Các môn khoa học xã hội (KHXH) tiếp tục chiếm ưu thế áp đảo khi lịch sử tăng từ 42,85% năm 2025 lên 46,64% năm 2026, còn giáo dục kinh tế và pháp luật tăng từ 21,22% lên 23,27%. Địa lý giảm từ 42,4% xuống còn 36,67%, nhưng vẫn xếp thứ 2 trong các môn tự chọn.
Nhóm khoa học tự nhiên (KHTN) tuy có tín hiệu tích cực là sự chuyển dịch sang các môn STEM nhưng chuyển biến còn khiêm tốn. Vật lý tăng nhẹ, từ 30,4% lên 31,84%. Các môn công nghệ và tin học đều tăng, cho thấy học sinh (HS) bắt đầu quan tâm hơn đến lĩnh vực công nghệ số và kỹ thuật, dù tỷ lệ vẫn còn rất thấp. Tuy nhiên hóa học giảm từ 21,17% xuống 20,75% còn sinh học giảm từ 6,0% xuống 5,74% – mức rất thấp đối với môn học nền tảng của công nghệ sinh học, khoa học sự sống, sinh học lượng tử trong thế kỷ 21.
Đáng chú ý, ngoại ngữ chỉ còn 28,39% thí sinh (TS) lựa chọn – một con số gây nhiều suy nghĩ trong bối cảnh VN đặt mục tiêu hội nhập quốc tế sâu rộng và đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Khi hơn 70% HS không chọn thi ngoại ngữ, khoảng cách giữa khát vọng hội nhập và thực tế học tập đang bộc lộ ngày càng rõ.
Nhìn tổng thể, cơ cấu chọn môn năm 2026 cho thấy nhiều HS vẫn ưu tiên chiến lược “dễ học, dễ thi” hơn là các môn nền tảng cho khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế.
Giai đoạn 2021-2025 là thời kỳ đặc biệt của kỳ thi tốt nghiệp THPT khi vừa vượt qua tác động của Covid-19, vừa chuyển tiếp sang Chương trình GDPT 2018. Đến nay, kỳ thi đã ổn định hơn về tổ chức và công nghệ, nhưng cũng bộc lộ rõ nhiều thách thức về chất lượng giáo dục, định hướng nguồn nhân lực và khoảng cách học tập giữa các vùng miền.
Một trong những tín hiệu đáng lo ngại nhất của giai đoạn 2021-2025 là xu hướng HS nghiêng mạnh sang các môn KHXH trong lựa chọn tổ hợp thi.
Tỷ lệ TS chọn các môn KHXH luôn cao hơn KHTN trong nhiều năm qua. Năm 2021, tỷ lệ chọn KHXH là 53,38%, KHTN là 33,85%; năm 2022 lần lượt là 55,53% và 31,94%; năm 2023 là 55,30% và 31,52%. Đến năm 2024, khoảng cách tiếp tục nới rộng với khoảng 63% TS chọn KHXH và 37% chọn KHTN. Đặc biệt, tại một số tỉnh miền núi, tỷ lệ này lên tới 90% và 10%.
Năm 2025, khi kỳ thi chỉ còn hai môn bắt buộc là toán, ngữ văn và hai môn tự chọn, các môn lịch sử, địa lý và giáo dục kinh tế và pháp luật vẫn chiếm tỷ lệ lựa chọn áp đảo.
Giai đoạn 2021-2025, kỳ thi tốt nghiệp THPT có tỷ lệ tốt nghiệp duy trì ở mức rất cao, bình quân khoảng 98,93% mỗi năm, nhiều năm vượt 99%. Tuy nhiên, đằng sau con số 99% ấy vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Đó là khoảng cách chất lượng giáo dục giữa các vùng miền vẫn rất rõ rệt. Trong khi nhiều địa phương có phổ điểm khá cao và tỷ lệ điểm giỏi tăng mạnh, không ít tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn gặp khó khăn về điều kiện dạy học, cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ nên kết quả thi còn thấp, như Lào Cai, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Điện Biên, Đắk Lắk, Lai Châu, Cao Bằng, Sơn La…
Một con số đáng chú ý là khoảng cách điểm trung bình giữa hai nhóm địa phương. Tính bình quân 5 năm, 10 tỉnh, thành phố có điểm cao nhất đạt khoảng 6,85, trong khi 10 địa phương thấp nhất chỉ 5,99 điểm, chênh gần 0,9 điểm.
Khoảng cách này phản ánh sự phân tầng chất lượng giáo dục theo vùng miền. Trong chu kỳ 5 năm, mức chênh dao động: 2021 là 0,75 điểm; 2022 là 0,89; 2023 là 0,91; 2024 là 0,96; và 2025 giảm còn 0,77.
Đặc biệt, năng lực ngôn ngữ học thuật của HS đồng bào dân tộc thiểu số đang là rào cản lớn đối với chất lượng giáo dục vùng khó. Điều này ảnh hưởng không chỉ đến các môn KHXH, mà còn là khả năng tiếp cận kiến thức KHTN và công nghệ.
Một dấu ấn nổi bật của giai đoạn này là chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ. Hầu hết TS đăng ký dự thi trực tuyến; việc truyền đề thi đã được mã hóa qua đường thông tin bảo mật của cơ yếu Chính phủ; dữ liệu thi, xét tuyển và đối sánh kết quả được số hóa đồng bộ hơn trước, góp phần giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí và tăng tính minh bạch.
Đề thi cũng từng bước chuyển từ kiểm tra ghi nhớ kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng theo định hướng Chương trình GDPT 2018, góp phần thúc đẩy đổi mới dạy học trong nhà trường phổ thông.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện phục vụ 3 mục tiêu: xét tốt nghiệp; cung cấp dữ liệu tuyển sinh đại học – giáo dục nghề nghiệp; và đánh giá chất lượng dạy và học. Năm 2025, xét tuyển bằng điểm thi tốt nghiệp vẫn chiếm hơn 50% số TS nhập học, cho thấy các trường đại học vẫn đặt niềm tin lớn vào kỳ thi này. Tuy nhiên, cùng với xu hướng tự chủ tuyển sinh, nhiều trường đã mở rộng các phương thức linh hoạt và tổ chức kỳ thi riêng như đánh giá năng lực, đánh giá tư duy để chọn người học phù hợp hơn.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2021-2025 đã đạt nhiều thành tựu quan trọng nhưng chưa thể giải quyết toàn bộ những vấn đề của giáo dục phổ thông. Vì vậy, giai đoạn 2026-2030 cần tập trung vào những giải pháp căn cơ hơn.
Trước hết, cần tiếp tục đổi mới kiểm tra – đánh giá theo hướng đánh giá năng lực thực tiễn thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ. Việc ra đề cần gắn với yêu cầu HS biết vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề và tư duy liên môn.
Cùng với đó, cần tăng cường hướng nghiệp và phân luồng HS sau THCS, THPT. Một nền giáo dục hiện đại không thể để mọi HS cùng chạy vào một hướng là đại học.
Đặc biệt, cần nghiên cứu mô hình thi và cấp bằng trung học nghề cho HS theo chương trình trung học nghề nhằm tạo động lực phân luồng hiệu quả hơn sau THCS, nâng cao chất lượng đầu vào THPT.
Đối với giáo dục vùng khó, vấn đề không chỉ nằm ở cơ sở vật chất mà còn ở chất lượng đội ngũ giáo viên và năng lực ngôn ngữ học thuật của HS. Muốn thu hẹp khoảng cách vùng miền, cần chính sách đủ mạnh để thu hút giáo viên giỏi đến vùng sâu, vùng xa.
Cuối cùng, chuyển đổi số cần được đẩy mạnh hơn nữa, trong đó có lộ trình tổ chức thi trên máy tính từ sau năm 2027. Đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật thi cử mà còn là bước đi cần thiết để giáo dục tiến gần hơn với xu hướng đánh giá hiện đại của thế giới.
Ngăn chặn gian lận, làm lộ, lọt đề thi là nội dung được nhấn mạnh tại buổi làm việc của Bộ Giáo dục và Đào tạo và UBND TP HCM về công tác chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026, chiều 21/5.
Điểm mới năm nay là giám thị có thể được trang bị máy quét an ninh cầm tay, hỗ trợ phát hiện thí sinh mang điện thoại hoặc các thiết bị công nghệ cao.
"Việc này không bắt buộc, có thể sử dụng tại những điểm thi có nguy cơ cao, nhạy cảm, phức tạp, nhiều thí sinh tự do", Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng nói.
Theo Thứ trưởng, thời gian qua, nhiều học sinh bị khởi tố vì dùng thiết bị công nghệ cao để gian lận, làm lộ đề thi. Có em rất ngây ngô, không biết đề thi là bí mật quốc gia, hành vi làm lộ, lọt đề có thể bị xử lý hình sự.
Đa số dùng điện thoại chụp đề rồi chuyển ra ngoài. Nếu quan sát kỹ và được tập huấn đầy đủ, giám thị sẽ dễ dàng nhận ra những dấu hiệu bất thường trong tâm lý, hành động của thí sinh.
"Em nào có ý đồ gian lận thì thái độ, tâm lý sẽ rất khác. Phòng thi nào có thí sinh gian lận thì một phần trách nhiệm nằm ở giám thị, phải xem xét xử lý thi đua", ông Thưởng lưu ý.
Ngược lại, nhiều trường hợp vi phạm vì quên, không cố ý. Ông Thưởng lấy ví dụ một thí sinh giỏi, gần hết giờ thì chuông cuộc gọi reo mới sực nhớ mang điện thoại trong người. Em bị lập biên bản, đình chỉ thi dù không sử dụng.
Ông đánh giá sử dụng máy quét an ninh vừa bảo vệ tính nghiêm túc của kỳ thi, vừa bảo vệ học sinh khỏi những sự cố đáng tiếc. Bởi nếu thiết bị vi phạm được phát hiện trước khi vào phòng thi, thí sinh không bị xử lý kỷ luật.
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, cho biết trong kỳ thi tốt nghiệp THPT đầu tiên sau sáp nhập, TP HCM có gần 143.000 thí sinh. Quy mô thí sinh lớn nhất nước cộng với địa bàn rộng là áp lực không nhỏ để duy trì kỳ thi an toàn, nghiêm túc.
Nhà trường, thầy cô được lưu ý phối hợp phụ huynh tăng cường nhắc nhở học sinh về những vật dụng được và không được phép mang vào phòng thi, nhất là điện thoại, thiết bị ghi âm ghi hình.
Với các điểm thi có thí sinh tự do, Sở đề nghị các trường và giám thị chú ý hơn.
"Tinh thần là không để thí sinh nào vi phạm quy chế", ông Hiếu nói.
Đại diện Cục An ninh chính trị nội bộ (A03), Bộ Công an, cho biết có 9 thí sinh bị xử lý hình sự vì làm lộ đề thi trong thời gian qua.
Nguyễn Minh Tú, 22 tuổi, quê Phú Thọ, sẽ nhận bằng tốt nghiệp cử nhân Khoa học máy tính của Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) vào giữa tháng 5 tới. Với điểm tổng kết 3.94/4, Tú là thủ khoa tốt nghiệp sớm một kỳ của ngành và là á khoa toàn đại học.
"Ngành mình khá nhiều sinh viên tốt nghiệp sớm nên mình không nghĩ có thể dẫn đầu", Tú nói. Chàng trai quê Phú Thọ đang là kỹ sư tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Samsung Việt Nam (SRV).
Tú từng được tuyển thẳng vào lớp chuyên Sinh, trường THPT chuyên Hùng Vương, nhờ giải nhất cấp tỉnh môn này hồi lớp 9. Khi đó, Tú còn nghĩ sẽ học ngành Y khi vào đại học.
Thế nhưng, sau năm lớp 10, Tú nhận ra mình thích môn Toán hơn. Giải thi học sinh giỏi đơn thuần đến từ việc ứng dụng xác suất thống kê trong Toán để giải bài tập.
Giữa lúc đó, nam sinh nghe được bản tin trên truyền hình rằng lương tháng ngành IT có thể lên tới 140 triệu đồng. Tìm hiểu thêm, Tú quyết định theo đuổi.
Để chuyển hướng, Tú chia sẻ suy nghĩ với gia đình và thầy cô. Trong khi các bạn tập trung học Sinh, Tú học Toán, Lý nhiều hơn. Tú cũng phải học thêm tiếng Anh nhằm "lấy lại gốc" để đăng ký xét tuyển bằng tổ hợp A01 (Toán, Lý, Anh).
Năm 2022, Tú đạt 28,45 điểm thi tốt nghiệp THPT, trở thành á khoa tổ hợp A01 tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên năm đó, ngành Khoa học máy tính của HUST không xét loại điểm này. Nam sinh đỗ bằng điểm thi đánh giá tư duy với 24,6/30 điểm, thừa 2,35 so với điểm chuẩn.
Vào trường, Tú hồi hộp vì không đầu tư cho môn Tin học từ trước, cũng chỉ là "tay ngang" học Toán ở lớp chuyên Sinh. Trong khi đó, nhiều bạn trong lớp có giải nhất, nhì quốc gia.
"Mình bị áp lực đồng trang lứa, luôn suy nghĩ không biết có thể cạnh tranh với các bạn không", Tú nhớ lại.
Sau kỳ đầu, Tú quyết định không so sánh mình với các bạn mà tập trung vào những gì đang có và cải thiện dần.
Hai năm đầu học đại cương, nam sinh tập trung tự học hoàn toàn. Trên lớp, Tú ngồi bàn đầu "bằng mọi giá" để dễ tập trung và tương tác với thầy cô, đặt câu hỏi khi có bất kỳ thắc mắc nào nhằm hiểu bài ngay tại lớp.
Về nhà, Tú tắt mạng xã hội, gần như chỉ nhắn tin qua Zalo cho người thân, để luyện đề. Sau kết quả không tốt môn Đại số trong kỳ I, Tú càng tập trung, đặc biệt các môn đại cương liên quan Toán.
"Có nền tảng Toán tốt, sau làm về mảng nào trong lĩnh vực IT cũng có thể ứng dụng và nhanh chóng thích nghi", Tú nhìn nhận.
Đặt mục tiêu tốt nghiệp sớm để thử thách bản thân, nhiều thời điểm Tú stress bởi luôn phải học số tín chỉ nhiều hơn bình thường và học cả mùa hè. Như kỳ I năm thứ ba, nam sinh học tới 24 tín chỉ - mức tối đa được phép đăng ký và nhiều hơn 6 so với nhiều bạn bè.
Cùng lúc, Tú thực tập tại Samsung, duy trì làm gia sư Toán, Lý hai buổi một tuần cho học sinh THPT.
Kỳ sau đó, nam sinh còn đăng ký tham gia nghiên cứu ở phòng thí nghiệm về AI. Đây là nền tảng để nam sinh làm đồ án về ứng dụng AI vào tinh chỉnh dữ liệu dự báo thời tiết sẵn có, từ đó hình thành bộ dữ liệu chính xác hơn, sử dụng cho các khu vực bị ảnh hưởng bởi khí hậu gió mùa như Việt Nam.
Nói về công việc tại Samsung Việt Nam, Tú cho biết bắt nguồn từ khi đọc được thông báo tuyển sinh viên năm cuối tài năng của doanh nghiệp này. Dù khi đó mới học năm thứ hai, Tú mạnh dạn ứng tuyển và không ngờ được nhận. Tại đây, Tú được tham gia đào tạo, hỗ trợ các dự án. Đầu năm nay, nam sinh trở thành nhân viên chính thức ở mảng An toàn thông tin.
"Mình sẽ cần thời gian làm quen", Tú nói. "Đây là mảng mới, nhưng mình tin nền tảng ở Bách khoa Hà Nội có thể giúp thích ứng nhanh".
Nam sinh dự định học lên bậc cao hơn và trở thành giảng viên nếu có cơ hội để mang những trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp đến gần hơn với sinh viên.