Một buổi chiều cách đây một tuần, tôi tấp xe máy vào lề, trên một con đường ở phường Thủ Đức, TP HCM để xem tin nhắn điện thoại. Khu vực này đường vắng, đậu rất nhiều xe van giao hàng chờ “nổ cuốc”.
Đang nghĩ nội dung trả lời tin nhắn cho khách hàng thì tôi nghe được đoạn hội thoại của một tài xế shipper như sau:
“Alo, anh A đặt giao hàng phải không, app lấy chiết khấu cao quá, anh hủy cuốc đi rồi em đến lấy hàng, em lấy giá rẻ hơn cho”.
Không rõ đâu dây bên kia nói gì, nhưng tài xế lên xe chạy đi ngay. Tôi đoán là người đặt giao hàng qua ứng dụng đồng ý “đi đêm” với tài xế.
Chứng kiến câu chuyện này, tôi có nhiều suy nghĩ:
Vì sao người dùng đồng ý “đi đêm” với shipper? Có phải các ứng dụng giao hàng đang lấy chiết khấu quá cao, khiến các shipper không sống nổi với nghề?
Về mặt người dùng, có thể tiết kiệm được một khoản nhỏ, tài xế tránh được phí, nhưng rủi ro về đơn hàng thì thế nào?
Điều này có làm méo mó cách vận hành của các nền tảng giao hàng hay không?
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi làm tài xế xe ôm công nghệ ở Hà Nội đã nhiều năm. Công việc này không giúp tôi giàu lên, nhưng đủ để nuôi gia đình gồm hai vợ chồng và một con nhỏ đang tuổi ăn học. Mỗi ngày, tôi rong ruổi trên đường từ sáng sớm đến tối muộn, tranh thủ chạy thêm vào giờ cao điểm để có thu nhập khá hơn.
Mỗi tháng, doanh thu của tôi dao động khoảng 15-17 triệu đồng, nhưng phải trích khoảng 35% doanh thu cho nền tảng. Sau khi trừ phần này, cộng với các khoản thuế, thu nhập thực tế của tôi chỉ còn khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng. Số tiền ấy phải trang trải tiền thuê nhà ở Hà Nội, tiền ăn uống, điện nước, xăng xe, học hành của con và nhiều khoản phát sinh khác. Cuối tháng, gia đình tôi hầu như không có dư.
Vì vậy, khi nghe đề xuất đưa tài xế công nghệ vào diện tham gia BHXH bắt buộc, tôi thực sự lo lắng. Tôi hoàn toàn hiểu ý nghĩa của BHXH. Không ai muốn đến lúc tuổi già không có lương hưu hoặc khi gặp rủi ro lại không có điểm tựa. Tôi cũng không phản đối việc tham gia BHXH. Vấn đề là ai sẽ đóng và đóng như thế nào để phù hợp với thực tế đời sống của người lao động?
Nếu tài xế công nghệ phải tự đóng BHXH với mức 22%, số tiền tôi thực nhận mỗi tháng sẽ giảm đáng kể. Chẳng hạn, với thu nhập khoảng 10 triệu đồng của tôi hiện nay, khoản đóng này tương đương hơn 2 triệu đồng. Như vậy, số tiền còn lại để lo cho cả gia đình chỉ hơn 7 triệu đồng mỗi tháng. Với một gia đình đang thuê nhà ở Hà Nội như tôi, đó là mức rất khó xoay xở. Chỉ riêng tiền thuê nhà và các chi phí sinh hoạt cơ bản đã chiếm phần lớn số tiền. Chưa kể con nhỏ đau ốm, học hành hay những lúc xe hỏng phải sửa chữa. Nếu thu nhập giảm thêm, cuộc sống sẽ trở nên vô cùng chật vật.
>> Cử nhân quản trị kinh doanh làm shipper sau ba tháng thất nghiệp
Nói thật, trong hoàn cảnh đó, tôi có thể phải cân nhắc bỏ nghề. Không phải vì tôi không muốn đóng BHXH, mà vì trước mắt tôi vẫn phải lo cơm áo cho gia đình từng tháng. Khi thu nhập hiện tại còn chưa đủ dư dả, việc phải tự gánh thêm toàn bộ khoản đóng BHXH là áp lực rất lớn.
Tôi cho rằng nếu tài xế công nghệ được đưa vào diện tham gia BHXH bắt buộc thì các nền tảng công nghệ cũng cần có trách nhiệm chia sẻ nghĩa vụ này, tương tự doanh nghiệp đang đóng BHXH cho người lao động (theo quy định, hiện tổng mức đóng BHXH bắt buộc bằng 32% tiền lương, trong đó người lao động đóng 10,5% và doanh nghiệp đóng 21,5%).
Hiện nay, các nền tảng đang hưởng lợi từ sức lao động của hàng trăm nghìn tài xế. Nếu chỉ yêu cầu tài xế tự đóng BHXH toàn bộ mà không có sự hỗ trợ từ phía nền tảng thì gánh nặng sẽ dồn hết lên người lao động, điều đó liệu có công bằng không?
Một chính sách tốt cần hướng tới mục tiêu bảo vệ người lao động, nhưng cũng phải phù hợp với khả năng đóng góp thực tế của họ. Nếu mức đóng quá cao so với thu nhập, nhiều người cũng sẽ giống tôi, tìm cách né tránh hoặc buộc phải rời bỏ công việc đang làm. Khi đó, mục tiêu mở rộng độ bao phủ BHXH e rằng cũng khó đạt được.
Tôi mong rằng khi sửa đổi các quy định liên quan đến BHXH đối với tài xế công nghệ, cơ quan chức năng sẽ lắng nghe tiếng nói từ những người trực tiếp mưu sinh trên đường phố mỗi ngày. Chúng tôi cần được bảo vệ về lâu dài, nhưng cũng cần một cơ chế đóng góp công bằng để có thể tiếp tục sống được bằng nghề của mình hôm nay.
Tin Gốc: Vnexpress

Những ngày gần đây, tôi đọc nhiều bài viết của các phụ huynh chia sẻ của phụ huynh về việc học các môn liên kết trong trường công lập. Bản thân tôi cũng là một người có con đang đi học và có cùng trải nghiệm tương tự, đặc biệt là với môn tin học IC3 (chứng chỉ tin học quốc tế), nên muốn kể lại câu chuyện của chính mình, với mong muốn góp thêm một góc nhìn thực tế.
Tôi có ba con, hiện đang học ở ba cấp khác nhau. Con lớn của tôi học lớp 10, trước đây đã từng học môn IC3 từ cấp hai. Con thứ hai của tôi đang học lớp 7, hiện vẫn theo chương trình này. Còn con út lớp 3 cũng bắt đầu làm quen với IC3. Ban đầu, tôi cũng nghĩ việc con được tiếp cận sớm với tin học theo chuẩn quốc tế là điều tích cực. Nhưng khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi bắt đầu có nhiều nghi ngại.
Tôi xem qua tài liệu học của các con thì thấy phần lớn là lý thuyết và các bộ câu hỏi trắc nghiệm. Cách học chủ yếu là ghi nhớ đáp án để đi thi. Khi tôi hỏi kỹ hơn về phương pháp giảng dạy, các con cho biết gần như không có hoặc rất ít thực hành, chủ yếu là nghe giảng và học thuộc. Điều này khiến tôi liên tưởng đến kiểu học "mẹo" để vượt qua các kỳ thi, giống như cách nhiều người từng học để thi bằng lái xe trước đây.
Tôi thử hỏi lại các con một số kiến thức đã học. Tùy từng đứa, khả năng tiếp thu khác nhau, nhưng nhìn chung, tôi không thấy hiệu quả rõ rệt. Theo đánh giá cá nhân, việc học IC3 ở độ tuổi này chưa mang lại giá trị tương xứng. Trong khi đó, chương trình tin học chính khóa theo sách giáo khoa, nếu được học bài bản, đã đủ để các con nắm vững nền tảng cần thiết.
>> Cắn răng chi tiền triệu cho con học môn liên kết vì xen giờ học chính khóa
Bản thân tôi làm lập trình viên, nên phần nào hiểu rõ những kiến thức tin học nào thực sự quan trọng và phù hợp với lứa tuổi. Chính vì vậy, tôi khá chắc chắn rằng việc dạy và học IC3 theo cách hiện tại là chưa cần thiết đối với các con mình.
Nhưng vấn đề khiến tôi trăn trở là tính "tự nguyện" của chương trình dạy học liên kết. Tôi được biết, nếu không đăng ký học, các con vẫn phải ở lại lớp, không được về, do lịch học được tổ chức vào giữa buổi chính khóa. Điều đó đặt phụ huynh vào tình thế khó xử: nếu chỉ riêng con mình không học, bé sẽ làm gì trong khi cả lớp tiếp tục chương trình? Việc này vô hình trung tạo ra áp lực phải tham gia, dù phụ huynh có thể chưa thấy thực sự cần thiết.
Chi phí cho các môn học như vậy cũng không hề nhỏ. Khi cân nhắc giữa số tiền bỏ ra và lợi ích thực tế mà các con nhận được, tôi thấy sự chênh lệch khá lớn. Là phụ huynh, ai cũng mong con được học những gì thiết thực, hiệu quả, thay vì chạy theo các chứng chỉ mà giá trị thực tế còn nhiều tranh cãi.
Tôi chia sẻ câu chuyện này không nhằm phủ nhận hoàn toàn ý nghĩa của các chương trình liên kết, mà chỉ mong việc tổ chức và triển khai cần phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của học sinh. Quan trọng nhất, việc học nên giúp các con hiểu và làm được, chứ không chỉ dừng lại ở việc nhớ để vượt qua một kỳ thi.
Tin Gốc: Vnexpress

Sau khi đọc bài viết "Nhiều lao động bị vắt kiệt vì ‘KPI, deadline’", tôi như thấy chính mình trong đó. Tôi năm nay đã ngoài 40 tuổi, làm việc ở một công ty suốt 13 năm nay. Từng ấy thời gian đủ để tôi chứng kiến sự thay đổi của môi trường công sở, của áp lực công việc và cả cách con người dần bị biến thành những cỗ máy chạy theo năng suất.
Ngày mới đi làm, tôi từng chăm chỉ hết mình vì niềm tin sẽ có một cuộc sống ổn định. Tôi từng tự hào vì mình là người chịu khó, có trách nhiệm và luôn hoàn thành công việc đúng hạn.
Nhưng càng về sau, tôi càng nhận ra sự chăm chỉ của mình đang bị khai thác đến mức kiệt quệ. Chúng tôi không chỉ làm việc ở công ty tám tiếng mỗi ngày, mà còn mang việc về nhà, thức khuya trả lời email, giải quyết tin nhắn nhóm, hoàn thành báo cáo, chạy KPI và sống trong cảm giác lúc nào cũng sợ chậm deadline.
Ranh giới giữa công việc và cuộc sống cá nhân của tôi ngày càng biến mất. Có những tối tôi vừa ăn cơm vừa nhìn điện thoại vì sợ sếp nhắn. Có những ngày cuối tuần đáng lẽ được nghỉ ngơi thì laptop lại sáng đèn từ sáng đến khuya. Tôi từng đưa con đi chơi nhưng đầu óc vẫn nghĩ về bảng số liệu chưa làm xong. Thậm chí, ngay cả lúc nằm ngủ, tôi vẫn giật mình vì nhớ ra một email chưa trả lời. Cứ thế, tôi sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài suốt nhiều năm mà không hề hay biết.
Áp lực công việc ngày nay không còn đơn thuần là "làm nhiều", mà là cảm giác không bao giờ được nghỉ ngơi thật sự. Công nghệ giúp chúng ta kết nối nhanh hơn, nhưng cũng khiến công việc bám theo con người mọi lúc mọi nơi. Chỉ cần điện thoại còn kết nối internet, người lao động như tôi gần như không thể thoát khỏi công việc.
>> Tôi 10 năm cống hiến nhưng công ty xem là điều hiển nhiên
Nhiều người nói rằng áp lực là điều bình thường khi đi làm, ai cũng phải chịu. Tôi không phủ nhận doanh nghiệp cần doanh thu, cần hiệu suất để tồn tại. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nhiều công ty đang đẩy áp lực vượt quá giới hạn chịu đựng của người lao động.
Có giai đoạn tôi phải làm việc liên tục từ sáng đến hơn 10 giờ đêm trong nhiều tuần. Hết báo cáo tháng lại đến kế hoạch quý, hết chỉ tiêu doanh số lại đến đánh giá hiệu suất. Mỗi năm KPI lại tăng, nhưng thời gian nghỉ ngơi của tôi thì ngày càng ít đi. Chúng tôi luôn được yêu cầu phải "cố thêm chút nữa", "nỗ lực thêm chút nữa", nhưng không ai hỏi chúng tôi đã mệt đến mức nào?
Tôi từng chứng kiến đồng nghiệp bật khóc trong nhà vệ sinh vì áp lực công việc. Có người phải uống thuốc ngủ vì mất ngủ kéo dài. Có người mới ngoài 30 tuổi đã mắc bệnh dạ dày, rối loạn lo âu, huyết áp cao. Nhưng sáng hôm sau, tất cả vẫn phải mặc đồng phục, cười nói bình thường và tiếp tục chạy deadline như chưa có chuyện gì xảy ra.
Phải chăng xã hội đang dần xem sự kiệt sức như một biểu hiện của chăm chỉ? Người ta tung hô những ai làm việc xuyên đêm, trả lời email ngoài giờ hay không nghỉ phép suốt nhiều năm. Nhưng ít ai tự hỏi liệu đó có phải là một cuộc sống lành mạnh hay không? Tôi từng tự hào vì mình "cày việc" giỏi, nhưng giờ đây không còn thấy điều đó đáng tự hào nữa.
Đổi lại cho những năm tháng lao lực tuổi trẻ là sức khỏe giảm sút rõ rệt. Tôi thường xuyên đau đầu, mất ngủ và lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi. Có những ngày tan làm về nhà, tôi không còn đủ năng lượng để trò chuyện với vợ con. Con tôi nhiều lần muốn bố chơi cùng nhưng tôi chỉ muốn nằm im vì quá kiệt sức. Tôi nhận ra mình đang dành phần lớn năng lượng cho công ty, còn gia đình lại chỉ nhận được phần mệt mỏi còn sót lại. Đó là điều khiến tôi day dứt nhất.
Khi kinh tế khó khăn, ai cũng lo mình tụt lại phía sau. Vì sợ mất việc, nhiều người như tôi vẫn chấp nhận làm thêm ngoài giờ, chấp nhận bị giao việc cả cuối tuần, chấp nhận sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài. Chúng tôi không dám từ chối vì còn gánh nặng gia đình, tiền nhà, tiền học cho con và vô số áp lực cơm áo khác.
Nhưng con người không phải cỗ máy. Tôi nghĩ nhiều doanh nghiệp đang nhầm lẫn giữa hiệu suất và sự cống hiến mù quáng. Một nhân viên làm việc 14 tiếng mỗi ngày chưa chắc hiệu quả hơn một người được nghỉ ngơi đầy đủ và làm việc trong trạng thái cân bằng. Khi con người quá mệt mỏi, họ dễ mất sáng tạo, giảm năng suất và dần mất động lực với công việc.
Tôi vẫn đang phải tiếp tục làm việc, vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình. Nhưng càng lớn tuổi, tôi càng mong các doanh nghiệp nhìn người lao động bằng sự thấu hiểu hơn. Bởi phía sau những bảng KPI và deadline là những con người bằng xương bằng thịt, cũng biết mệt, biết áp lực và cũng cần được sống chứ không chỉ tồn tại để làm việc.
Tin Gốc: Vnexpress

