Cá lịch dải (Rhinomuraena quaesita) là một trong những loài cá có ngoại hình kỳ lạ nhất đại dương. Thân hình của chúng dài, mảnh và uốn lượn như dải lụa đang bay trong nước. Phần đầu nhọn với chiếc miệng luôn há mở khiến nhiều người liên tưởng đến rồng biển hoặc sinh vật ngoài hành tinh hơn là một loài cá thực sự.
Điều làm cá lịch dải nổi bật nhất chính là màu sắc cực kỳ ngoạn mục. Con trưởng thành đực thường mang màu xanh lam điện rực rỡ với dải viền vàng chạy dọc theo vây lưng. Hàm dưới màu vàng tươi tạo nên vẻ ngoài gần như “phát sáng” giữa lòng biển. Nhưng thú vị hơn, màu sắc của loài này thay đổi theo tuổi và giới tính. Cá non có màu đen với sọc vàng, khi trưởng thành chuyển sang xanh lam, và nhiều cá thể lớn tuổi sẽ đổi sang màu vàng gần như hoàn toàn. Đây là một trong những ví dụ nổi tiếng về hiện tượng đổi giới tính trong thế giới cá: Nhiều cá thể bắt đầu là đực rồi dần chuyển thành cái khi trưởng thành.
Loài cá này sinh sống ở các rạn san hô vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt quanh Indonesia, Philippines, Nhật Bản và Australia. Chúng thường chỉ ló phần đầu ra khỏi hang cát hoặc khe đá, liên tục há miệng như đang đe dọa. Thực ra hành động ấy chủ yếu giúp cá bơm nước qua mang để thở.
Dù mang vẻ ngoài dữ tợn, cá lịch dải khá nhút nhát. Chúng săn các loài cá nhỏ và động vật giáp xác bằng những cú lao bất ngờ từ nơi ẩn nấp. Khứu giác cực nhạy giúp chúng phát hiện con mồi ngay cả trong làn nước đục hoặc lúc trời tối.
Trong giới chơi thủy sinh biển, cá lịch dải được xem là “huyền thoại khó nuôi”. Chúng rất dễ bỏ ăn và stress khi bị nuôi nhốt, khiến nhiều cá thể không sống được lâu trong bể kính. Điều đó càng khiến loài cá này mang vẻ bí ẩn khó thuần hóa, giống như một sinh vật sinh ra để thuộc về đại dương hoang dã chứ không phải thế giới nhân tạo của con người.
Khi bơi khỏi hang, cả cơ thể xanh biếc của cá lịch dải uốn cong mềm mại giữa san hô và ánh nắng xuyên nước. Đó là một trong những khoảnh khắc hiếm hoi khiến người ta cảm thấy đáy biển thực sự giống một hành tinh khác tồn tại song song với thế giới trên mặt đất.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Gia Đình
Tai nạn nghiêm trọng tại trang trại nuôi heo: Sức khoẻ 8 nạn nhân ra sao?

Theo đó, từ 0h giờ ngày 18/7 đến trưa ngày 19/7/2026, Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình đã tiếp nhận cấp cứu khẩn cấp một loạt 8 bệnh nhân nam bị ngộ độc khí sunphua hydro (H₂S) trong vụ ngộ độc đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại một trang trại chăn nuôi lợn lớn. 8 bệnh nhân, tất cả là nam giới, tuổi 32 đến 46 tuổi.
Thông tin từ bệnh viện, trong số 13 người gặp nạn, đã có tới 5 trường hợp tử vong do độc tính quá mạnh của khí độc, 8 trường hợp còn lại và người tham gia cứu hộ lập tức được chuyển hướng khẩn cấp về Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình trong tình trạng cấp cứu ngộ độc.
TS. BS Nguyễn Trung Nguyên - Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cho hay, hiện trường xảy ra vụ tai nạn là một bể chứa nước phân khép kín có kích thước sâu 2m, rộng 2m và dài 3m, nhưng miệng bể chỉ rộng hơn 1m. Trong không gian tù túng này, các vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ đã sản sinh ra lượng khí độc sunphua hydro (H₂S) khổng lồ.
"Khi một nam nhân viên sẩy chân rơi xuống và bất tỉnh, các đồng nghiệp theo phản xạ tự nhiên đã lập tức lao xuống cứu hoặc thò đầu sâu vào miệng bể để kéo nạn nhân lên mà không hề có bất kỳ phương tiện bảo hộ nào. Hậu quả là chuỗi tai nạn dây chuyền xảy ra, các nạn nhân ngã gục ngay tại chỗ", BS.Nguyên cho hay.
8 bệnh nhân đang được cấp cứu bao gồm: 2 người xuống bể sau cùng được buộc dây vào người và tay xuống cứu nhưng khi xuống tới nơi thấy khó chịu, nhanh chóng bất tỉnh và được kịp thời kéo ngay lên, sau vài phút thì tỉnh, 6 bệnh nhân còn lại là những người ở trên miệng bể tham gia kéo các nạn nhân lên.
Các bệnh nhân đến viện trong tình trạng tỉnh, đau đầu, một số ca có kích ứng, xung huyết kết mạc, nhiễm toan chuyển hóa lactic, tiêu cơ vân. Tình trạng các bệnh nhân đang được cấp cứu, đánh giá và theo dõi sát.
PGS.TS Đào Xuân Cơ - Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đang trực tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình đã trực tiếp kiểm tra, lập tức yêu cầu kích hoạt hệ thống "Báo động đỏ toàn viện", tổ chức phối hợp các chuyên khoa như chống độc, hồi sức cấp cứu, truyền nhiễm, chấn thương, chẩn đoán hình ảnh.
Theo BS.Nguyên, H₂S là một loại khí cực độc, có độc tính ức chế hô hấp tế bào nhanh và mạnh tương tự như xianua, bóp nghẹt trực tiếp tất cả các cơ quan, đặc biệt hệ thần kinh trung ương và tim mạch.
Ở nồng độ thấp, khí có mùi trứng thối đặc trưng, nhưng ở nồng độ cao, nó lập tức làm liệt dây thần kinh khứu giác khiến nạn nhân hoàn toàn không cảm nhận được mùi.
Thuật ngữ y khoa gọi hiện tượng ngộ độc cấp H₂S liều cao trong không gian kín là "Hội chứng búa tạ ở lò mổ" - nghĩa là người đi vào khu vực có khí độc hít phải sẽ bất tỉnh, các cơ quan ngừng hoạt động, bị quật ngã gần như ngay lập tức, tỉ lệ tử vong tại hiện trường là cực kỳ lớn. Khí này hấp thu rất nhanh, gần như ngay lập tức vào cơ thể và gây kích ứng cực mạnh lên niêm mạc mắt, hệ hô hấp.
TS.BS Nguyễn Trung Nguyên nhấn mạnh: "Rất nhiều người dân và ngay cả một số nhân viên y tế tuyến dưới vẫn lầm tưởng các vụ ngạt hầm biogas, giếng khơi là do khí metan (CH₄). Nhưng thực tế, thủ phạm giết người hàng loạt trong tích tắc chính là khí sunphua hydro (H₂S).
Ở Việt Nam, các vụ tai nạn đau lòng này xảy ra hàng năm và tái diễn nhiều lần trong các hoàn cảnh như khơi giếng, chui xuống bể chứa, bể rác, bể phân, chất thải, cống, hầm chứa cá ở các tàu biển,...".
Để phòng tránh ngộ độc khí H₂S, Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai khuyến cáo, tuyệt đối không tự ý lao xuống cứu trợ ngay theo quán tính nếu không có đồ bảo hộ (mặt nạ phòng độc với bình dưỡng khí).
Lập tức mở thông thoáng khí khu vực đó, dùng quạt thổi mạnh hoặc bơm khí để đẩy khí độc ra ngoài và đưa khí sạch vào.
Nếu bắt buộc phải xuống, người cứu hộ phải có trang thiết bị phòng độc lý tưởng (mặt nạ kết hợp bình dưỡng khí).
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Nghiên cứu của Đại học Sydney (Australia) chỉ ra phụ nữ độc thân trên 45 tuổi, không có con là nhóm có khả năng cao nhất phải chăm sóc cha mẹ già hoặc người thân bệnh tật.
"Nhiều phụ nữ cho biết gia đình họ tồn tại một kỳ vọng: vì không vướng bận con cái, họ là người rảnh rỗi và linh hoạt nhất để hỗ trợ", Phó giáo sư Myra Hamilton, trưởng nhóm nghiên cứu, nói.
Tuy nhiên, hệ lụy mà nhóm phụ nữ này phải đối mặt không chỉ là thời gian, mà còn là gánh nặng tài chính và áp lực tinh thần.
Định kiến "không vướng bận"
Bà Hamilton cho biết, việc mặc định người độc thân phải chăm sóc cha mẹ xuất phát từ hai định kiến: chăm sóc là việc của phụ nữ và không con sẽ rảnh rỗi hơn người đã lập gia đình. "Những phụ nữ này không trốn tránh trách nhiệm, họ muốn phụng dưỡng cha mẹ. Nhưng chính cảm giác bị áp đặt khiến họ không thoải mái", chuyên gia nói.
Chuyên gia tư vấn tâm lý Judy Graham cho biết nhiều khách hàng của bà đang gánh vác việc chăm sóc cha mẹ một mình, hoặc đối mặt với các mối quan hệ anh chị em phức tạp. "Khách hàng thường kể về những câu nói trong gia đình kiểu như: Cô không có con, nên có thể tạm dừng công việc để đưa mẹ đi khám bệnh được không?", bà Graham nói.
Theo bà, quan niệm này bắt nguồn từ tâm lý coi trọng việc sinh sản của xã hội. Họ phải đối mặt với căng thẳng tâm lý, thể chất và tài chính giống mọi người nhưng thường phải gánh chịu một mình.
Thiệt thòi tài chính, sự nghiệp
Việc chăm sóc người già ảnh hưởng lớn đến việc làm và thu nhập của phụ nữ không con. Nếu phụ nữ có con thường bị gián đoạn sự nghiệp ở giai đoạn đầu, nhóm không con lại bị ảnh hưởng ở giai đoạn muộn hơn khi phải chăm sóc thành viên lớn tuổi.
Bà Hamilton cho biết sự gián đoạn này ảnh hưởng đến cơ hội thăng tiến và làm giảm mức tích lũy hưu trí của phụ nữ. Bà Graham cũng nói nhiều người phải làm việc bán thời gian hoặc tạm dừng kinh doanh để chăm sóc người thân.
Môi trường công sở chưa có sự ghi nhận tương xứng. Nhiều phụ nữ cho biết người sử dụng lao động không công nhận nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ già giống như việc nuôi con nhỏ. "Các chủ lao động đặt ra kỳ vọng cao hơn, yêu cầu làm thêm ca hoặc sắp xếp kỳ nghỉ trùng với kỳ nghỉ học của con cái đồng nghiệp", bà Hamilton nói. Nữ chuyên gia cho rằng việc cân bằng giữa trách nhiệm chăm sóc gia đình và công việc là khó khăn chung của tất cả phụ nữ.
Nguy cơ bị cô lập
Phụ nữ không con còn đối mặt với nguy cơ bị cô lập trong gia đình. Họ có thể bị gạt ra khỏi các sự kiện với lý do "Chúng tôi phải tổ chức tiệc sinh nhật cho con, vì vậy cô hãy đến bệnh viện vì cô không vướng bận".
Theo bà Graham, mỗi câu nói mang tính đùn đẩy như "Tôi không thể đưa mẹ đi khám vì phải đón con" trở thành lời nhắc nhở về hoàn cảnh cá nhân của họ.
"Sự chăm sóc lẽ ra dành cho con cái giờ được chuyển sang phụng dưỡng người già. Đó là phần mất mát mà những phụ nữ không có con phải trải qua", bà Graham nói.
Thiệt thòi kép về tài chính và sự nghiệp
Bên cạnh những tác động về mặt tài chính, việc chăm sóc người già cũng ảnh hưởng lớn đến việc làm và thu nhập của phụ nữ không con.
Bà Hamilton chỉ ra, nếu phụ nữ có con thường bị gián đoạn sự nghiệp ở giai đoạn đầu, thì phụ nữ không con lại bị ảnh hưởng ở giai đoạn muộn hơn – thời điểm họ phải tập trung chăm sóc các thành viên lớn tuổi trong gia đình.
"Sự gián đoạn này ảnh hưởng trực tiếp đến số giờ làm việc, cơ hội thăng tiến, đào tạo và các cơ hội nghề nghiệp khác. Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh điều này dẫn đến hệ lụy rõ rệt: Giảm mức tích lũy hưu trí của nhiều phụ nữ", Phó giáo sư Hamilton nhấn mạnh.
Bà Graham cho biết nhiều phụ nữ không con đã phải chuyển sang làm việc bán thời gian hoặc tạm dừng việc kinh doanh riêng để chăm sóc người thân. Tương lai tài chính của họ vì thế trở nên không chắc chắn.
Đáng chú ý, môi trường công sở hiện nay chưa có sự ghi nhận tương xứng đối với trách nhiệm này. Nhiều phụ nữ phản ánh rằng người sử dụng lao động không công nhận nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ già giống như cách họ nhìn nhận việc nuôi con nhỏ.
"Các chủ lao động đối xử như thể họ là những người hoàn toàn không có trách nhiệm gia đình. Họ đặt ra kỳ vọng cao hơn tại nơi làm việc, chẳng hạn như yêu cầu làm thêm ca hoặc sắp xếp kỳ nghỉ hàng năm trùng với các kỳ nghỉ học của con cái đồng nghiệp", bà Hamilton nói.
Bà thừa nhận việc cân bằng giữa công việc và nuôi dạy con cái là thách thức lớn, nhưng "đây không phải là vấn đề so sánh giữa người có con và người không có con''. Việc cân bằng giữa trách nhiệm chăm sóc gia đình và công việc là khó khăn với tất cả phụ nữ.
Áp lực tâm lý và sự cô lập
Không chỉ chịu thiệt thòi về kinh tế, phụ nữ không con còn đối mặt với nguy cơ bị cô lập trong chính gia đình.
Họ có thể bị gạt ra khỏi các sự kiện gia đình với lý do: 'Chúng tôi phải tổ chức tiệc sinh nhật cho các con, vì vậy cô hãy đến bệnh viện vì cô không có con'.
Đối với những phụ nữ không có con ngoài ý muốn, những tình huống này càng tạo ra áp lực tâm lý lớn hơn.
Theo bà Graham, mỗi câu nói mang tính đùn đẩy như "Tôi không thể đưa mẹ đi khám vì phải đón con" trở thành một lời nhắc nhở về hoàn cảnh cá nhân của họ.
"Sự chăm sóc lẽ ra dành cho con cái giờ đây được chuyển sang việc phụng dưỡng người già. Đó là một phần của sự mất mát mà những người phụ nữ không có con phải trải qua trong cuộc đời", bà Graham kết luận.
Tin Gốc: Vnexpress

Khi kết hôn năm 24 tuổi, Jill Gardner gần như không biết gì về công việc kinh doanh của nhà chồng. Chồng bà thuộc thế hệ thứ năm của gia đình sở hữu Công ty Laird Norton. Mọi thứ thay đổi khi con gái đầu lòng ra đời.
"Tôi bắt đầu đọc lịch sử gia đình và bị cuốn hút", bà kể. Gardner cho biết ở các gia đình thông thường, anh em khó giữ liên lạc khi cha mẹ qua đời. Nhưng ở gia đình chồng bà, công ty là sợi dây kết nối.
Hiện Gardner là Chủ tịch gia đình (Family President) của Laird Norton. Nhiệm vụ của bà là gắn kết hơn 500 thành viên để duy trì di sản chung.
Cơ nghiệp 170 năm
Trong giới kinh doanh có thành ngữ "không ai giàu ba họ", ám chỉ tài sản gây dựng đời đầu thường tiêu tán vào đời cháu chắt. Nhưng Laird Norton là ngoại lệ hiếm hoi khi duy trì cơ nghiệp suốt hơn 170 năm qua 8 thế hệ.
Năm 1855, ba nhà sáng lập William Harris Laird, Matthew G. Norton và James L. Norton khởi nghiệp bằng một xưởng cưa tại Winona, bang Minnesota. Đầu thế kỷ 20, họ hợp tác với Frederick Weyerhaeuser mua 900.000 mẫu đất rừng, tạo tiền đề cho Công ty Weyerhaeuser.
Gia tộc sau đó chuyển trụ sở về Seattle, bang Washington. Hiện cơ nghiệp vận hành qua hai tổ chức: Công ty Đầu tư Laird Norton (LNC) chuyên về vốn cổ phần tư nhân, bất động sản; và Công ty Quản lý Gia sản Laird Norton (LNWM). Ước tính tổng giá trị tài sản của gia đình là hơn 15 tỷ USD.
Từ ba người ban đầu, dòng họ hiện có 551 thành viên sống tại 7 quốc gia cùng sở hữu và điều hành doanh nghiệp. "Chúng tôi có thể bất đồng về nhiều thứ, nhưng luôn thống nhất đưa ra quyết định cho công ty", Gardner cho biết.
Theo Gardner, Laird Norton duy trì được cơ nghiệp qua 8 thế hệ nhờ một thành viên đời thứ ba là ông Norton Clapp (cháu ngoại của nhà sáng lập Matthew G. Norton) - người có vai trò định hình cả đế chế Weyerhaeuser và Laird Norton giữa thế kỷ 20. Đ. Người này xây dựng nền tảng quản trị tách bạch giữa kinh doanh và gia đình.
Họ lập ra Hội đồng gia đình (Family Council) đại diện tiếng nói cho các thành viên, phụ trách xuất bản nội san cập nhật đời sống, sở thích, tin hỷ sự. Về kinh doanh, Hội đồng quản trị gồm 12 người (7 thành viên gia tộc và 5 nhân sự bên ngoài) để bảo đảm các quyết định luôn khách quan.
Quỹ từ thiện gia đình Laird Norton cũng được lập ra để thế hệ trẻ học cách quản lý dự án và dòng tiền.
Trao quyền cho người ngoài và thế hệ trẻ
Laird Norton có truyền thống trao quyền cho người không cùng huyết thống. Từ thế hệ thứ hai, các chàng rể được tham gia vào các quyết định của công ty. Truyền thống này áp dụng cho cả con dâu, tiêu biểu như bà Gardner. Hàng năm, gia tộc tổ chức hội nghị thường niên gồm cuộc họp cổ đông và hoạt động cộng đồng.
Trong quá khứ, công ty từng không chú trọng việc kết nối khiến nhóm anh em họ của chồng Gardner tự gọi mình là "thế hệ bị lãng quên". Gia tộc sau đó thay đổi cách tiếp cận.
Mùa hè này, khoảng 350 thành viên gia đình gặp nhau tại Salt Lake. Trong khi người lớn họp cổ đông, trẻ em tham gia trại hè riêng. Từ 14 tuổi, các em được dự các buổi giới thiệu về tình hình kinh doanh của dòng họ. Ban lãnh đạo cũng thiết kế chương trình thực tập nội bộ và sự kiện hai năm một lần cho độ tuổi 21-40 để giúp lớp kế thừa hiểu doanh nghiệp là gì và vì sao cần gìn giữ.
Gardner cho biết các con bà rất thích tham gia những dịp này để trò chuyện cùng anh em họ. "Duy trì doanh nghiệp đến thế hệ thứ 8 đòi hỏi rất nhiều công sức. Các hoạt động kết nối thành viên với nhau và với công ty giúp chúng tôi bảo đảm di sản gia tộc tiếp tục được truyền lại", Gardner nói.
Tin Gốc: Vnexpress

