Trước đây ở khu vực nhà tôi có bán cà phê bột đóng gói sẵn, tôi hay mua về pha. Một điều kỳ lạ là sau khi pha phin xong, dù không bỏ đường nhưng vẫn thấy ngọt. Một số người bảo dường như chỗ sản xuất đã trộn thêm đường vào. Đến khi tôi về quê chơi, thói quen ăn uống ngọt dường như vẫn còn và ngày càng nâng tầm hơn.
Tôi gọi một ly cà phê sữa, chỉ thấy chủ quán xúc 3 thìa cà phê đầy ắp đường, cho sữa vào. Nhấp một ngụm thì quá ngọt, đến khi uống hết, dưới đáy ly vẫn còn khoảng 2 cm đường bị bão hòa không tan hết.
Không riêng gì cà phê, nước dừa bình thường đã ngọt, nếu không dặn thì chủ quán vẫn cho đường vào. Nước cam đôi lúc tôi cũng thấy có vị ngọt tự nhiên, nhưng vẫn đầy ắp đường. Càng choáng hơn khi nhiều đứa trẻ mê mẩn hút trà sữa siêu ngọt.
Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết mức tiêu thụ đường trung bình của người Việt Nam là 46,5 g/ngày, cao gần gấp đôi mức khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (25 g/ngày). Chỉ trong khoảng 15 năm, lượng đường tiêu thụ đã tăng gấp 7 lần. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng các bệnh không lây nhiễm như béo phì, đái tháo đường, tim mạch.
Nhìn sang các nước láng giềng, chẳng hạn Thái Lan, họ đã bắt đầu tuýt còi đồ uống quá ngọt.
Bộ Y tế Thái Lan cho biết người dân nước này tiêu thụ trung bình 21 muỗng cà phê đường mỗi ngày, cao gấp hơn ba lần mức khuyến nghị của WHO. Từ tháng 2 năm nay, chín chuỗi cà phê lớn trên toàn quốc đã cam kết giảm một nửa lượng đường mặc định trong nhiều loại đồ uống theo sáng kiến của chính phủ.
Điều đáng chú ý là họ không cấm người dân uống ngọt. Ai thích ngọt vẫn có thể yêu cầu thêm đường. Họ chỉ thay đổi mặc định, tức là giảm lượng đường được cho vào ly nước ngay từ đầu.
Trong khi đó, ở Việt Nam, dường như nhiều quán vẫn giữ thói quen càng ngọt càng tốt. Có cảm giác nếu ly cà phê, ly nước cam hay ly trà sữa không đủ ngọt thì khách sẽ chê. Chính vì suy nghĩ đó mà nhiều người đang vô tình tiêu thụ lượng đường nhiều hơn nhu cầu của cơ thể mà không hề nhận ra.
Nguy hiểm ở chỗ, đường không chỉ đến từ ly cà phê buổi sáng. Nó còn có trong trà sữa, nước ngọt, bánh kẹo, sữa, nước chấm, thực phẩm chế biến sẵn… Mỗi thứ một ít nhưng cộng lại có thể vượt rất xa ngưỡng an toàn.
Nhiều người cho rằng mình không thích ăn đồ ngọt nên chắc không tiêu thụ nhiều đường. Nhưng chỉ cần mỗi ngày một ly cà phê sữa, một ly trà sữa hoặc nước giải khát, cộng thêm lượng đường ẩn trong các bữa ăn, con số đó đã không còn nhỏ.
Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta cần khắt khe hơn với lượng đường nạp vào cơ thể mỗi ngày. Một ly cà phê nên giữ được vị đắng đặc trưng, nước dừa nên được thưởng thức vị ngọt tự nhiên, còn nước cam cũng không cần thêm vài thìa đường mới dễ uống vì lúc đó chúng ta đang thèm một xíu vị chua.
Những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6, nền nhiệt tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung liên tục chạm ngưỡng 40 độ C, có nơi vượt qua kỷ lục do hiệu ứng đô thị và gió Lào.
Giữa cái lò lửa hầm hập ấy, hàng triệu học sinh phổ thông lại phải căng mình, vắt kiệt những giọt mồ hôi cuối cùng để chạy đua trong các kỳ thi chuyển cấp và tốt nghiệp THPT.
Nhìn những gương mặt phờ phạc, những chiếc áo ướt đầm đìa của các cháu tôi lại nhớ về mùa thi đại học năm 2000 của thế hệ mình. Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, dù phòng thi nay đã có thêm cây quạt, chiếc điều hòa, nhưng con cái chúng ta vẫn đang phải đối chọi với thiên tai khí hậu bằng một lịch trình xơ cứng từ thế kỷ trước.
Tại sao chúng ta không chủ động điều chỉnh lịch trình giáo dục để bảo vệ sức khỏe của học sinh?
Tôi nghĩ đã đến lúc cần thay đổi tư duy quản lý vĩ mô: "Quản lý đồng bộ không có nghĩa là bắt buộc phải đồng loạt". Việc áp một cái khuôn duy nhất về thời gian học, thời gian thi và tuyển sinh cho cả 34 tỉnh thành bất chấp sự khác biệt lớn về địa lý và khí hậu đang gây khó khăn cho thí sinh và sức khỏe xã hội.
"Tôi có hai người em (một trai, một gái). Em gái tôi 34 tuổi, làm việc ở Hà Nội với mức lương khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng. Em trai tôi 24 tuổi, lương khoảng 9 triệu đồng.
Nhiều lần, mẹ và vợ tôi đều hỏi hai em sao không tìm công việc khác tốt hơn, thu nhập cao hơn để tính chuyện mua nhà? Nhưng cả hai đều có chung một suy nghĩ: làm công việc hiện tại tuy lương không quá cao nhưng được nghỉ thứ bảy, chủ nhật, không bị áp lực tăng ca quá nhiều.
Các em nói với tôi rằng, dù có cố kiếm thêm vài triệu mỗi tháng thì cũng chẳng đủ để tạo khác biệt lớn trong việc mua nhà ở Hà Nội. Vậy nên, thay vì đánh đổi toàn bộ thời gian và sức khỏe để chạy theo thu nhập, các em chọn cuộc sống đủ chi tiêu và ở cùng bố mẹ.
Ngoài ra, tôi còn đứa cháu gọi tôi bằng cậu, 23 tuổi, đang làm việc ở Hải Phòng với thu nhập hơn 10 triệu đồng, cũng có suy nghĩ tương tự. Cháu mới có bạn gái và nói rằng sau này lấy vợ chắc vẫn ở cùng bố mẹ, vì tích cóp nhiều năm cũng khó mua nổi nhà riêng. Cháu bảo nếu sau này có thêm con cái, áp lực tài chính sẽ còn lớn hơn nên hiện tại, cũng không muốn lao vào làm thêm tăng ca quá nhiều.
>> Ảo tưởng giàu lên khi tôi mua nhà Hà Nội 5 tỷ để cho thuê
Con gái tôi năm nay 19 tuổi, đang học đại học nhưng cũng có suy nghĩ rất thực tế. Có lần, con nói với tôi: 'Sau này con có cố gắng học hành, làm việc cật lực, lương đến 50 triệu đồng mỗi tháng thì chắc cũng khó mua nổi nhà ở Hà Nội, nên con tính học xong sẽ tìm cơ hội đi nước ngoài'. Nghe con nói, tôi không biết nên phản đối hay đồng tình.
Tôi hiểu người trẻ bây giờ không lười biếng. Các em, các cháu vẫn đi làm, vẫn học tập, vẫn có trách nhiệm với cuộc sống của mình. Nhưng điều khác biệt là nhiều người không còn tin rằng chăm chỉ là đủ để đổi lấy một căn nhà như thế hệ trước từng nghĩ.
Thời của chúng tôi, dù khó khăn nhưng vẫn tồn tại cảm giác rằng chỉ cần cố gắng làm việc, tích góp nhiều năm thì sẽ có cơ hội mua nhà, ổn định cuộc sống. Còn bây giờ, khoảng cách giữa thu nhập và giá bất động sản dường như ngày càng xa. Một người trẻ lương 10-15 triệu đồng mỗi tháng ở thành phố lớn, sau khi trừ tiền ăn uống, đi lại và sinh hoạt, gần như rất khó tích lũy đáng kể. Ngay cả những người thu nhập khá hơn cũng mất nhiều năm mới đủ một khoản trả trước cho căn hộ nhỏ.
Có lẽ vì vậy mà nhiều người trẻ đang thay đổi tư duy sống. Họ ưu tiên cân bằng cuộc sống hơn là làm việc kiệt sức để theo đuổi mục tiêu mà bản thân cảm thấy quá xa vời. Một số chọn ở cùng gia đình lâu dài. Một số tìm cơ hội ra nước ngoài. Một số khác chấp nhận thuê nhà và không còn xem việc sở hữu nhà là đích đến bắt buộc.
Tôi không dám khẳng định suy nghĩ đó đúng hay sai. Nhưng rõ ràng, khi ngày càng nhiều người trẻ cùng nói 'cố mấy cũng không mua nổi nhà', đó không còn là câu chuyện của riêng một gia đình nữa".
Đó là chia sẻ của độc giả Trieuhung về giấc mơ an cư của người trẻ trong bối cảnh giá nhà vượt xa thu nhập khiến người Việt thuộc nhóm khó mua nhà nhất thế giới. Các chuyên gia cho rằng, giai đoạn 2023-2024 người Việt cần khoảng 23 năm thu nhập để mua nhà, con số này tăng lên 26 năm vào năm ngoái và hiện đã vượt 30 năm do giá bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Mức này cao gấp đôi mặt bằng bình quân toàn cầu.
Còn theo dữ liệu từ Numbeo - nền tảng thống kê chi phí sinh hoạt lớn trên thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 10 trong hơn 100 quốc gia về mức độ khó tiếp cận nhà ở, tính theo số năm thu nhập cần tích lũy để mua nhà. Năm 2023, Việt Nam đứng thứ 14, nhưng hiện đã lên vị trí thứ 10, cho thấy khả năng mua nhà của người dân ngày càng khó khăn hơn. Trong bảng xếp hạng này, thứ hạng càng cao đồng nghĩa giá nhà càng vượt xa thu nhập.
Khi con đầu lòng chào đời, vợ chồng tôi từng thống nhất với nhau: chỉ sinh một con. Khi ấy, chúng tôi nghĩ đơn giản, nuôi một đứa trẻ cho tốt đã là cả một hành trình vất vả. Tài chính, thời gian, công sức... tất cả đều dồn vào một đứa, vừa đỡ áp lực, vừa có điều kiện chăm lo chu đáo hơn.
Suốt những năm đầu, chúng tôi thấy quyết định đó hoàn toàn hợp lý. Cuộc sống gọn gàng, chi tiêu dễ kiểm soát, hai vợ chồng vẫn còn chút thời gian cho bản thân. Nhìn những người quay cuồng với hai, ba đứa con nhỏ, thú thật có lúc tôi còn thấy mình "khôn ngoan".
Nhưng rồi, khi con lớn dần, suy nghĩ của chúng tôi bắt đầu thay đổi. Con trai tôi ngày càng ít bạn chơi cùng. Tôi nhận ra, dù cha mẹ có cố gắng đến đâu cũng khó thay thế được một người anh, người em trong hành trình trưởng thành của con.
Sau nhiều lần cân nhắc, chúng tôi quyết định sinh thêm bé thứ hai, khi con đầu đã 6 tuổi. Quyết định ấy không hề dễ dàng. Chúng tôi hiểu rõ mình sẽ phải quay lại những năm tháng bỉm sữa, thức đêm, áp lực tài chính tăng lên, thời gian cá nhân gần như không còn.
Và đúng là "cực" thật. Những ngày đầu, cả nhà đảo lộn hoàn toàn. Công việc, sinh hoạt, mọi thứ đều xoay quanh hai đứa trẻ. Có lúc mệt mỏi đến mức tôi tự hỏi mình có đang "làm khó" chính mình không. Nhưng càng về sau, tôi càng thấy quyết định đó là đúng đắn.
>> 10 năm bất lực khuyên con dâu sinh đứa thứ hai
Hai anh em con bắt đầu có nhau trong cuộc sống thường ngày: cùng chơi, cùng cãi vã, rồi lại tự làm hòa. Những lúc không có bố mẹ bên cạnh, chúng vẫn có một người để dựa vào. Cái cảm giác "không cô độc" ấy, tôi tin là điều rất quan trọng mà một đứa trẻ cần có.
Nhiều người nói nuôi hai con là cực gấp đôi. Tôi nghĩ đúng, nhưng chỉ ở giai đoạn đầu. Còn về lâu dài, cái "được" lại nhiều hơn. Khi trưởng thành, các con sẽ có người đồng hành, san sẻ trách nhiệm với gia đình, với cha mẹ. Một đứa thì "nhẹ" trước mắt, nhưng về sau, mọi áp lực gần như dồn hết lên vai nó.
Mỗi gia đình có thể lựa chọn khác nhau, không ai đúng tuyệt đối. Nhưng nếu quá nhiều người chọn sinh một con hoặc không sinh con, xã hội sẽ đối mặt với tình trạng già hóa nhanh chóng. Khi đó, lớp trẻ sẽ phải gánh trên vai không chỉ cha mẹ mình, mà còn là áp lực của cả xã hội. Và chính những đứa trẻ ấy lại trở thành những người chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Tất nhiên, sinh một hay hai con là quyết định cá nhân, phụ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh mỗi gia đình. Nhưng với riêng tôi, sau tất cả những đắn đo và trải nghiệm, tôi thấy may mắn vì đã không dừng lại ở một đứa. Có thể chúng tôi vất vả hơn vài năm đầu, nhưng đổi lại, các con có nhau trong suốt hành trình dài phía trước. Và với tôi, đó là một "khoản đầu tư" xứng đáng, không chỉ cho gia đình mình mà còn cho cả tương lai lâu dài hơn.