Trước đại dịch Covid-19 gia đình chồng tôi có mua cho hai vợ chồng một lô đất ở khu dân cư để ra ở riêng, được giới thiệu là đất đầu tư ngon, kinh doanh tốt, mua năm nay là năm sau có sổ hồng.
Sau khi mua và xây dựng nhà cửa ổn định thì vấn đề bắt đầu đến. Sổ hồng đến nay là 6 năm mua đất vẫn chưa có, hỏi cò thì chỉ nhận được phản hồi là: “Anh không có thẩm quyền cấp sổ. Anh không biết khi nào có, các em tự liên hệ hỏi xem…”.
Phần đất này các hàng quán bắt đầu mọc lên, đầu tiên là chịu ồn hát karaoke, sau đó lại bật nhạc ầm ĩ, đỉnh điểm là cách nhà 50 m lại mở ra một quán beer club ngoài trời với các em DJ ăn mặc gợi cảm, các anh MC liên tục nói: “tay đâu, tay đâu”, những bạn vũ công lên nhún nhảy lộ thiên và mở nhạc với âm lượng kinh khủng.
Gia đình tôi thì có mẹ già, con nhỏ chỉ mới hai tuổi vậy mà đã biết nói: “Ồn ào quá sao con ngủ được”. Đáng lẽ trẻ em tầm tuổi này và người già phải được nghỉ ngơi ngủ sớm, vậy mà giờ ngày nào cũng phải chờ quán beer club bớt nhạc mới có thể vào giấc được.
Báo cáo cơ quan chức năng thì chỉ vào nhắc nhở, xong rồi lại đâu vào đấy. Có cán bộ đến thì quán bật nhạc nhỏ lại, sau đó cũng lại như bình thường. Nhìn con thấy thương nhưng bất lực.
Với tình trạng này tôi đã đầu tư hơn 70 triệu để làm phòng cách âm cho em bé ngủ nhưng quán bật nhạc bass to quá thấy cũng không giảm được nhiều. Giờ muốn bán đất đi chỗ khác cũng không có sổ để mà bán. Mà có bán thì xung quanh còn đất trống chưa chắc người ta mua của mình.
Thật là sai lầm khi đầu tư đất ở mà không tìm hiểu kỹ.
Tin Gốc: Vnexpress

Mỗi năm, khi tiếng trống bế giảng trường con vang lên cũng là lúc vợ chồng tôi bước vào một cuộc tranh luận quen thuộc: ai sẽ trông con suốt ba tháng hè? Người ngoài thường nghĩ nghỉ hè là khoảng thời gian đẹp nhất của tuổi thơ sau một năm học căng thẳng. Nhưng với nhiều gia đình trẻ ở thành phố như tôi, mùa hè đôi khi lại là áp lực âm thầm kéo theo mệt mỏi, tranh cãi và cảm giác bất lực.
Gia đình tôi có hai con, một bé 12 tuổi và một bé 7 tuổi. Vợ chồng đều làm giờ hành chính, không thể nghỉ dài ngày. Để con ở nhà một mình thì không yên tâm, mà thuê người trông trẻ cả ngày là khoản chi quá lớn. Còn để con suốt ngày ôm điện thoại, TV thì càng đáng lo hơn. Cuối cùng, như rất nhiều gia đình khác, chúng tôi thường chọn cách đưa con về quê cho ông bà chăm sóc trong dịp hè.
Nhiều năm liền, tôi từng nghĩ đó là giải pháp hợp lý. Ông bà ở quê có cháu cũng đỡ cô đơn. Mỗi lần nghe tin các cháu sắp về nghỉ hè, mẹ tôi lại tất bật dọn phòng, đi chợ mua đồ ăn ngon rồi khoe với hàng xóm rằng nhà sắp đông vui. Nhưng niềm vui ấy không kéo dài được lâu như tôi tưởng.
Hè năm ngoái, chỉ sau vài tuần đầu hào hứng, tôi nhận ra bố mẹ bắt đầu mệt mỏi. Hai đứa trẻ nhà tôi vốn quen sống trong căn hộ thành phố với điều hòa, wifi và điện thoại, gần như không thích nghi nổi với nhịp sống ở quê. Chúng thức khuya, ngủ nướng, cãi nhau suốt ngày. Phần lớn thời gian, chúng cắm mặt vào điện thoại để xem video, chơi game hoặc lướt web.
>> Gánh nặng chăm cháu nghỉ hè của ông bà ở quê
Tôi nhiều lần gọi điện nhắc con phải giúp quét sân, nhặt rau, rửa bát hay ít nhất là ngồi nói chuyện với ông bà vài phút. Nhưng những lời dặn dò từ xa nhanh chóng biến mất sau khi cuộc gọi kết thúc. Chỉ khi ông bà nghiêm khắc nhắc nhở, các con mới miễn cưỡng làm. Lúc đó tôi mới nhận ra, không phải cứ đưa con về quê là trẻ sẽ tự động sống tình cảm hơn hay hiểu giá trị gia đình hơn.
Nhiều phụ huynh đang lãng mạn hóa tuổi thơ ở quê như một "liều thuốc chữa lành" cho trẻ em thành phố. Nhưng khoảng cách thế hệ và lối sống hiện đại khiến điều đó ngày càng khó xảy ra. Ông bà bây giờ cũng không còn đủ sức khỏe để trở thành "bảo mẫu miễn phí" cho con cháu suốt ba tháng hè. Nhiều người đã ngoài 70 tuổi, đau lưng, mất ngủ, huyết áp cao nhưng vẫn phải dậy sớm nấu ăn, dọn dẹp và chạy theo những đứa trẻ hiếu động. Có người thương con cháu nên không than phiền, nhưng sự mệt mỏi hiện rõ trong giọng nói và dáng đi của họ.
Trong khi đó, nhiều phụ huynh thành phố đôi khi vô tình xem việc gửi con về quê như một cách "giải phóng trách nhiệm" mùa hè. Chúng ta tự an ủi rằng trẻ được gần gũi thiên nhiên, tránh xa áp lực học hành, nhưng thực tế nhiều đứa trẻ chỉ đổi từ chiếc sofa ở thành phố sang chiếc võng ở quê để tiếp tục dán mắt vào màn hình điện thoại.
Thực tế, mùa hè của trẻ em Việt Nam đang thiếu định hướng. Một số người bắt con học thêm triền miên vì sợ bị tụt lại, số khác để con trải qua ba tháng hè buông thả với điện thoại và Internet. Dường như, chúng ta chưa thật sự tạo ra được một mùa hè đúng nghĩa cho trẻ: vừa nghỉ ngơi, vừa trưởng thành.
Nhiều gia đình như tôi rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: không cho con về quê thì không ai trông. Còn cho về quê lại sợ ông bà quá tải và con sống thiếu kỷ luật. Điều đó phản ánh khoảng trống trong việc chăm sóc trẻ ngoài thời gian học chính khóa ở đô thị hiện nay.
Năm nay, sau nhiều suy nghĩ, tôi quyết định không gửi hai con về quê suốt ba tháng hè như trước nữa. Thay vào đó, tôi đăng ký cho các con tham gia một khóa trại hè ngắn ngày và cố gắng sắp xếp thời gian ở bên con nhiều hơn. Tình yêu gia đình không thể được xây dựng bằng sự phó mặc. Tôi không muốn ông bà kiệt sức trong vai trò giữ trẻ, cũng không muốn tuổi thơ của các con trôi qua chỉ với những ngày vô định.
Ở nhiều nước, trẻ em có rất nhiều lựa chọn mùa hè: thư viện cộng đồng, trại kỹ năng, hoạt động thể thao, lớp nghệ thuật hay các chương trình thiện nguyện. Tuy nhiên, tại Việt Nam, không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện cho con tham gia các khóa hè đắt đỏ ấy. Với tầng lớp lao động và công chức bình thường, mùa hè của con đôi khi chỉ được giải quyết bằng hai chữ "xoay xở".
Một mùa hè ý nghĩa là khi con trẻ biết tự lập hơn, biết quan tâm người khác hơn và hiểu rằng nghỉ hè không đồng nghĩa với sống vô trách nhiệm. Vì thế, trẻ em không chỉ cần một nơi để được "giữ hộ" trong ba tháng nghỉ hè. Chúng cần sự hiện diện thật sự của gia đình và những trải nghiệm giúp chúng trưởng thành thay vì chỉ lớn thêm một tuổi sau mỗi mùa hè đi qua.
Tin Gốc: Vnexpress

Trước đây, mỗi lần nhận thiệp cưới, tôi thường thấy vui vì có dịp gặp gỡ, chung vui cùng bạn bè, người quen. Nhưng vài năm trở lại đây, cảm giác đó dần thay đổi, nhất là với những đám cưới tổ chức ở nhà hàng. Tôi vẫn đi, vẫn mừng, nhưng trong lòng lại có một cảm giác khó gọi tên nhưng lặp đi lặp lại sau mỗi lần tham dự.
Mỗi lần dự tiệc cưới ở nhà hàng, nhìn thực đơn thì rất "hoành tráng", tên món nào cũng kêu, nhưng khi dọn ra thì khẩu phần ít, chất lượng lại không như kỳ vọng. Trong khi đó, giá mỗi bàn tiệc lại không hề rẻ. Tôi hay nói đùa với bạn bè rằng "bỏ phong bì mừng cưới 500 K nhưng trước mỗi lần đi ăn cưới vẫn phải tranh thủ ăn cho no bụng vì không kiểu gì cũng đói".
Không chỉ là chuyện món ăn, cách tổ chức tiệc cưới ở nhà hàng giờ cũng có nhiều điều bất cập. Một bàn tiệc thường có 10 khách, và không ít lần tôi phải ngồi chung với những người hoàn toàn xa lạ. Không khí vì thế cũng trở nên gượng gạo, ai cũng cắm cúi ăn cho xong phần của mình. Còn bạn bè thân thiết thì đôi khi lại bị xếp mỗi người một bàn do không đến cùng lúc.
>> 'Cảm giác như mua vé dự tiệc khi nhận thiệp cưới in mã QR'
Chưa kể, mọi thứ diễn ra quá nhanh, như một dây chuyền được lập trình sẵn cũng làm mất đi cái vui của đám cưới. Từ lúc khách vào đến khi cô dâu chú rể xuất hiện, rồi hai họ phát biểu, nâng ly... tất cả đều theo một kịch bản quen thuộc đến mức tôi có thể đoán trước từng bước. Đám cưới nào cũng giống đám cưới nào, gói gọn trong hai tiếng đồng hồ. Cảm giác vì thế cũng nhạt dần, thay vào đó là sự nhàm chán.
Tôi nhớ những đám cưới ngày trước, dù đơn giản hơn, nhưng lại có cảm giác gần gũi. Khách đến không chỉ để ăn mà còn để trò chuyện, chia sẻ niềm vui với gia đình hai bên. Còn bây giờ, nhiều đám cưới khiến tôi có cảm giác như đang tham dự một sự kiện được "đóng gói", nơi mọi thứ phải nhanh, gọn, đúng giờ, nhưng lại thiếu đi sự kết nối.
Có thể với nhiều người, tổ chức ở nhà hàng là lựa chọn hợp lý: tiện lợi, đỡ vất vả, không phải lo toan nhiều. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng ở góc độ một người đi dự, tôi vẫn thấy tiếc cho ý nghĩa của một ngày đáng lẽ phải ấm áp và đáng nhớ.
Tin Gốc: Vnexpress

Sau khi đọc bài viết "Nhiều lao động bị vắt kiệt vì ‘KPI, deadline’", tôi như thấy chính mình trong đó. Tôi năm nay đã ngoài 40 tuổi, làm việc ở một công ty suốt 13 năm nay. Từng ấy thời gian đủ để tôi chứng kiến sự thay đổi của môi trường công sở, của áp lực công việc và cả cách con người dần bị biến thành những cỗ máy chạy theo năng suất.
Ngày mới đi làm, tôi từng chăm chỉ hết mình vì niềm tin sẽ có một cuộc sống ổn định. Tôi từng tự hào vì mình là người chịu khó, có trách nhiệm và luôn hoàn thành công việc đúng hạn.
Nhưng càng về sau, tôi càng nhận ra sự chăm chỉ của mình đang bị khai thác đến mức kiệt quệ. Chúng tôi không chỉ làm việc ở công ty tám tiếng mỗi ngày, mà còn mang việc về nhà, thức khuya trả lời email, giải quyết tin nhắn nhóm, hoàn thành báo cáo, chạy KPI và sống trong cảm giác lúc nào cũng sợ chậm deadline.
Ranh giới giữa công việc và cuộc sống cá nhân của tôi ngày càng biến mất. Có những tối tôi vừa ăn cơm vừa nhìn điện thoại vì sợ sếp nhắn. Có những ngày cuối tuần đáng lẽ được nghỉ ngơi thì laptop lại sáng đèn từ sáng đến khuya. Tôi từng đưa con đi chơi nhưng đầu óc vẫn nghĩ về bảng số liệu chưa làm xong. Thậm chí, ngay cả lúc nằm ngủ, tôi vẫn giật mình vì nhớ ra một email chưa trả lời. Cứ thế, tôi sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài suốt nhiều năm mà không hề hay biết.
Áp lực công việc ngày nay không còn đơn thuần là "làm nhiều", mà là cảm giác không bao giờ được nghỉ ngơi thật sự. Công nghệ giúp chúng ta kết nối nhanh hơn, nhưng cũng khiến công việc bám theo con người mọi lúc mọi nơi. Chỉ cần điện thoại còn kết nối internet, người lao động như tôi gần như không thể thoát khỏi công việc.
>> Tôi 10 năm cống hiến nhưng công ty xem là điều hiển nhiên
Nhiều người nói rằng áp lực là điều bình thường khi đi làm, ai cũng phải chịu. Tôi không phủ nhận doanh nghiệp cần doanh thu, cần hiệu suất để tồn tại. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nhiều công ty đang đẩy áp lực vượt quá giới hạn chịu đựng của người lao động.
Có giai đoạn tôi phải làm việc liên tục từ sáng đến hơn 10 giờ đêm trong nhiều tuần. Hết báo cáo tháng lại đến kế hoạch quý, hết chỉ tiêu doanh số lại đến đánh giá hiệu suất. Mỗi năm KPI lại tăng, nhưng thời gian nghỉ ngơi của tôi thì ngày càng ít đi. Chúng tôi luôn được yêu cầu phải "cố thêm chút nữa", "nỗ lực thêm chút nữa", nhưng không ai hỏi chúng tôi đã mệt đến mức nào?
Tôi từng chứng kiến đồng nghiệp bật khóc trong nhà vệ sinh vì áp lực công việc. Có người phải uống thuốc ngủ vì mất ngủ kéo dài. Có người mới ngoài 30 tuổi đã mắc bệnh dạ dày, rối loạn lo âu, huyết áp cao. Nhưng sáng hôm sau, tất cả vẫn phải mặc đồng phục, cười nói bình thường và tiếp tục chạy deadline như chưa có chuyện gì xảy ra.
Phải chăng xã hội đang dần xem sự kiệt sức như một biểu hiện của chăm chỉ? Người ta tung hô những ai làm việc xuyên đêm, trả lời email ngoài giờ hay không nghỉ phép suốt nhiều năm. Nhưng ít ai tự hỏi liệu đó có phải là một cuộc sống lành mạnh hay không? Tôi từng tự hào vì mình "cày việc" giỏi, nhưng giờ đây không còn thấy điều đó đáng tự hào nữa.
Đổi lại cho những năm tháng lao lực tuổi trẻ là sức khỏe giảm sút rõ rệt. Tôi thường xuyên đau đầu, mất ngủ và lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi. Có những ngày tan làm về nhà, tôi không còn đủ năng lượng để trò chuyện với vợ con. Con tôi nhiều lần muốn bố chơi cùng nhưng tôi chỉ muốn nằm im vì quá kiệt sức. Tôi nhận ra mình đang dành phần lớn năng lượng cho công ty, còn gia đình lại chỉ nhận được phần mệt mỏi còn sót lại. Đó là điều khiến tôi day dứt nhất.
Khi kinh tế khó khăn, ai cũng lo mình tụt lại phía sau. Vì sợ mất việc, nhiều người như tôi vẫn chấp nhận làm thêm ngoài giờ, chấp nhận bị giao việc cả cuối tuần, chấp nhận sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài. Chúng tôi không dám từ chối vì còn gánh nặng gia đình, tiền nhà, tiền học cho con và vô số áp lực cơm áo khác.
Nhưng con người không phải cỗ máy. Tôi nghĩ nhiều doanh nghiệp đang nhầm lẫn giữa hiệu suất và sự cống hiến mù quáng. Một nhân viên làm việc 14 tiếng mỗi ngày chưa chắc hiệu quả hơn một người được nghỉ ngơi đầy đủ và làm việc trong trạng thái cân bằng. Khi con người quá mệt mỏi, họ dễ mất sáng tạo, giảm năng suất và dần mất động lực với công việc.
Tôi vẫn đang phải tiếp tục làm việc, vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình. Nhưng càng lớn tuổi, tôi càng mong các doanh nghiệp nhìn người lao động bằng sự thấu hiểu hơn. Bởi phía sau những bảng KPI và deadline là những con người bằng xương bằng thịt, cũng biết mệt, biết áp lực và cũng cần được sống chứ không chỉ tồn tại để làm việc.
Tin Gốc: Vnexpress

