc tố ra khỏi niêm mạc ruột.
"Cảm giác 'nhẹ bụng' sau khi uống nha đam nguyên chất (có lẫn nhựa vàng) thực chất là phản ứng co bóp, tiết nước của ruột để tống phân ra ngoài do tác dụng của aloin, chứ không phải do độc tố được thanh lọc", bác sĩ Huy cho hay.
Để sử dụng nha đam mang lại lợi ích giải nhiệt mà không gây hại, cần lưu ý các nguyên tắc sau:
Lựa chọn đúng phần ăn: Chỉ sử dụng phần gel trong suốt. Phải gọt bỏ hoàn toàn lớp vỏ xanh và đặc biệt là cạo sạch lớp nhựa vàng sát vỏ.
Khử sạch nhựa: Sau khi cắt nhỏ, cần ngâm và rửa phần gel nhiều lần với nước muối pha loãng cho đến khi hết hoàn toàn nhớt và vị đắng.
Sử dụng với lượng vừa phải: Nha đam tươi nên được xem là món ăn hỗ trợ giải nhiệt, không nên dùng thay thế nước uống hàng ngày với mục đích thải độc kéo dài.
Những đối tượng cần thận trọng gồm phụ nữ mang thai và cho con bú, trẻ nhỏ (đặc biệt dưới 12 tuổi); người có bệnh lý đường ruột như viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, trĩ, tắc ruột, tiêu chảy; người mắc bệnh lý thận hoặc tim mạch; người thường xuyên lạnh bụng, tiêu hóa kém.
"Nha đam không phải là 'thần dược' thải độc, tuy nhiên vẫn có nhiều lợi ích nếu sử dụng đúng cách. Phần gel trong suốt là nguồn cung cấp độ ẩm và giải nhiệt an toàn nếu được sơ chế kỹ. Ngược lại, lớp nhựa vàng là một dược chất có dược tính mạnh, cần được sử dụng đúng liều lượng, đúng chỉ định và tốt nhất là dưới sự hướng dẫn của người có chuyên môn", bác sĩ khuyến cáo.
Tăng huyết áp và suy tim là những bệnh lý tim mạch mạn tính phổ biến, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy thận và thậm chí đe dọa tính mạng nếu không được kiểm soát tốt. Bên cạnh việc tuân thủ điều trị bằng thuốc, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiểm soát bệnh và nâng cao chất lượng sống.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Lâm Mỹ Dung, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Tim Tâm Đức, nguyên tắc quan trọng hàng đầu là kiểm soát lượng muối (natri). Ăn quá mặn khiến cơ thể giữ nước, làm tăng huyết áp và tạo thêm gánh nặng cho tim. Người tăng huyết áp và suy tim giai đoạn 1, 2 nên hạn chế dưới 5 g muối mỗi ngày; người suy tim nặng (giai đoạn 3) cần giảm xuống dưới 4 g muối/ngày, thậm chí chỉ 2 - 3 g muối/ngày theo chỉ định của bác sĩ nếu ở giai đoạn 4.
Để giảm lượng muối tiêu thụ, người bệnh nên hạn chế thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, giò chả, thịt xông khói, đồ hộp, mì ăn liền, bánh snack; đồng thời tránh các món dưa muối, mắm và hải sản khô. Khi ăn uống hằng ngày, không nên thêm nước chấm, hạn chế uống hết nước canh hoặc nước lèo vì đây là những nguồn chứa nhiều natri “ẩn”.
Bác sĩ Mỹ Dung cho hay, nguyên tắc thứ 2 là hạn chế chất béo xấu và ưu tiên chất béo có lợi cho tim mạch. Người bệnh nên giảm các thực phẩm giàu chất béo bão hòa và cholesterol như bánh kem, bánh quy, thực phẩm chiên ngập dầu hoặc các món ăn công nghiệp chế biến sẵn. Thay vào đó, nên ưu tiên các loại dầu thực vật như dầu ô liu, dầu hạt cải, dầu mè, dầu đậu nành và tăng cường thực phẩm giàu omega-3.
Omega-3 được xem là dưỡng chất có lợi cho sức khỏe tim mạch nhờ khả năng hỗ trợ giảm viêm và cải thiện chức năng mạch máu. Nguồn omega-3 tốt có trong cá hồi, cá thu, cá mòi, hạt lanh và quả óc chó.
Bên cạnh muối và chất béo, kiểm soát lượng nước uống cũng là yêu cầu quan trọng, đặc biệt với người suy tim. Khi chức năng bơm máu của tim suy giảm, cơ thể dễ bị ứ dịch, gây phù chân, khó thở và làm bệnh tiến triển nặng hơn.
Theo bác sĩ Dung, thông thường, tổng lượng dịch mỗi ngày của người suy tim chỉ nên dao động khoảng 1,5 - 2 lít, bao gồm cả nước uống, sữa, nước ép, súp, cháo và nước canh. Người bệnh nên chia nhỏ lượng nước uống trong ngày thay vì uống nhiều cùng lúc. Đối với các trường hợp suy tim nặng có phù, lượng dịch cần được tính toán cụ thể theo hướng dẫn của bác sĩ.
Ngoài chế độ ăn uống, việc duy trì vận động phù hợp, không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, kiểm soát căng thẳng và khám sức khỏe định kỳ cũng là những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát tăng huyết áp và suy tim hiệu quả, giảm nguy cơ biến chứng và bảo vệ sức khỏe tim mạch lâu dài.
Thạc sĩ - bác sĩ Vũ Thị Thùy Dương, Phó khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) cho hay, theo chu kỳ trước đây, sốt xuất huyết bùng phát khoảng 5 năm/lần. Tuy nhiên, do biến đổi khí hậu và sự dịch chuyển dân cư tăng mạnh, chu kỳ này đã rút ngắn.
“Đến nay, chúng tôi chưa ghi nhận sự thay đổi bất thường về độc lực của virus sốt xuất huyết; chủng DENV-2 vẫn đang phổ biến hơn. Tình trạng sốc vẫn diễn ra theo quy luật, thường bắt đầu từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh - giai đoạn giảm sốt dễ dẫn đến chủ quan. Các ca biến chứng nghiêm trọng phần lớn rơi vào nhóm trẻ có bệnh nền, hoặc do phụ huynh chủ quan đưa trẻ nhập viện quá trễ”, bác sĩ Thùy Dương nói.
Điểm khác biệt và đáng lo ngại nhất của năm nay là nguy cơ dịch chồng dịch. Trẻ em đang phải đối mặt cùng lúc với 3 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: Sốt xuất huyết, tay chân miệng và não mô cầu. Điều này không chỉ làm tăng nguy cơ lây nhiễm chéo mà còn có thể gây quá tải hệ thống điều trị nếu số ca bệnh tăng vọt cùng lúc.
Ngoài ra, theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, Phó trưởng Khoa Nhi và Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), trước đây 60 - 70% ca sốt xuất huyết là trẻ em, nhưng hiện tỷ lệ mắc ở trẻ em và người lớn gần như ngang nhau. Dù vậy, trẻ em, đặc biệt là nhũ nhi và trẻ dưới 5 tuổi, vẫn có nguy cơ sốc và suy đa tạng cao hơn nhiều. Bước vào mùa mưa - thời điểm muỗi phát triển mạnh - số ca nặng ở trẻ có thể tăng nhanh, diễn biến khó lường và dễ sốc muộn nếu không được theo dõi sát.
Dược sĩ chuyên môn Dương Thị Ngọc Huyền, Hệ thống nhà thuốc và trung tâm tiêm chủng Long Châu, cảnh báo người nghi mắc sốt xuất huyết không nên tự ý dùng Ibuprofen (thuốc giảm đau, hạ sốt nhóm NSAID). Khi bệnh bước vào giai đoạn nguy hiểm với tình trạng giảm tiểu cầu, thuốc có thể làm tăng nguy cơ chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết nội tạng, ảnh hưởng chức năng gan, làm nặng tình trạng sốc và gây khó khăn cho điều trị.
Thay vào đó, dược sĩ Huyền khuyến cáo người dân cần chuẩn bị tại nhà:
Paracetamol đơn chất: Liều dùng 10 - 15 mg/kg/lần, mỗi lần cách nhau từ 4 - 6 tiếng nếu có sốt lại.
Dung dịch bù nước và điện giải (Oresol): Pha đúng tỷ lệ theo hướng dẫn sử dụng; uống từng ngụm nhỏ, rải rác trong ngày để duy trì khối lượng tuần hoàn.
Dùng nhiệt kế theo dõi nhiệt độ thường xuyên.
Bên cạnh đó, việc chủ động tiêm vắc xin sốt xuất huyết ngay trong nửa đầu năm có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo miễn dịch bảo vệ trước giai đoạn dịch đạt đỉnh.
Ngoài tiêm vắc xin, người dân cần thực hiện các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết khác. Bác sĩ Hoàng Thạch đưa ra một số lời khuyên và lưu ý sau:
Hết sốt không đồng nghĩa hết bệnh, thậm chí có thể là giai đoạn nguy hiểm nhất. Nếu sau khi hạ sốt mà người bệnh mệt hơn, lừ đừ, đau bụng, nôn ói... cần đến bệnh viện ngay, không chủ quan nghĩ bệnh đã thuyên giảm.
Người lớn cũng có thể diễn tiến nặng. Không nên chủ quan tự điều trị hoặc cố đi làm. Người có bệnh nền (béo phì, tăng huyết áp, tiểu đường) và phụ nữ mang thai có nguy cơ cao. Nếu sốt cao liên tục từ 2 ngày trở lên, cần khám và xét nghiệm máu; không tự ý truyền dịch tại các cơ sở không đủ điều kiện hồi sức.
Muỗi truyền sốt xuất huyết thích đẻ trứng ở nơi nước trong, sạch, tĩnh. Cần kiểm tra và loại bỏ nước đọng trong nhà vì chỉ một lượng nước nhỏ tồn đọng khoảng 1 tuần cũng đủ để muỗi sinh sản.