Khoảng 22h, taluy dương cao khoảng 3 m sạt xuống ngôi nhà có 6 người đang ngủ ở khu Gò Chùa, xã Cẩm Khê. Đất đá tràn vào làm đổ tường, sập giường ngủ của anh Phan Văn Việt, 34 tuổi, cùng hai con nhỏ lần lượt 2 và 4 tuổi.
Anh Việt bị chấn thương vùng sườn. Bé 4 tuổi được cấp cứu tại bệnh viện địa phương, hiện sức khỏe đã ổn định, trong khi bé nhỏ 2 tuổi được chuyển lên bệnh viện tuyến tỉnh điều trị.
Em anh Việt, chị Lê Thị Túy cho biết gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Ông nội các cháu là thương binh, mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối; bà đau ốm nhiều năm. Vợ chồng làm công nhân và chăm con nhỏ, kinh tế phụ thuộc vào thu nhập ít ỏi hàng tháng. Sau vụ sạt lở, nhiều người dân địa phương và nhà hảo tâm đã kêu gọi hỗ trợ gia đình trang trải chi phí điều trị cho các cháu bé.
UBND xã Cẩm Khê xác định nguyên nhân sơ bộ là gia đình san đắp mặt bằng để làm quán ở khu vực mặt đường phía trên, dẫn đến sạt trượt vào nhà phía dưới. Thời điểm xảy ra sự việc, khu vực có mưa nhưng không lớn nên bước đầu nhận định đây không phải sự cố do thiên tai.
Trong khi đó, mưa lớn kéo dài từ tối 18/5 đến ngày 19/5 ở nhiều tỉnh miền Bắc đã làm 35 ngôi nhà bị hư hỏng, tốc mái; gần 98 ha lúa và hoa màu bị ngập úng, thiệt hại. Mưa lũ cũng gây sạt lở tại hai điểm trường, một khu chợ ở Tuyên Quang; làm chết và cuốn trôi 10 gia súc, 315 gia cầm. Hơn 28.700 con cá tầm tại Quảng Ninh và Tuyên Quang bị nước lũ cuốn trôi.
Nhiều tuyến giao thông nông thôn ở Tuyên Quang, Thái Nguyên bị sạt lở, trong khi một số tuyến đường tại phường Mông Dương bị ngập. Trước đó, 115 hộ dân tại khu vực này phải sơ tán tránh ngập lụt và hiện đã trở về nhà.
Các địa phương ước tính tổng thiệt hại 6,5 tỷ đồng. Chính quyền đã huy động lực lượng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả, cắm biển cảnh báo tại khu vực nguy hiểm và xử lý các điểm giao thông bị chia cắt.
Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, đêm 19/5 và sáng 20/5, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tiếp tục mưa vừa, mưa to, cục bộ mưa rất to. Một số nơi ghi nhận lượng mưa lớn như Tân Pheo (Phú Thọ) 153 mm, Lăng Can 1 (Tuyên Quang) gần 140 mm và Thọ Dân (Thanh Hóa) hơn 145 mm.
Cơ quan khí tượng dự báo ngày 20 đến 21/5, Đông Bắc Bộ, nam Lào Cai, nam Phú Thọ, Thanh Hóa và Nghệ An tiếp tục mưa to và giông, phổ biến 50-100 mm, có nơi trên 150 mm. Riêng Đông Bắc có thể mưa 70-150 mm, cục bộ trên 200 mm.
Cơ quan khí tượng cảnh báo nguy cơ xuất hiện mưa cường suất lớn trên 100 mm trong 3 giờ có thể gây ngập úng cục bộ, lũ quét và sạt lở đất tại vùng núi. Trong mưa giông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Dự báo từ đêm 21/5, mưa lớn diện rộng ở miền Bắc giảm dần.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Vụ 42 cây mai vàng ở Côn Đảo: Phải chứng minh lâm sản, mới xử phạt được

Trao đổi với PV Báo Thanh Niên ngày 9.4, ông Nguyễn Thái Hậu, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo (gọi tắt Hạt Kiểm lâm) cho biết đơn vị đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông Đ.V.T (36 tuổi, ở đặc khu Côn Đảo, TP.HCM) 3 triệu đồng và tịch thu 42 cây mai vàng.
Hôm 2.4, tổ tuần tra liên ngành (do Hạt Kiểm lâm chủ trì cùng Công an đặc khu Côn Đảo và Ban Chỉ huy phòng thủ Khu vực 6 đặc khu Côn Đảo) thực hiện kế hoạch kiểm tra, truy xuất nguồn gốc lâm sản tại địa chỉ số 36 Tôn Đức Thắng, khu 5, đặc khu Côn Đảo.
Tại đây, lực lượng phát hiện 42 cây mai vàng do ông T. cất giữ, chăm sóc. Ông T. khai nhận đã mua 45 cây từ đất liền vận chuyển ra đảo, trong quá trình chăm sóc có 3 cây bị chết, số còn lại 42 cây có tổng khối lượng 0,38 m³.
Theo ông Hậu, mai vàng là cây thân gỗ phân bố trong rừng tự nhiên tại Côn Đảo, đồng thời cũng được người dân trồng, nhân giống làm cây kiểng phục vụ làm cảnh tại nhà, mua bán ngoài thị trường.
Vậy, việc xử phạt trên đã đúng với quy định pháp luật chưa? Trao đổi với PV BáoThanh Niên, luật sư Lê Văn Hoan, Đoàn luật sư TP.HCM, dẫn định nghĩa lâm sản theo khoản 16 điều 2 luật Lâm nghiệp 2017 (được sửa đổi năm 2025): "Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến".
Định nghĩa này chứa đựng một yếu tố quan trọng, đó là có nguồn gốc từ rừng. Một thực vật chỉ được xem là lâm sản khi nó được khai thác từ hệ sinh thái rừng. Đối với cây mai vàng, nếu đây là cây do người dân tự trồng trong vườn nhà, không phải đất rừng, hoặc được mua bán thương mại từ các nhà vườn kiểng có nguồn gốc rõ ràng, thì chúng mang bản chất một loại cây cảnh. Vì thế, đây là một tài sản dân sự, không phải là "lâm sản" theo định nghĩa của luật Lâm nghiệp.
"Tôi cho rằng việc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Vườn quốc gia Côn Đảo kết luận ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp về hành vi "tàng trữ... lâm sản trái quy định" mà chưa làm rõ các gốc mai này có nguồn gốc từ rừng là thiếu cơ sở", luật sư Hoan nêu ý kiến.
Một trong những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 điều 3 luật Xử lý vi phạm hành chính đó là người xử phạt phải có trách nhiệm chứng minh có hành vi vi phạm. Đây là nghĩa vụ của người xử phạt. Còn người bị xử phạt có quyền chứng minh mình không vi phạm. Việc chứng minh mình không vi phạm của người bị xử phạt là quyền chứ không phải nghĩa vụ, nghĩa là không bắt buộc.
"Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính mà ngay cả trong lĩnh vực hình sự cũng vậy. Nghĩa là bên buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội", luật sư Hoan nhấn mạnh.
Cũng theo luật sư Hoan, việc ông T. cất giữ, chăm sóc gốc mai là một sự thật khách quan, nhưng sự thật đó chỉ trở thành "hành vi vi phạm" nếu cơ quan chức năng chứng minh được đối tượng đó là lâm sản bất hợp pháp. "Nếu không chứng minh được nguồn gốc từ rừng, thì không thể áp dụng các chế tài về lâm nghiệp để xử lý tài sản của công dân", luật sư Hoan nói.
Cơ quan chức năng đang dựa vào việc ông T. không có bảng kê lâm sản theo quy định tại Thông tư 26 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, được bổ sung bởi Thông tư 84 năm 2025 Bộ Nông nghiệp và Môi trường (về truy xuất nguồn gốc lâm sản) để làm căn cứ xử phạt. Tuy nhiên, về vấn đề này, luật sư cho rằng cần xem xét kỹ đối tượng phải lập bảng kê.
Bởi tại khoản 9 điều 3 Thông tư 26 quy định: "Bảng kê lâm sản là bảng kê khai, mô tả thông tin chi tiết về: gỗ nguyên liệu, sản phẩm gỗ, cây thân gỗ; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật rừng, sản phẩm của động vật rừng; thực vật rừng ngoài gỗ; động vật, sản phẩm của động vật, thực vật ngoài gỗ, sản phẩm của thực vật ngoài gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, Phụ lục CITES. Bảng kê lâm sản không áp dụng đối với giống cây trồng lâm nghiệp và loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES".
Theo kiểm lâm, ông T. vi phạm khoản 6 điều 9 luật Lâm nghiệp năm 2017 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đồng thời, tại biên bản vi phạm hành chính lập ngày 2.4, ông T. có đề nghị sẽ cung cấp hóa đơn chứng từ mua bán số mai trên cho Hạt Kiểm lâm vào ngày hôm sau. Nhưng đến nay, ông T. không cung cấp được hóa đơn, chứng từ, bảng kê lâm sản hợp lệ theo quy định. Do đó, Hạt Kiểm lâm quyết định xử phạt theo Nghị định số 35 năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 07 năm 2022). Theo luật sư Hoan, cần phải xem xét lại vấn đề này.
"Gốc rễ vấn đề trong trường hợp này là Hạt kiểm lâm phải có nghĩa vụ chứng minh 42 gốc mai đó là lâm sản. Chỉ khi nào chứng minh được thì mới có căn cứ áp dụng chế tài như xử phạt hành chính và tịch thu tang vật", luật sư Hoan chia sẻ.
Nếu 42 gốc mai của ông T. là mai vườn, được trồng và bứng từ đất thổ cư hoặc đất vườn của hộ gia đình (không phải đất rừng), thì không có cơ sở xử phạt.
Trường hợp không chứng minh được 42 gốc mai là lâm sản, thì phải mặc định đó là tài sản dân sự hợp pháp. Do đó, việc tịch thu tang vật là 42 gốc mai và phạt ông T. 3 triệu đồng khi chưa chứng minh được tính chất "lâm sản" là không đảm bảo tính pháp lý.
Đồng tình với luật sư Hoan, luật sư Hoàng Hà (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng kiểm lâm muốn chứng minh 42 cây mai là lâm sản để xử phạt thì cần phải thực hiện nhiều bước nghiệp vụ.
"Việc xác minh phải thể hiện bằng văn bản và có thể trưng cầu giám định. Vì vậy trong vụ này, kiểm lâm không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận ông T. không xuất trình được bảng kê lâm sản, rồi suy ra ngay hành vi tàng trữ lâm sản trái pháp luật", luật sư Hoàng Hà nói.
Lẽ ra, việc kiểm lâm phải làm là xác định đúng đối tượng quản lý. Muốn áp dụng chế tài lâm nghiệp thì phải có căn cứ cho thấy 42 cây mai thuộc loại "thực vật rừng ngoài gỗ". Tức là lâm sản theo luật Lâm nghiệp và Thông tư 26 năm 2025.
Nếu còn lấn cấn giữa "mai rừng" và "mai vườn" thì cơ quan xử lý phải thu thập lời khai về nơi mua, người bán, địa điểm bứng cây, phương thức vận chuyển, chứng từ giao dịch, người làm chứng, đặc điểm thực vật học của cây. Cũng có thể trưng cầu chuyên môn nếu cần để làm rõ cây có nguồn gốc từ rừng, hay chỉ là cây cảnh do nhà vườn trồng.
"Chỉ sau khi qua bước nhận diện này mới có thể nói tới nghĩa vụ lập bảng kê lâm sản theo điều 11 Thông tư 26 năm 2025", luật sư Hoàng Hà nhấn mạnh.
Sau khi làm các bước trên, nếu có căn cứ xử phạt, thì kiểm lâm phải lập hồ sơ xử phạt đầy đủ, trong đó có biên bản vi phạm, tài liệu xác minh, chứng cứ nguồn gốc, lời khai của đương sự và các giấy tờ liên quan.
Nguồn: https://thanhnien.vn/vu-42-cay-mai-vang-o-con-dao-chua-du-can-cu-de-xu-phat-185260410104829808.htm

Gần 60 năm sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, dấu tích một hố chôn tập thể trên đường Trường Chinh, giáp ranh phường Kon Tum và Đăk Cấm (Quảng Ngãi), đang dần được giải mã từ không ảnh, hồ sơ quân sự và ký ức nhân chứng hai phía.
Câu chuyện bắt đầu năm 2021, khi ông Bob Connor, nguyên trung sĩ cảnh sát bảo vệ sân bay Biên Hòa, nhận thông tin từ một cựu binh Mỹ từng tham chiến tại Kon Tum vào tháng 2/1968.
Người này kể lại rằng sau trận đánh, quân đội Mỹ đã chôn cất khoảng 70-90 chiến sĩ quân giải phóng trong một rãnh thoát nước ven đường, nằm giữa phía tây Biệt khu 24 và phía đông trại MACV Kon Tum - khu vực thuộc đường Trường Chinh ngày nay.
Biệt khu 24 là đơn vị hành chính - quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý địa bàn Kon Tum và Gia Lai. Trại MACV Kon Tum là căn cứ của Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Kon Tum. Đây từng là hai cứ điểm quân sự quan trọng của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa ở Tây Nguyên.
Cùng với lời kể, nhân chứng cung cấp hai bức ảnh. Một ảnh ghi lại cảnh quân Mỹ chôn cất các chiến sĩ giải phóng bên rãnh thoát nước ven đường. Tấm còn lại chụp toàn cảnh Biệt khu 24, trong đó vị trí hố chôn được đánh dấu bằng nét bút màu xanh.
Ông Bob Connor quen kiến trúc sư Nguyễn Xuân Thắng (53 tuổi, TP HCM) từ năm 2016, khi cùng tham gia tìm kiếm khu mộ 50 liệt sĩ tại sân bay Biên Hòa (Đồng Nai). Nhiều năm qua, ông Thắng theo đuổi công việc tìm kiếm liệt sĩ, với thế mạnh là khai thác dữ liệu và không ảnh.
"Cựu binh Mỹ ẩn danh rất mong từ những thông tin này, các liệt sĩ sớm được trở về với gia đình", ông Thắng nói. Từ dữ liệu của bạn, ông bắt đầu hành trình kéo dài bốn năm, lần theo dấu tích hố chôn từ lời kể nhân chứng, tư liệu của hai phía và các nguồn không ảnh lịch sử.
Ông Thắng đã thành lập nhóm nghiên cứu Việt Nam - Mỹ để phục vụ việc tìm kiếm. Nhóm áp dụng phương pháp đối chiếu không ảnh, kết hợp phân tích bản đồ, ảnh vệ tinh lịch sử, khảo sát thực địa và thu thập lời kể nhân chứng.
Các thành viên thu thập sách báo, bản đồ tác chiến, ảnh vệ tinh khu vực Biệt khu 24 và đường Trường Chinh thời chiến. Trong đó, ảnh vệ tinh do quân đội Mỹ chụp được đánh giá có giá trị đặc biệt quan trọng để đối chiếu địa hình.
Nhóm nhiều lần đến hiện trường, so sánh địa hình thực tế với tư liệu lịch sử, đồng thời phỏng vấn các đội quy tập hài cốt liệt sĩ và người dân địa phương.
"Chúng tôi tìm những điểm tương đồng và khác biệt giữa các bức ảnh ở nhiều thời điểm, đưa về cùng hệ quy chiếu rồi đối sánh nhiều lần để xác định tọa độ tiệm cận chính xác nhất", ông Thắng nói.
Ngoài tư liệu và các phương pháp khoa học, đại tá Trần Thanh Hòa (79 tuổi), nguyên Tiểu đội trưởng Đội trinh sát thuộc Trung đoàn 24, Mặt trận Tây Nguyên, được xem là nhân chứng quan trọng. Trực tiếp tham gia trận đánh, ông xác nhận hai bức ảnh do cựu binh Mỹ cung cấp có cơ sở đáng tin cậy.
Tháng 11/2025, nhóm nghiên cứu bàn giao toàn bộ hồ sơ cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi. Đơn vị quân đội sau đó thành lập tổ xác minh, đối chiếu nguồn sử liệu từ phía Việt Nam và Mỹ, đồng thời tiếp cận các nhân chứng lịch sử để xác định vị trí hố chôn.
Kết quả phân tích ban đầu cho thấy khu vực này có thể còn từ 70 đến 90 hài cốt liệt sĩ nằm trong hai rãnh ở phía bắc và phía nam đường Trường Chinh. Các liệt sĩ được xác định thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 24A, Mặt trận B3 Tây Nguyên, hy sinh ngày 2/2/1968 (có thể sai số một ngày).
Ngoài Trung đoàn 24A, nhiều khả năng còn có chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn Đặc công 406 và Tiểu đoàn Bộ binh 304 của Tỉnh đội Kon Tum - những đơn vị tham gia chiến đấu trong các ngày cuối tháng 1 và đầu tháng 2/1968.
Đáng chú ý, năm 2008, Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Kon Tum phát hiện và quy tập 22 hài cốt cùng nhiều di vật tại khu vực đường Trường Chinh. Các liệt sĩ sau đó được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ phường Đăk Cấm. Dữ liệu này tiếp tục củng cố nhận định nơi đây vẫn còn nhiều hài cốt chưa được tìm thấy.
Sau khi thu thập dữ liệu, ngày 29/5, Ban chỉ đạo 515 (Về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ) thuộc Quân khu 5 và tỉnh Quảng Ngãi tổ chức hội thảo xác minh thông tin liệt sĩ, mộ liệt sĩ tại khu vực nói trên. Thiếu tướng Đoàn Quang Hòa, Cục trưởng Cục Chính sách - Xã hội (Tổng cục Chính trị), đề nghị các bên liên quan tiếp tục thu thập, hệ thống hóa các nguồn tư liệu. Việc tìm kiếm tập trung vào tài liệu lưu trữ quân sự, bản đồ tác chiến, nhật ký chiến đấu để xác định vị trí chôn cất, làm cơ sở tổ chức tìm kiếm, quy tập liệt sĩ.
Thiếu tướng Trần Minh Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo 515 (Quân khu 5) yêu cầu các cơ quan, đơn vị chức năng khẩn trương nghiên cứu, xây dựng phương án, xác định cụ thể từng vị trí và phạm vi tìm kiếm trong thời gian sớm nhất.
Tin Gốc: Vnexpress

P.Lang Biang - Đà Lạt được hình thành từ việc sáp nhập xã Lát, TT.Lạc Dương (H.Lạc Dương cũ) và P.7 (TP.Đà Lạt cũ, Lâm Đồng), với diện tích hơn 322 km², dân số hơn 40.000 người, trong đó khoảng 25% là đồng bào dân tộc thiểu số. Đây không đơn thuần là phép cộng địa giới hành chính, mà là sự hội tụ của 3 không gian sống khác biệt: vùng đồng bào dân tộc thiểu số giàu bản sắc, khu dân cư thị trấn năng động và vùng ven đô đang tăng tốc phát triển.
Trong mô hình chính quyền 2 cấp, vai trò của Đảng ủy, HĐND, UBND phường được phân định rõ ràng. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, bộ máy đã nhanh chóng ổn định tổ chức, phân công nhiệm vụ cụ thể, đồng thời xác định các khâu đột phá.
Bà Trần Thị Chúc Quỳnh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND P.Lang Biang - Đà Lạt, cho biết Đảng ủy đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như nông nghiệp công nghệ cao, phát triển đô thị xanh, chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính. Điểm đáng chú ý là các nghị quyết này nhanh chóng được cụ thể hóa bằng chương trình hành động rõ ràng, có địa chỉ thực hiện và kết quả đo lường cụ thể. Trách nhiệm được gắn trực tiếp với từng tổ chức, cá nhân.
Song song đó, HĐND phường thực hiện tốt vai trò giám sát, đảm bảo các chủ trương đi đúng hướng. UBND phường trở thành "đầu tàu" triển khai với tinh thần chủ động, linh hoạt. Sự phối hợp nhịp nhàng này đã tạo nên một hệ thống vận hành trơn tru, làm nền tảng cho những chuyển biến tích cực trong đời sống người dân.
Một trong những thay đổi rõ nét nhất tại P.Lang Biang - Đà Lạt là cải cách thủ tục hành chính. Nếu trước đây, người dân thường e ngại thủ tục rườm rà, phức tạp, mất nhiều thời gian thì nay, trải nghiệm tại Trung tâm phục vụ hành chính công đã hoàn toàn khác. Các mô hình như "Ngày không viết", "Ngày không hẹn" được triển khai thực chất. Người dân không còn phải tự tay điền nhiều giấy tờ hay chờ đợi kéo dài, nhiều hồ sơ đơn giản có thể hoàn tất trong ngày.
Sự thay đổi không chỉ ở quy trình, mà còn ở tư duy. Tinh thần "trách nhiệm - phục vụ", đặt người dân làm trung tâm được quán triệt ở mọi khâu. Ứng dụng công nghệ thông tin được đẩy mạnh: hồ sơ được số hóa, mã QR niêm yết công khai, người dân có thể tra cứu thủ tục một cách nhanh chóng hoặc đăng ký trực tuyến qua Zalo OA. Một hệ sinh thái hành chính hiện đại đang dần hình thành. Đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo bài bản về kỹ năng giao tiếp, hướng dẫn rõ ràng ngay từ đầu, hạn chế tối đa việc bổ sung hồ sơ nhiều lần.
Số liệu thống kê quý 1/2026 cho thấy hiệu quả rõ rệt: phường tiếp nhận 3.249 hồ sơ thủ tục hành chính, trong đó 2.984 hồ sơ trực tuyến. Đã giải quyết 3.098 hồ sơ, tỷ lệ đúng và trước hạn đạt 99,9%.
Đáng chú ý, dù địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ cấp kết quả điện tử vẫn đạt gần 95%, tỷ lệ khai thác dữ liệu số hóa đạt hơn 96%. Những con số này phản ánh không chỉ hiệu quả cải cách, mà còn cho thấy sự thích ứng nhanh của người dân với môi trường số.
Trong bức tranh cải cách hành chính tại P.Lang Biang - Đà Lạt, lĩnh vực đất đai và xây dựng được xem là "phép thử" rõ nét nhất. Chính quyền đã chủ động rà soát quy hoạch, công khai thông tin để người dân dễ tiếp cận. Đồng thời, tăng cường phối hợp với các cơ quan chuyên môn như Văn phòng Đăng ký đất đai, Phòng Kinh tế - Hạ tầng - Đô thị để xử lý dứt điểm các hồ sơ tồn đọng từ trước sáp nhập.
Ông Lê Chí Quang Minh, Phó chủ tịch UBND P.Lang Biang - Đà Lạt, cho biết khi tiếp nhận hồ sơ, chính quyền chủ động xuống tận nơi xác minh, hướng dẫn cụ thể, tháo gỡ từng vướng mắc. Nhờ cách làm này, nhiều hồ sơ tồn đọng nhiều năm đã được giải quyết trong thời gian ngắn. Người dân không còn phải chờ đợi mòn mỏi, mà được đồng hành trong suốt quá trình hoàn tất thủ tục.
Trường hợp gia đình ông Kơ Sa Ha Be và ông Rơ Ông Da Ni là minh chứng rõ nét. Sau nhiều năm chờ đợi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến đầu tháng 4.2026, họ đã chính thức nhận sổ đỏ. "Tôi không nghĩ có ngày hồ sơ của mình được giải quyết nhanh như vậy", ông Ha Be chia sẻ.
Với lĩnh vực xây dựng, quy trình cấp phép cũng được cải tiến theo hướng minh bạch. Người dân chỉ cần chuẩn bị hồ sơ đúng quy định sẽ được giải quyết đúng hoặc trước hạn. Việc "khơi thông" thủ tục đất đai không chỉ mang lại thuận lợi cho người dân mà còn tạo hiệu ứng tích cực đối với nền kinh tế địa phương. Các giao dịch trở nên minh bạch hơn, hoạt động đầu tư - kinh doanh được thúc đẩy.
Kết quả là nguồn thu ngân sách tăng trưởng rõ rệt. Chỉ trong quý 1/2026, thu ngân sách của phường đạt hơn 108,5 tỉ đồng, tương đương hơn 43,3% dự toán năm. Riêng thu từ tiền sử dụng đất đạt hơn 70,9 tỉ đồng, con số cho thấy hiệu quả trực tiếp của cải cách hành chính.
Không chỉ thể hiện qua các con số, cải cách tại P.Lang Biang - Đà Lạt còn được cảm nhận rõ qua những câu chuyện đời thường. Ông Nguyễn Kim Tuấn (ở tổ Phước Thành) kể khi nộp hồ sơ xin sửa nhà, ông khá lo lắng. Thế nhưng chỉ sau 15 ngày, giấy phép đã được cấp đúng hẹn.
Bà Nguyễn Thị Lai (đường Đan Kia) chia sẻ sau 20 ngày hoàn tất hồ sơ và nghĩa vụ tài chính, bà đã được chuyển đổi mục đích sử dụng đất. "Cán bộ hướng dẫn rất kỹ, từng bước một. Mình chỉ cần làm đúng là được giải quyết", bà Lai nói. Tương tự, ông Phạm Văn Bé (ở đường Thánh Mẫu) được hẹn 5 ngày nhưng chỉ 4 ngày đã có thể nhận kết quả đăng ký hộ kinh doanh.
Bà Lê Thị Hồng Nhật (ở đường Xô Viết Nghệ Tĩnh) nhận xét: "Trải nghiệm khi làm thủ tục hành chính ở P.Lang Biang - Đà Lạt rất tích cực. Cán bộ nhiệt tình, hướng dẫn rõ ràng, hồ sơ thường được giải quyết trước hẹn".
Những câu chuyện như trên đã góp phần tạo nên bức tranh lớn về một chính quyền gần dân, hiểu dân và vì dân.
Nhìn lại chặng đường chưa dài sau sáp nhập, P.Lang Biang - Đà Lạt đã cho thấy hướng đi đúng đắn khi lấy người dân làm trung tâm và hiệu quả phục vụ làm thước đo. Sự thay đổi không chỉ nằm ở bộ máy hay quy trình, mà sâu xa hơn là sự chuyển biến trong tư duy quản lý, từ hành chính sang phục vụ, từ thụ động sang chủ động. Luồng gió mới cải cách hành chính không chỉ làm thay đổi cách người dân tiếp cận dịch vụ công, mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững, củng cố niềm tin xã hội - yếu tố quan trọng nhất của một nền quản trị hiệu quả. (còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên

