Tại Bệnh viện FV, hành trình của gia đình bé Lê Minh Nhật (4 tuổi rưỡi, Hà Nội) đi tìm cơ hội phục hồi chức năng bàn tay cho con là một câu chuyện đầy xúc động, được viết nên bằng sự kiên trì và tình yêu thương không bỏ cuộc của cả gia đình.
Ngày đón con chào đời, thấy tay chân con đầy đủ và lành lặn như bao đứa trẻ khác, anh chị cứ ngỡ con hoàn toàn khỏe mạnh. Cho đến ngày thứ ba, cô điều dưỡng tắm bé khẽ gọi mẹ bé Minh Nhật ra một góc rồi thầm thì: “Chị ơi, ngón tay cái của con hình như không có xương, cứ mềm rũ ra…”.
Câu nói ấy đã mở đầu cho một hành trình ròng rã suốt hơn 4 năm của gia đình, đi qua gần 10 bệnh viện lớn nhỏ từ Bắc vào Nam. Ngón cái bẩm sinh của Minh Nhật mắc chứng “ngón tay rơi” (floating thumb) – một dạng dị tật hiếm gặp khi ngón cái chỉ là một mẩu da thịt lỏng lẻo dính vào bàn tay, hoàn toàn không có xương, gân hay dây thần kinh bên trong để điều khiển. Hầu hết các bác sĩ đều lắc đầu và đưa ra một giải pháp duy nhất: Cắt bỏ ngón tay thừa đó đi.
Nhưng nếu chỉ cắt đi đơn thuần, bàn tay con sẽ mãi khiếm khuyết, không thể có được khả năng phối hợp giữa các ngón để cầm nắm. Để thích nghi, Minh Nhật phải tập kẹp mọi đồ vật vào kẽ giữa ngón trỏ và ngón giữa. Nhìn con chuẩn bị vào lớp 1 nhưng bàn tay quá vất vả để giữ một cây bút, người mẹ không chấp nhận buông xuôi.
Mọi nút thắt chỉ được gỡ bỏ khi gia đình may mắn tìm đến Bệnh viện FV và được thăm khám với tiến sĩ, bác sĩ Stéphane Guero – Chuyên gia Phẫu thuật bàn tay đến từ Pháp với hơn 30 năm kinh nghiệm. Khác với những lần thăm khám trước, bác sĩ Stephane không chỉ sờ nắn dị tật, mà hỏi một câu chạm đúng vào thói quen đời thực của đứa trẻ. Bác sĩ Stéphane Guero chia sẻ:
“Bé có đang cầm nắm bằng cách kẹp giữa hai ngón tay hay không? Việc quan sát kỹ hành vi vận động tự nhiên của trẻ là chìa khóa quan trọng để chúng tôi đánh giá chính xác mức độ thích nghi của hệ thần kinh trước khi lên phương án phẫu thuật”.
Thay vì chỉ cắt bỏ phần da thừa và chấp nhận một bàn tay thiếu ngón, bác sĩ Stéphane Guero cùng ê-kíp tại FV đã quyết định thực hiện kỹ thuật Pollicization để chuyển ngón trỏ thành ngón cái. Đây là một kỹ thuật cực khó của ngoại khoa tạo hình, biến ngón trỏ thành một ngón cái mới hoàn chỉnh chỉ trong một ca mổ kéo dài 2,5 giờ bao gồm các bước: cắt bỏ phần ngón cái rơi không chức năng, bóc tách loại bỏ 4/5 đoạn xương thuộc phần mu bàn tay của ngón trỏ để thu ngắn chiều dài và xoay trục giải phẫu sang vị trí mới.
“Điểm mấu chốt quyết định sự sống và công năng của ngón tay mới nằm ở hệ thống vi mạch. Toàn bộ hệ thống cơ, mạch máu nuôi dưỡng, gân và dây thần kinh của ngón trỏ đều phải được bóc tách siêu vi phẫu một cách chuẩn xác, bảo tồn nguyên vẹn và dịch chuyển khéo léo sang trục mới. Có như vậy, ngón cái mới có được nguồn máu nuôi ổn định và có thể cử động chủ động ngay sau khi lành thương”, bác sĩ Stéphane Guero phân tích sâu về mặt kỹ thuật.
Nhiều phụ huynh thường lo lắng: Chuyển vị trí ngón tay đột ngột như vậy, làm sao đứa trẻ biết cách điều khiển? Về điều này, chuyên gia người Pháp đã đưa ra lời giải thích trên góc độ góc nhìn thần kinh học đầy thuyết phục: “Cấu trúc não bộ của trẻ em có khả năng thích nghi và tái định vị vùng chức năng rất kỳ diệu. Vì trước phẫu thuật, Minh Nhật đã tự có phản xạ dùng ngón trỏ kẹp đồ vật để thay thế công năng ngón cái. Chính nhờ thói quen phản xạ có sẵn này, ngay sau khi ngón trỏ được xoay trục, não bộ của con sẽ tự nhận diện và học cách điều khiển ngón cái mới cực kỳ nhanh mà không cần trải qua các bài tập vật lý trị liệu quá nặng nề”.
Dự kiến, sẽ cần khoảng 2 tháng để các mô hết sưng phù và cấu trúc xương lành hoàn toàn và Minh Nhật sẽ có thể sở hữu một bàn tay mới với lực bấm của ngón cái mới sau phục hồi có thể đạt tới 7 kg, gần như tương đương lực bấm tiêu chuẩn của một người trưởng thành bình thường (dao động từ 5 – 10 kg). Đồng thời, con có thể hoàn toàn tự do viết bài, vẽ tranh, thực hiện các động tác cầm, nhặt đồ vật từ siêu nhỏ cho đến xách những vật nặng.
“Thẩm mỹ rất quan trọng. Nhưng với một bàn tay, chức năng vẫn phải là ưu tiên đầu tiên” – lời bác sĩ khiến gia đình bé Nhật quyết định bước vào ca mổ kéo dài hơn 2,5 giờ hôm đó. Tuy nhiên theo bác sĩ Stephane Guero chia sẻ: “Bàn tay 4 ngón được tạo hình của bé có thể hài hòa đến mức khi con đi học, ngay cả giáo viên chủ nhiệm cũng không hề nhận ra”.
Tại Bệnh viện FV, các ca dị tật bàn tay bẩm sinh phức tạp luôn được tiến sĩ, bác sĩ Stéphane Guero tiếp cận dưới góc độ khôi phục tối đa chức năng vận động tự nhiên và bảo tồn sự phát triển lâu dài của trẻ. Sự xuất sắc trong chuyên môn của bác sĩ cùng sự đồng hành của FV không chỉ trả lại cho bé Minh Nhật một đôi tay vững chãi để tự tin bước vào lớp 1, mà còn mở ra cho em một tương lai tự lập, không rào cản. Đối với gia đình, việc tìm được đúng người bác sĩ tài hoa chính là phép màu lớn nhất trên hành trình sửa chữa đôi tay cho con mở ra một tương lai tự lập, không rào cản và hơn hết là thấy mình không dị biệt so với các bạn đồng trang lứa.
Làm việc tại một trung tâm hỗ trợ bạo lực gia đình, Lan, 36 tuổi, từng đồng hành với nhiều phụ nữ và trẻ em vượt qua sang chấn. Mười giờ mỗi ngày, chuyên gia ngồi lắng nghe những điều không thể nói với ai khác. Một người phụ nữ với vết bầm chưa kịp tan. Một đứa trẻ không còn dám ngủ một mình. Trường hơn khác đang nghĩ đến chuyện "kết thúc tất cả" vì không thể chịu đựng những đau khổ dày vò.
Trong giai đoạn thiếu nhân sự, Lan tiếp nhận đến 10 ca trị liệu liên tiếp mỗi ngày. Những câu chuyện chất chồng không có lối thoát. Chị bắt đầu sợ đám đông, mất ngủ, thường xuyên gặp ác mộng mang hình ảnh của thân chủ. Lo âu kéo dài suốt hai năm. Người phụ nữ tự áp dụng mọi phương pháp từng hướng dẫn người khác đọc sách, chánh niệm, thiết lập ranh giới cảm xúc nhưng không có gì hiệu quả.
"Càng cố tự chữa, tôi càng thấy bất lực", chị kể.
Những gì chuyên gia tâm lý trải qua được khoa học gọi tên là kiệt sức vì thấu cảm, hay "compassion fatigue". Đây không phải trạng thái tâm lý mơ hồ. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Traumatology chỉ ra hơn 50% chuyên gia làm việc với nạn nhân sang chấn có biểu hiện của kiệt sức thấu cảm ở mức độ trung bình đến nặng. Với những người làm việc trong lĩnh vực bạo lực gia đình hoặc chăm sóc tâm thần cường độ cao, tỷ lệ này còn cao hơn đáng kể.
Theo Bộ Y tế, khoảng 15 triệu người Việt Nam đang mắc các rối loạn tâm thần phổ biến. Trầm cảm cùng chứng lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất. Trong khi đó, cả nước chỉ có khoảng 1.000 bác sĩ tâm thần. Tỷ lệ gần một bác sĩ trên 100.000 dân này thấp hơn nhiều so với mức trung bình 3,96 mà Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận năm 2022.
Sự thiếu hụt nhân lực y khoa tuyến trên vô tình đẩy các chuyên gia tâm lý trở thành cửa ngõ tiếp nhận bệnh nhân. Khối lượng công việc khổng lồ dẫn đến hội chứng kiệt sức vì thấu cảm. Báo cáo từ Hiệp hội Tâm lý học Mỹ (APA) chỉ ra thực trạng đáng báo động khi có tới 45% chuyên gia trị liệu từng trải qua các triệu chứng kiệt sức nghề nghiệp, một con số cho thấy nguy cơ đứt gãy của hệ thống phòng vệ tuyến đầu.
"Khoảng trống nhân lực đó dồn gánh nặng xuống tầng chuyên gia tâm lý và tham vấn viên ở tuyến tiếp cận ban đầu. Họ trở thành 'cửa ngõ' đầu tiên mà người dân tìm đến khi gặp khủng hoảng tinh thần, nhưng lại là nhóm ít được bảo vệ nhất trong hệ thống", TS.BS Ngô Thị Thanh Hương, cố vấn cao cấp và đồng sáng lập dự án Safe and Sound thuộc Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, nói.
Áp lực đó còn đi kèm rủi ro chuyên môn. TS Hương chỉ ra rằng nhiều ca ban đầu trông như stress thông thường hoặc kém thích nghi, nhưng thực chất đang ở giai đoạn sớm của rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu nặng, thậm chí loạn thần.
"Nếu thiếu kiến thức nền tảng về tâm thần, người làm chuyên môn rất dễ bỏ sót tín hiệu quan trọng hoặc đánh giá thấp mức độ nguy cơ", bà nói. Sai lầm đó không chỉ ảnh hưởng đến thân chủ mà còn tích lũy thành gánh nặng tâm lý ngược chiều lên chính người trị liệu.
Một vấn đề khác là sự thiếu thống nhất ngôn ngữ chuyên môn giữa tâm lý học và tâm thần học, làm giảm hiệu quả phối hợp ở các ca cần kết hợp trị liệu tâm lý và dùng thuốc. ThS.BS Nguyễn Văn Công, Viện trưởng Viện Ứng dụng Công nghệ Y tế, cho rằng xu hướng đào tạo hiện nay cần dịch chuyển mạnh hơn theo hướng thực hành, tăng phân tích ca bệnh và phối hợp đa chuyên khoa, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn lâm sàng. Ông cho rằng người làm tâm lý tuyến đầu không chỉ cần kiến thức nền mà còn phải biết khi nào cần chuyển tuyến và cách phối hợp với bác sĩ tâm thần trong từng tình huống cụ thể.
Nhưng tất cả giải pháp hệ thống đó đều có một điều kiện tiên quyết là bản thân người làm nghề phải còn đủ sức để ở lại. Chị Lan cuối cùng đã tìm đến một đồng nghiệp để được trị liệu. Ngày đầu tiên ngồi ở vị trí của người cần được hỗ trợ, chị bật khóc. Không phải vì đau, mà vì nhẹ nhõm khi được tháo bỏ "chiếc mặt nạ" của người luôn phải mạnh mẽ.
Sau thời gian nghỉ ngơi, thiết lập lại ranh giới công việc và tiếp tục trị liệu, chị dần lấy lại thăng bằng để trở về với nghề. Với Lan, bài học không nằm ở kỹ thuật hay lý thuyết nào.
"Người làm công tác hỗ trợ tâm lý chỉ có thể đi đường dài cùng người khác khi biết chăm sóc chính sức khỏe tinh thần của mình", chuyên gia tâm sự.
Trong lúc ngủ, cơ thể giảm tiết nước bọt, vốn là yếu tố quan trọng giúp kiểm soát vi khuẩn trong miệng. Khi nước bọt giảm, vi khuẩn dễ sinh sôi và hình thành mảng bám trên răng. Đây là lý do vì sao nhiều người có cảm giác miệng không sạch vào buổi sáng, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Đánh răng ngay khi thức dậy giúp loại bỏ lớp vi khuẩn trước khi ăn uống. Nếu không làm sạch trước, vi khuẩn sẽ kết hợp với đường và tinh bột trong thức ăn, tạo ra a xít và làm tổn hại men răng.
Một lợi ích quan trọng khác là fluoride trong kem đánh răng. Fluoride là một khoáng chất giúp tăng cường độ bền của men răng và có lợi quá trình tái khoáng hóa. Khi đánh răng trước bữa sáng, lớp fluoride này đóng vai trò như một lớp bảo vệ giúp răng chống lại tác động của a xít từ thực phẩm như cà phê, nước cam hay bánh ngọt.
Ngoài ra, đánh răng còn kích thích tuyến nước bọt hoạt động. Nước bọt giúp trung hòa a xít và rửa trôi vi khuẩn, từ đó tạo môi trường ổn định hơn cho răng trước khi ăn.
Mặt khác, đánh răng sau bữa sáng cũng có những điểm hợp lý, đặc biệt nếu mục tiêu là làm sạch trực tiếp thức ăn còn sót lại. Sau khi ăn, các mảnh vụn thức ăn và đường có thể bám lại trên răng, nhất là ở kẽ răng hoặc gần nướu. Vi khuẩn trong miệng sẽ sử dụng phần đường này để tạo a xít, làm tăng nguy cơ sâu răng.
Dù có những lợi ích nhất định nhưng đánh răng ngay sau khi ăn lại tiềm ẩn một rủi ro quan trọng liên quan đến men răng. Sau khi ăn, đặc biệt là các thực phẩm có tính a xít như trái cây họ cam quýt hoặc nước ép, men răng sẽ tạm thời bị suy yếu, khiến dễ bị tổn thương hơn. Đây là phản ứng tự nhiên khi a xít tiếp xúc với bề mặt răng.
Nếu đánh răng ngay lúc này, lực chà xát từ bàn chải có thể làm mài mòn lớp men đang yếu, lâu dài dẫn đến nhạy cảm răng hoặc tổn thương men răng. Vì lý do này, các chuyên gia thường khuyến nghị nên chờ khoảng 30 - 60 phút sau khi ăn rồi mới đánh răng. Khoảng thời gian này cho phép nước bọt trung hòa a xít và giúp men răng phục hồi độ cứng tự nhiên, theo Healthline.
Như vậy, cả hai cách đánh răng vừa nêu trên đều có những lợi ích riêng, và theo Hiệp hội Nha khoa Mỹ, nên đánh răng sau ăn nhưng chờ ít nhất 30 - 60 phút, vì axit từ thức ăn có thể làm mềm men răng, đánh ngay sẽ dễ gây mòn răng.
Tình yêu với nghề điều dưỡng trong chị Giang Thanh lớn dần qua những buổi thực tập tại bệnh viện, qua những lần trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Chị nhận ra mình không chỉ hợp với việc chăm sóc y tế mà còn có một sợi dây liên kết tinh thần đặc biệt với trẻ con.
"Làm nghề này nhiều khi không nhớ nổi mình đã thức bao nhiêu đêm, nhưng lại nhớ rất rõ nụ cười của những em bé ngày xuất viện. Thấy bé cười là động lực giúp tôi theo nghề hơn 30 năm", chị Thanh chia sẻ.
Trước khi đến với vai trò điều dưỡng trưởng tại Bệnh viện Phương Nam, chị Thanh đã có 15 năm làm việc tại một bệnh viện công ở khoa bệnh nặng. Đó là quãng thời gian chị chứng kiến những em bé đứng giữa ranh giới sống chết, thấu hiểu nỗi đau và cả gánh nặng tài chính đè nặng lên vai những bậc làm cha, mẹ.
Kinh nghiệm dày dặn giúp chị có một "siêu năng lực"chẩn đoán tình trạng bệnh nhi qua nét mặt người mẹ. Với chị, điều dưỡng nhi không chỉ là chăm sóc đứa trẻ, mà còn là chăm sóc tinh thần cho cả gia đình.
"Vô thăm bệnh, chỉ cần nhìn nét mặt người mẹ thôi là chị đoán được sức khỏe đứa bé. Gương mặt tươi tắn là chắc chắn đứa bé khỏe. Còn nếu mẹ đang căng thẳng, nghĩa là em bé chưa bớt bệnh đâu”, chị kể.
Theo điều dưỡng Nguyễn Thế Giang Thanh, nhiều người vẫn nghĩ công việc của điều dưỡng nhi chỉ xoay quanh chuyện tiêm thuốc, truyền dịch. Nhưng thực tế, phía sau cánh cửa phòng bệnh là một guồng công việc dày đặc và áp lực kéo dài suốt ca trực. Mỗi ngày làm việc của điều dưỡng bắt đầu từ rất sớm bằng việc kiểm tra toàn bộ máy móc, thuốc men, vật tư y tế để bảo đảm mọi thứ luôn trong trạng thái sẵn sàng cấp cứu. Từ máy thở, monitor theo dõi, xe tiêm điện cho đến các số thuốc trong tủ trực đều phải được kiểm đếm cẩn thận.
“Chỉ cần có một ca cấp cứu xảy ra là chúng tôi phải trong tư thế sẵn sàng. Không ai được phép chủ quan”, chị Thanh nói.
Chị nhớ lại có những ca sinh non chỉ 30 tuần tuổi, nặng vỏn vẹn 1,2 kg. Đó là một hành trình "giành giật sự sống" kiên trì suốt 2 tháng trời để đưa bé chạm mốc 3 kg - một kỳ tích của cả đội ngũ y bác sĩ và gia đình.
Sau phần bàn giao giữa các ca trực là hàng loạt công việc nối tiếp nhau: tiếp nhận bệnh nhi mới, chăm sóc bệnh nhi đang điều trị, chuẩn bị trước và sau mổ, thực hiện y lệnh, hỗ trợ ăn uống, vệ sinh, theo dõi dấu hiệu sinh tồn…
Nhưng điều khiến điều dưỡng nhi áp lực nhất đôi khi không nằm ở chuyên môn, mà là sự hoảng loạn của người nhà khi con bệnh. Có những em bé chưa biết hợp tác, hay những người mẹ lần đầu có con nên hoảng loạn khi thấy con sốt cao. Những lúc ấy, người điều dưỡng phải là điểm tựa bình tĩnh nhất, vừa thực hiện đúng phác đồ, vừa là người trấn an tâm lý cho phụ huynh.
Hiện tại, với vai trò quản lý hơn 170 nhân sự (bao gồm điều dưỡng, hộ sinh, thư ký khoa và hộ lý), chị Thanh là người "giữ lửa" và định hướng lộ trình phát triển cho đội ngũ đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhân lên hàng đầu.
Chị Thanh và các đồng nghiệp đang nỗ lực triển khai "văn hóa tử tế" trong chăm sóc bệnh nhân. Đây là triết lý phụng sự từ tâm, lấy người bệnh làm trung tâm, chăm sóc với sự thấu cảm, tận tâm, trách nhiệm, tôn trọng, thân thiện và tích cực, là giá trị đặc trưng, đồng bộ trên toàn hệ thống y tế Phương Châu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, kết hợp giữa kỹ thuật y tế chuyên sâu và chăm sóc người bệnh toàn diện.
Chị trăn trở khi xã hội vẫn chưa nhìn nhận đúng về vai trò của điều dưỡng. Với chị, điều dưỡng là những người chủ động theo dõi sát nhất tình trạng của bệnh nhân, là người đầu tiên nhận biết dấu hiệu cảnh báo sớm để chủ động đề xuất những hành động can thiệp. Họ cũng là cầu nối quan trọng giữa bác sĩ với người bệnh. Việc điều dưỡng được trao quyền sử dụng liều thuốc cấp cứu đầu tiên trong thời gian chờ bác sĩ chính là cách để tận dụng "thời gian vàng", mang lại cơ hội sống cao nhất cho bệnh nhân.
“Điều dưỡng của chúng ta. Tương lai của chúng ta. Trao quyền cho điều dưỡng để cứu sống người bệnh. Tôi rất ấn tượng với thông điệp của Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế năm nay”, chị Thanh chia sẻ.
Sau hơn 30 năm làm nghề, trải qua biết bao đêm trực trắng đêm, những áp lực quay cuồng, chị Giang Thanh vẫn chọn ở lại với Khoa Nhi. Bởi lẽ, với chị Thanh, điều dưỡng không chỉ là một công việc kiếm sống, mà là một hành trình của sự thấu cảm, nơi mỗi nụ cười của trẻ thơ, sự an tâm của người bệnh và gia đình chính là phần thưởng lớn lao nhất mà không danh hiệu nào có thể thay thế được.