Trong các lần chuyên gia Nhật Bản về làm việc tại nhà máy, tôi có một quan sát rất rõ ràng: Họ làm việc với cường độ và tốc độ có thể gấp ba, thậm chí gấp bốn lần kỹ sư Việt Nam.
Điều đáng nói, sự khác biệt này không hoàn toàn nằm ở trình độ chuyên môn. Điểm mấu chốt lại nằm ở thể lực sức bền, sự dẻo dai và khả năng duy trì nhịp độ làm việc liên tục trong thời gian dài.
Thực tế này cũng lặp lại ở lực lượng công nhân trẻ. Không ít người khi mới vào làm chưa quen môi trường điều hòa, chưa có nền tảng thể lực tốt nên nhanh chóng hụt hơi, không thể theo kịp tiến độ công việc hay học hỏi từ chuyên gia. Khoảng cách không chỉ là kỹ năng, mà bắt đầu từ chính thể trạng.
Câu chuyện về thể lực cũng khiến tôi nhớ đến một trải nghiệm khác.
Các con của một người bạn tôi là người Pháp, các cháu khoảng 16 tuổi. Mỗi lần về Việt Nam, điều khiến tôi ấn tượng là các cháu luôn hào hứng tham gia các hoạt động thể thao cùng bạn bè đồng trang lứa từ đá bóng, bơi lội đến các trò vận động ngoài trời.
Các cháu không coi đó là “việc phải làm”, mà là một phần tự nhiên trong cuộc sống. Nhìn vào sự năng động, chủ động vận động của các cháu, tôi càng thấy rõ sự khác biệt trong thói quen rèn luyện thể chất giữa các môi trường sống khác nhau.
Nhưng câu chuyện thể lực không dừng lại trong nhà máy hay những ví dụ cá nhân. Nó phản ánh một vấn đề rộng lớn hơn của xã hội. Với nhiều người trẻ, thể dục thể thao thường bị xếp sau các thú vui khác như xem tivi, chơi game hay đơn giản là nghỉ ngơi.
Lý do phổ biến là “quá bận rộn”. Bận công việc, bận các mối quan hệ, bận đến mức không còn thời gian cho việc vận động.
Trong khi đó, nghịch lý là người cao tuổi lại thường xuyên tranh thủ mọi lúc để tập thể dục. Câu nói vui “trẻ uống trà, già tập thể thao” dường như đang phản ánh đúng một thực tế đáng suy ngẫm.
Các con số thống kê càng cho thấy vấn đề rõ nét hơn. Khoảng 30% người trưởng thành Việt Nam thiếu hoạt động thể lực. Trung bình mỗi người chỉ đi khoảng 3.600 bước mỗi ngày, riêng giới văn phòng con số này thậm chí chỉ khoảng 600 bước, quá xa so với khuyến nghị 10.000 bước mỗi ngày.
Trong khi đó, mức tiêu thụ bia rượu lại ở mức cao, kéo theo hệ quả là sức bền và sức mạnh thể chất của người Việt bị đánh giá ở mức thấp so với chuẩn chung. Từ góc nhìn cá nhân, tôi cho rằng nhiều lý do được đưa ra bận rộn, thiếu thời gian, thiếu điều kiện chỉ đúng một phần.
Vấn đề cốt lõi nằm ở thói quen và nhận thức. Việc dành ra 15-30 phút mỗi ngày để vận động là hoàn toàn khả thi, nhưng nhiều người vẫn chọn trì hoãn. Khi sự “ì trệ” trở thành trạng thái quen thuộc, nó dần biến thành một vòng luẩn quẩn khó thoát.
Dĩ nhiên, cũng cần nhìn nhận những yếu tố khách quan. Ở nhiều đô thị, không gian dành cho thể thao còn hạn chế, trẻ em phải chơi trên vỉa hè, người lớn thiếu sân bãi tập luyện.
Trong trường học, giáo dục thể chất chưa thực sự được coi trọng, khiến thói quen vận động không được hình thành từ sớm. Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng xã hội, game và các hình thức giải trí thụ động đang “chiếm chỗ” của vận động thể chất, đặc biệt ở giới trẻ.
Hệ quả không còn là cảnh báo xa xôi. Tỷ lệ tăng huyết áp, đái tháo đường và các bệnh không lây nhiễm đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây. Khi thể lực suy giảm, không chỉ sức khỏe cá nhân bị ảnh hưởng mà năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia cũng bị tác động.
Bởi vậy, phát biểu gần đây của Tổng Bí thư rằng “mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên” là hoàn toàn xác đáng. Đó là một gợi mở rất thực tế: không cần điều kiện quá cầu kỳ, không cần những mục tiêu lớn lao, chỉ cần bắt đầu từ một thói quen nhỏ nhưng duy trì đều đặn mỗi ngày.
Cuối cùng, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng thể lực không phải là câu chuyện của riêng ai, mà là nền tảng của cả một xã hội. Muốn thay đổi, không chỉ cần chính sách hay hạ tầng, mà quan trọng hơn là sự thay đổi trong tư duy mỗi người.
Khi việc vận động trở thành một nhu cầu tự nhiên như ăn uống hay nghỉ ngơi, lúc đó chúng ta mới có thể nói đến một thế hệ khỏe mạnh, bền bỉ và đủ sức cạnh tranh trong môi trường toàn cầu.
Và có lẽ, sự khác biệt tôi nhìn thấy trong nhà máy cũng như qua những đứa trẻ 16 tuổi đầy năng lượng kia không chỉ là câu chuyện của người Nhật, người Pháp hay người Việt, mà là câu chuyện của việc chúng ta chọn sống như thế nào mỗi ngày.
Một người bạn là chủ quán cà phê của tôi ngay từ lúc phong trào dùng ống hút giấy, ống hút tre còn đang rầm rộ - đã cho rằng thoái trào là chuyện sớm muộn vì giá gốc của các loại ống hút này cao hơn nhiều so với ống hút nhựa. Hàng quán chỉ "đu trend" một thời gian, chứ lâu dài là rất khó.
Riêng tôi nhận xét về góc độ người tiêu dùng: Trải nghiệm không phù hợp. Ống hút tre hơi to, ống hút cỏ bàng thì bị bể và hút giấy, gạo thì bị bở.
Thật sự và vậy, phong trào dùng ống hút tre, ống hút giấy, ống hút làm bằng bột gạo đang thoái trào tại nhiều quán cà phê. Tôi đến nhiều quán cà phê và không còn nhiều quán sử dụng những ống hút này để "bảo vệ môi trường" như vài năm trước.
Xin nhắc lại nhược điểm của những loại ống hút "bảo vệ môi trường": Ống hút tre thì to, khó dùng với nhiều loại ly; ống hút cỏ bàng dễ nứt; ống hút giấy hay bột gạo thì nhanh mềm, uống chưa hết ly nước đã mềm nhũn, và những loại ống hút này dễ bị ẩm mốc.
Một giải pháp tốt về ý tưởng, từng hái ra tiền cho nhiều start-up làm ống hút "xanh", nhưng khi đưa vào đời sống lại không vượt qua được bài kiểm tra cơ bản nhất về tính sự tiện dụng.
Chúng ta đã cố giải quyết một bài toán lớn bằng một chi tiết quá nhỏ. Ống hút chỉ là phần nổi rất nhỏ trong tổng lượng rác thải nhựa. Nhưng vì hầu như ai cũng dùng nên nên ống hút trở thành biểu tượng của lối sống xanh.
Quán cà phê đổi ống hút, khách chụp ảnh check-in, ai cũng có cảm giác mình đang góp phần bảo vệ môi trường. Một thay đổi đơn giản, tạo ra cảm giác tích cực ngay lập tức.
Nhưng khi chi phí tăng lên theo từng tháng, khi khách bắt đầu phàn nàn vì trải nghiệm không tốt, khi những tiện lợi nhỏ bị mất đi, các quán buộc phải quay về lựa chọn cũ.
Ở chiều ngược lại, người tiêu dùng cũng bộc lộ một mâu thuẫn quen thuộc: ủng hộ lối sống xanh trên lý thuyết, nhưng lại không sẵn sàng đánh đổi sự tiện lợi trong thực tế. Mấy ai mua bình giữ nhiệt, ống hút kim loại và chịu khó mang đến quán cà phê hay chùi rửa ống hút kim loại mỗi ngày?
Tôi thì nghĩ khác, liệu có thật sự cần ống hút cho mọi loại đồ uống?
Tại sao không bắt đầu chuyển sang một cách đơn giản hơn chỉ đưa ống hút khi khách yêu cầu. Một số loại nước hoàn toàn có thể uống trực tiếp từ ly. Một thay đổi nhỏ, nhưng có cắt giảm đáng kể số lượng ống hút sử dụng mỗi ngày. Theo tôi, cách này thực tế hơn nhiều so với việc thay chất liệu ống hút.
Còn với người tiêu dùng mang theo bình nước cá nhân, từ chối ống hút khi không cần thiết lắm, liệu mấy ai làm được?
"Họ nhận thức được mối nguy hại từ việc ăn quá mặn nhưng vẫn chấp nhận, vẫn ăn mỗi ngày. Thực sự, tôi thấy rất khó hiểu".
Đó là chia sẻ của độc giả Hồng Lê sau bài viết "Sai lầm tàn phá thận từ chén nước chấm trên mâm cơm". Thực tế, nhiều người Việt quen chấm đẫm nước mắm, nước tương để bữa ăn thêm ngon nhưng không biết lượng muối thừa khiến thận phải làm việc quá sức. Ăn mặn không gây tổn thương thận ngay sau một vài bữa ăn. Điều nguy hiểm nằm ở việc duy trì thói quen này trong nhiều năm. Nhiều người không nhận ra mình đang ăn quá mặn vì vị giác thay đổi theo thời gian. Ngoài tác động lên thận, lượng muối dư thừa còn ảnh hưởng trực tiếp đến hệ tim mạch thông qua việc làm tăng huyết áp.
Nhấn mạnh những hệ lụy tiêu cực đến sức khỏe từ thói quen ăn mặn, bạn đọc Ha an cảnh báo: "Nhìn lại mới thấy hầu hết gia đình ở Việt Nam đều có sẵn chén nước chấm trên mâm. Nhiều lúc đồ ăn đã đậm vị rồi nhưng người ta vẫn chấm thêm. Đây đúng là thói quen khó bỏ, nhưng nếu giờ không tiết chế lại thì chúng ta sẽ nhận nhiều hậu quả khôn lường".
>> 10 năm tôi ăn phở không thêm đẫm tương ớt, chanh, giấm
"Nhiều người nói bản thân hoặc những người xung quanh họ ăn mặn mà vẫn sống lâu, vẫn khỏe mạnh. Tuy nhiên, khoa học thống kê theo phổ rộng chứ không phải một vài trường hợp cá biệt. Xác suất người ăn mặn bị dính bệnh lớn hơn nhiều so với người ăn nhạt và chẳng ai biết mình có nằm trong nhóm dễ bệnh hay không, thế nên đừng chủ quan.
Hơn nữa, ngày trước con người vận động rất nhiều, gần như cả ngày không nghỉ, nên ông bà ta ăn mặn thì muối cũng sẽ thoát bớt ra qua đường mồ hôi. Còn bây giờ các bạn thử xem mình hoạt động được bao nhiêu phút mỗi ngày? Dù có chơi thể thao thì cũng chỉ một tiếng là cùng, nên làm sao so được với người xưa?", độc giả Teni Vu nói thêm.
Trong khi đó, với cái nhìn khác về thói quen ăn mặn, bạn đọc Tô Hòa cho rằng: "Phải hiểu cho đúng rằng 'ăn mặn' và 'ăn thừa muối' là hoàn toàn khác nhau. Trong bữa ăn, tôi luôn dùng nước chấm 'cực mặn' nhưng lượng muối đưa vào cơ thể luôn không vượt quá hạn khuyến cáo của cơ quan y tế. Còn những người tưởng như 'ăn rất nhạt' có khi lại hấp thu lượng muối vượt xa khuyến cáo mà không hề hay biết vì những thực phẩm công nghiệp không ngờ tới".
"Với các nghành Khoa học, Kỹ thuật, Y dược, Sinh, Hóa và các ngành có sử dụng máy móc, dụng cụ phức tạp để học tập thì học phí cao có thể hiểu được. Còn các ngành mà sinh viên chỉ cần một cái laptop là học được như Kinh tế, Tài chính, Kế toán, Luật... thì tôi không hiểu lý do gì khiến học phí cao đến vậy?".
Đó là thắc mắc của độc giả Nvtbinh sau khi "Gần 120 đại học công bố học phí năm 2026". Theo đề án tuyển sinh của các trường, phần lớn công bố học phí theo năm, phổ biến 20-35 triệu đồng, cao nhất là gần 200 triệu đồng. Một số trường công bố học phí theo tín chỉ, mức phổ biến khoảng 0,5-1,5 triệu đồng/tín chỉ. Một khóa học thường kéo dài 4-5 năm, khoảng 120-140 tín chỉ.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ. Mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
So sánh mức học phí đại học hiện nay với thu nhập của phụ huynh, bạn đọc Damynghephanvinh bày tỏ lo lắng: "Trung bình học phí đại học khoảng 3 triệu đồng một tháng, cộng thêm chi phí thuê nhà trọ và ăn uống, sinh hoạt tầm 5-6 triệu nữa nếu sinh viên ở tỉnh ra thành phố học. Tính ra, tổng cộng chi phí học đại học vào khoảng 8-10 triệu đồng. Với mức lương công nhân trong khu công nghiệp thì bố hoặc mẹ đi làm cả tháng mới nuôi đủ một con học đại học".
>> '7 năm thất nghiệp vì nghĩ đại học là nơi sản xuất việc làm'
Đồng quan điểm, độc giả Windyplace phân tích: "Nếu bố mẹ là lao động phổ thông, công nhân, phải nuôi một con học đại học là xem như hết khả năng. Gia đình nào có hai con cùng học đại học thì sẽ là gánh nặng rất lớn. Cứ cho hai người một năm đi làm được khoảng 200 triệu, chi tiêu tiết kiệm, dư được 100 triệu. Trong khi đó, một con học đại học ít nhất cũng khoảng 30 triệu học phí, chi phí sinh hoạt ở trọ (1,5 triệu tiền nhà, 3 triệu tiền ăn uống) mỗi năm cũng hết 40-55 triệu, coi như là hết tiền tiết kiệm của bố mẹ. Nên mong các bậc phụ huynh định hướng tốt cho con. Nếu con có khả năng học tập tốt thì hãy nên vào đại học. Còn nếu không thì nên cho con đi học nghề".
"Gia đình tôi, các thế hệ em tôi (sau năm 1995) đều định hướng đi học cao đẳng nghề và ngoại ngữ. Ba người học cao đẳng nghề Bách Khoa Hà Nội, một em học cao đẳng Điều dưỡng du học Đức, một em học cao đẳng Điều dưỡng du học Nhật. Các em học rất nhanh, chỉ mất hai năm lý thuyết và một năm thực hành nghề là đều có việc làm với mức lương rất tốt tại các công ty, doanh nghiệp FDI so với các bạn học đại học.
Học đại học giờ trở thành một gánh nặng chi phí không nhỏ với các con em gia đình ở nông thôn, vì thế hệ bố mẹ hiện tại đều đang làm công nhân với mức lương cơ bản 5-7 triệu đồng một tháng. Thế nên, đại học giờ không phải là tất cả, hãy sáng suốt theo nhu cầu xã hội và giá trị bản thân", bạn đọc Songque nói thêm.