Năm 2011 tôi 24 tuổi. Sau khi học xong cao đẳng ngành du lịch và đã thử đi làm ở một khách sạn 5 sao với mức lương bọt bèo, sau 6 tháng vẫn chỉ là nhân viên part-time.
Tự thấy bản thân không có tài năng gì, không đẹp trai cao to vạm vỡ, không có tư duy kinh doanh, không có gan làm ăn, tôi quyết định đăng ký xuất khẩu lao động làm thuyền viên cho một du thuyền của Italy.
Lúc đầu, do tiếng Anh còn bập bẹ nên làm công việc thấp nhất với mức lương 650 USD (năm 2011), bao ăn ở trên tàu và làm thêm một số việc, mỗi tháng cũng được 800 – 900 USD nếu không mua sắm gì.
Tôi làm 9 tháng, về nghỉ 2 tháng. Năm 2012 là bước ngoặt lớn của cuộc đời khi may mắn và do chăm chỉ nên được lên chức, lương cứng 1.800 USD + tip từ 500 đến 700 euro.
Vậy là từ đó đến nay, 2026, chưa tháng nào kiếm dưới 2.500 USD. Thật sự, xuất khẩu lao động là con đường kiếm tiền tốt nhất đối với tôi.
Từ ngày đi xuất khẩu lao động, tôi có thể trả nợ, chăm lo cho cha mẹ, sửa nhà và mua được một miếng đất, có một số tiền để dành trong tài khoản, giúp đỡ chị anh, mua xe máy cho cha và chị hai… và nhiều việc khác nữa.
Nhưng nếu không có cái bằng cao đẳng du lịch thì lúc đó tôi không có đủ điều kiện nộp hồ sơ cho hãng du thuyền, nên đi học cũng rất quan trọng. Tôi rất biết ơn bằng cao đẳng du lịch và hãng du thuyền.
Tin Gốc: Vnexpress

Gia đình tôi đang ở trong giai đoạn mà nhiều người gọi là "ổn định": thu nhập hơn 100 triệu đồng mỗi tháng, công việc tương đối vững, con cái bắt đầu lớn. Sau thời gian dài ở thuê, chúng tôi từng nghĩ đến việc mua một căn chung cư, vừa để ở lâu dài, vừa coi như tài sản để dành cho con sau này.
Tôi có sẵn khoảng 2 tỷ đồng tích lũy. Nếu nhìn qua, đó không phải là con số nhỏ. Nhưng khi bắt đầu tìm hiểu thị trường nhà ở, tôi mới thấy khoảng cách giữa khả năng tài chính của mình và giá nhà tại Hà Nội hiện tại lớn đến mức nào? Những căn hộ hai phòng ngủ ở khu vực tôi quan tâm đều từ 6 tỷ đồng trở lên. Nghĩa là để mua, gia đình tôi phải vay thêm ít nhất 3-4 tỷ đồng.
Bài toán tài chính ngay lập tức trở thành áp lực với chúng tôi. Mức lãi suất hiện nay, sau thời gian ưu đãi, có thể lên tới 13-15% mỗi năm. Tôi thử tính sơ, tiền lãi hàng tháng đã là một khoản rất lớn, chưa kể tiền gốc. Dù thu nhập gia đình ở mức khá, việc gánh một khoản vay kéo dài hàng chục năm khiến tôi không khỏi lo lắng. Chỉ cần một biến động nhỏ về công việc hay sức khỏe, mọi kế hoạch có thể bị đảo lộn.
>> Rủi ro vay mua nhà dù vợ chồng thu nhập 100 triệu
Tốc độ tăng giá nhà đang vượt quá xa khả năng chi trả của người lao động. Chỉ trong khoảng hai năm, giá chung cư ở nhiều nơi đã tăng 200%. Trong khi đó, thu nhập của đa số người đi làm, kể cả như gia đình tôi, chỉ tăng rất chậm, vài phần trăm mỗi năm. Khoảng cách giữa giá nhà và thu nhập ngày càng bị kéo giãn, khiến giấc mơ an cư trở nên xa vời hơn với nhiều người.
Mặt khác, nhìn về khía cạnh giá trị bất động sản, khi giá nhà đã tăng quá cao so với mặt bằng thu nhập như vậy, ai sẽ là người tiếp tục mua để đẩy giá lên nữa? Nếu phần lớn người có nhu cầu ở thực đều không đủ khả năng chi trả, thị trường liệu có thể duy trì đà tăng mãi?
Ở góc độ người mua để ở, tôi thấy mình đang đứng trước một lựa chọn khó. Vay thì áp lực quá lớn, rủi ro dài hạn cao. Không vay thì số tiền tích lũy lại ngày càng "đuối" so với giá nhà. Đây không còn là câu chuyện riêng của gia đình tôi, mà là tình cảnh chung của nhiều người trẻ hiện nay.
Sau nhiều lần cân nhắc, vợ chồng tôi quyết định tạm hoãn kế hoạch mua nhà. Chúng tôi sẽ tiếp tục tích lũy và chờ đợi thêm, thay vì vội vàng bước vào một quyết định có thể ảnh hưởng đến tài chính gia đình trong nhiều năm tới. Với tôi, trong bối cảnh giá nhà đã vượt quá xa thu nhập như hiện nay, sự thận trọng không phải là cách để tự bảo vệ mình.
Tin Gốc: Vnexpress

Năm nay tôi 30 tuổi, thu nhập khoảng 40 triệu đồng mỗi tháng (tức gấp 5 lần thu nhập trung bình người Việt). Nếu nhìn con số đó, nhiều người sẽ nghĩ tôi thuộc nhóm "có điều kiện" so với mặt bằng chung. Thực tế, suốt từ lúc đi làm, tôi không tiêu xài hoang phí, không ăn chơi sang chảnh, không du lịch xa xỉ. Tôi luôn cố gắng tiết kiệm tối đa với mục tiêu rất mua một căn nhà cho riêng mình. Nhưng càng đi làm lâu, tôi càng nhận ra giấc mơ đó xa hơn tưởng tượng rất nhiều.
Điều khiến tôi thấy bất công không phải vì bản thân lười biếng hay thiếu cố gắng. Ngược lại, tôi luôn cảm thấy thế hệ mình đang phải chạy nhanh hơn rất nhiều mà vẫn khó chạm tới những điều từng được xem là cơ bản ở thế hệ trước.
Bố mẹ tôi ngày trước chỉ là công nhân viên chức bình thường, đồng lương không cao, còn phải nuôi mấy anh em tôi ăn học tới đại học. Vậy mà sau nhiều năm tích góp, họ vẫn mua được nhà, rồi tích lũy thêm được chút đất đai. Cuộc sống không dư dả nhưng ít nhất có cảm giác càng chăm chỉ thì tương lai càng ổn định.
Còn bây giờ, tôi nhìn quanh bạn bè đồng trang lứa mà thấy chạnh lòng. Rất nhiều người như tôi, thu nhập 30-40 triệu mỗi tháng, vẫn không dám nghĩ tới chuyện mua nhà ở thành phố. Có người đi làm gần 15 năm vẫn ở thuê. Có người lấy vợ sinh con rồi vẫn sống chung với bố mẹ vì không kham nổi giá nhà. Có người vay ngân hàng mua căn hộ nhỏ nhưng phải sống trong áp lực trả nợ suốt vài chục năm.
Với thế hệ bố mẹ tôi, có một mái nhà từng là điều cơ bản mà người chăm chỉ có thể đạt được sau nhiều năm tích lũy. Nhưng với rất nhiều người trẻ hôm nay, nó đang dần trở thành một mục tiêu quá xa vời, dù họ đã cố gắng không hề ít.
>> Băn khoăn khi bán chung cư để mua nhà mặt đất 18 tỷ dưỡng già
Nhiều người thường nói: "Người trẻ phải cố gắng hơn, giỏi hơn thì mới mua được nhà". Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng nói vậy thì dễ quá, ai chẳng nói được. Vấn đề là nếu chỉ những người thật sự xuất sắc, thu nhập cực cao mới mua nổi nhà, thì rốt cuộc sẽ có bao nhiêu phần trăm người trẻ làm được? Nhà ở đâu thể trở thành thứ chỉ dành cho một nhóm nhỏ?
Theo tôi, giá bất động sản ít nhất phải có sự cân bằng nào đó với thu nhập của người lao động. Một người đi làm ổn định, biết tiết kiệm, mất khoảng 15-20 năm để mua được nhà thì còn có thể chấp nhận. Nhưng nếu giá nhà tương đương 40-50 năm thu nhập, thì vấn đề rõ ràng không còn nằm ở chuyện người trẻ có chăm chỉ hay không nữa.
Tôi thấy người trẻ bây giờ kiếm tiền không hề kém. Nhiều người rất giỏi, làm việc cường độ cao, học thêm kỹ năng liên tục, làm ngày làm đêm. Nhưng giá nhà còn tăng chóng mặt hơn nhiều lần tốc độ tăng thu nhập của họ. Cuối cùng, rất nhiều người trẻ đang phải dành gần như toàn bộ sức lực cuộc đời chỉ để đổi lấy một chỗ ở tạm ổn. Họ trì hoãn chuyện sinh con, từ bỏ sở thích cá nhân, không dám nghỉ việc, không dám sống chậm vì áp lực tiền nhà luôn treo lơ lửng.
Tôi có vài người bạn ở nước ngoài. Họ cũng áp lực công việc, cũng phải trả tiền nhà, nhưng nhà ở không nuốt gần hết tương lai của họ như cách nhiều người trẻ Việt Nam đang trải qua. Họ vẫn còn thời gian cho bản thân, cho gia đình, cho những thú vui riêng. Họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe tinh thần, nghỉ ngơi và tận hưởng cuộc sống nhiều hơn.
Còn ở đây, không ít người đang sống trong tâm thế phải hy sinh tuổi trẻ chỉ để đổi lấy một căn hộ nhỏ. Mọi giấc mơ khác đều phải xếp lại phía sau. Tôi tự hỏi, nếu một người phải đánh đổi gần như toàn bộ tuổi trẻ, sức khỏe và sự tự do để sở hữu một căn nhà, thì liệu ngôi nhà đó có còn mang đúng ý nghĩa của một nơi để sống hạnh phúc nữa không?
Tin Gốc: Vnexpress

"Tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì để có thu nhập", đó là lời chia sẻ của một cử nhân kỹ thuật trong câu chuyện được đăng tải trên báo mới đây. Sau khi tốt nghiệp đại học, có thêm chứng chỉ sư phạm, người đàn ông ấy đã trải qua hơn 7 năm làm công việc không liên quan đến chuyên môn. Khi muốn quay trở lại đúng ngành học, ông liên tiếp nhận những cái lắc đầu. Thậm chí, mang hồ sơ đi xin làm bảo vệ trường học hay dạy vỡ lòng, ông cũng không nhận được phản hồi. Cuối cùng, nhờ một cơ duyên và sự giúp đỡ của giảng viên, ông mới tìm được cơ hội để bắt đầu lại.
Làm việc trong môi trường giáo dục đại học, thường xuyên tiếp xúc với sinh viên, cựu sinh viên và thị trường lao động, tôi nhận ra đây không còn là một hiện tượng hiếm gặp. Đó là tấm gương phản chiếu những khoảng trống trong định hướng nghề nghiệp, trong đào tạo đại học, trong cơ chế kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp, cũng như trong chính nhận thức của người học về giá trị thực sự của tấm bằng đại học. Điều đáng lo hơn là xã hội vẫn đang có quá nhiều người tin rằng chỉ cần học đại học là chắc chắn sẽ có một tương lai ổn định. Niềm tin ấy từng đúng cách đây vài chục năm. Nhưng hiện nay, nó không còn đúng nữa.
Thị trường lao động đang thay đổi với tốc độ nhanh hơn tốc độ thay đổi của chương trình đào tạo. Ngày trước, một sinh viên tốt nghiệp đại học có thể sử dụng kiến thức được học trong nhiều năm mà không lo bị lạc hậu. Ngày nay, điều đó gần như không còn tồn tại. Một kỹ năng được học năm thứ nhất có thể đã lỗi thời khi sinh viên tốt nghiệp. Một phần mềm được dạy trong trường có thể không còn được doanh nghiệp sử dụng. Một vị trí việc làm hôm nay có thể biến mất sau vài năm bởi tự động hóa hoặc trí tuệ nhân tạo.
Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy xu hướng này đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Ngay cả tại những nền kinh tế phát triển, không ít cử nhân trẻ cũng gặp khó khăn khi tìm việc vì yêu cầu tuyển dụng ngày càng khắt khe, trong khi các vị trí dành cho người mới tốt nghiệp lại yêu cầu kinh nghiệm thực tế từ 3 đến 5 năm. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Doanh nghiệp không còn tuyển người chỉ dựa trên bằng cấp. Họ tuyển người có khả năng tạo ra giá trị.
Điều này nghe có vẻ phũ phàng, nhưng lại là quy luật của thị trường. Một doanh nghiệp không thể trả lương chỉ vì ứng viên sở hữu tấm bằng cử nhân. Họ cần người giải quyết được vấn đề. Họ cần người thích nghi được với môi trường làm việc. Họ cần người có thể phối hợp với đồng nghiệp, giao tiếp với khách hàng, chịu được áp lực công việc và liên tục học hỏi.
>> Nơm nớp lo con trượt đại học dù điểm thi 26,65
Trong khi đó, không ít sinh viên vẫn dành phần lớn thời gian đại học để học nhằm vượt qua kỳ thi, thay vì học để làm việc. Khoảng cách ấy chính là một trong những nguyên nhân khiến nhiều cử nhân bước ra khỏi cổng trường với sự tự tin rất lớn, nhưng lại nhanh chóng rơi vào trạng thái hoang mang khi tiếp xúc với thị trường lao động thực tế.
Một trong những hiểu lầm phổ biến nhất hiện nay là coi đại học như một nơi bảo đảm đầu ra nghề nghiệp. Thực tế, chức năng của trường đại học không phải là sản xuất việc làm. Nhiệm vụ của đại học là cung cấp nền tảng tri thức, phương pháp tư duy và năng lực học tập suốt đời. Việc làm là kết quả của sự kết hợp giữa năng lực cá nhân, nhu cầu thị trường và khả năng thích ứng. Nói cách khác, tấm bằng chỉ là điều kiện cần. Nó chưa bao giờ là điều kiện đủ.
Trong quá trình công tác tại trường đại học, tôi từng gặp nhiều sinh viên có thành tích học tập xuất sắc nhưng gặp khó khăn khi đi xin việc. Ngược lại, cũng có những sinh viên điểm số trung bình nhưng lại được doanh nghiệp săn đón từ rất sớm. Sự khác biệt không nằm ở bảng điểm. Những sinh viên được tuyển dụng sớm thường có điểm chung: họ tham gia câu lạc bộ, đi thực tập từ năm thứ hai, thứ ba, chủ động tham gia các dự án, học thêm kỹ năng mềm, xây dựng mạng lưới quan hệ nghề nghiệp, chấp nhận bắt đầu từ những công việc nhỏ.
Trong khi đó, nhiều sinh viên khác dành bốn năm đại học để hoàn thành đủ số tín chỉ rồi chờ ngày nhận bằng. Khi ra trường, họ mới bắt đầu học cách viết CV, học kỹ năng phỏng vấn, tìm hiểu doanh nghiệp cần gì... Lúc ấy, họ đã chậm hơn rất nhiều so với thị trường.
Không ít người trẻ hiện nay giỏi chuyên môn nhưng lại ngại ứng tuyển vì áp lực tâm lý và nỗi sợ bị đánh giá. Đây là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm. Mạng xã hội đang tạo ra một thế giới nơi thành công được phóng đại. Mỗi ngày, người trẻ nhìn thấy những câu chuyện lương nghìn đô, startup triệu USD, người nổi tiếng tuổi đôi mươi, những hình ảnh hào nhoáng về sự nghiệp. Điều đó vô tình tạo ra áp lực rất lớn.
Nhiều người bắt đầu tin rằng nếu mình không thành công sớm thì đồng nghĩa với thất bại. Nếu nộp hồ sơ và bị từ chối thì chứng tỏ bản thân kém cỏi. Nếu phải làm công việc trái ngành thì coi như bốn năm đại học trở nên vô nghĩa. Đó là những suy nghĩ rất nguy hiểm. Không ai bước vào thị trường lao động với vị trí hoàn hảo ngay từ ngày đầu.
Trong nền kinh tế hiện đại, thành công không chỉ đến từ đại học. Nhiều ngành nghề kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ chất lượng cao đang mang lại thu nhập rất tốt. Nhiều người học nghề có thể tìm được việc làm nhanh hơn và phù hợp hơn so với một số cử nhân đại học. Điều quan trọng không phải học gì. Điều quan trọng là học có phù hợp với năng lực, sở trường và nhu cầu xã hội hay không. Nếu ngay từ đầu lựa chọn sai hướng đi, cái giá phải trả đôi khi không chỉ là bốn năm đại học. Mà có thể là nhiều năm loay hoay sau tốt nghiệp.
Trong nhiều buổi gặp gỡ sinh viên, tôi thường nhận được câu hỏi: "Em nên tìm công việc đúng ngành hay công việc có thu nhập tốt?", "có nên chờ cơ hội phù hợp không?", "có nên nhận việc trái ngành không?". Đó là những câu hỏi rất thực tế. Nhưng đôi khi, người trẻ đang vô tình đặt ra một yêu cầu quá hoàn hảo cho công việc đầu tiên. Họ muốn công việc đúng chuyên môn, thu nhập tốt, môi trường thân thiện, có cơ hội thăng tiến, gần nhà, ít áp lực, có thời gian riêng...
Nếu hội đủ tất cả những điều đó thì quá tốt. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Đối với phần lớn người lao động, công việc đầu tiên không phải đích đến. Đó chỉ là điểm khởi đầu. Nó giúp tích lũy kinh nghiệm, giúp hiểu cách vận hành của tổ chức, học kỹ năng giao tiếp, rèn kỷ luật lao động, hiểu bản thân thực sự phù hợp với điều gì.
Có những người thành công nhờ làm đúng ngành ngay từ đầu. Nhưng cũng có rất nhiều người tìm thấy con đường của mình sau nhiều lần chuyển việc. Thậm chí, có người đến tuổi 35 hoặc 40 mới thực sự xác định được hướng đi lâu dài. Điều đó hoàn toàn bình thường, vì sự nghiệp không phải là một cuộc đua ngắn. Đó là hành trình kéo dài hàng chục năm.
Tin Gốc: Vnexpress

