Chiều hôm ấy, người yêu tôi gặp tôi với vẻ háo hức hiếm thấy. Vừa ngồi xuống, cô cẩn thận mở một chiếc hộp nhỏ, bên trong là một cây bút đen bóng. Cô đưa tôi xem, ánh mắt lấp lánh: “Em vừa được tặng đấy”.
Tôi nhìn vài giây, rồi buột miệng, gần như theo phản xạ: “Anh tưởng gì… mấy loại này anh cũng được tặng vài cái rồi. Nhưng nói thật, chả cái nào dùng được. Viết không ra mực. Toàn bỏ xó, phí của, phí tiền”.
Không khí chùng xuống gần như ngay lập tức. Cô khép hộp lại, động tác nhẹ nhưng dứt khoát. “Đây không phải bút để viết, đây là bút kỷ niệm”. Tôi cười nhạt: “Đã là bút thì phải viết được chứ? Không viết được thì tặng làm gì?”.
Cô nhìn thẳng vào tôi, không còn chút vui nào: “Anh lúc nào cũng thực dụng như thế à? Không phải cái gì cũng đo bằng việc dùng được hay không. Đây là sự trân trọng”.
Tôi cũng bắt đầu khó chịu: “Anh không phủ nhận ý nghĩa. Nhưng tối thiểu nó phải làm đúng chức năng của nó chứ. Một cây bút viết được thì đâu có làm mất đi ý nghĩa?”.
Cô lắc đầu, thở dài: “Vấn đề là anh không hiểu cảm xúc của em”. Còn tôi thì nghĩ: vấn đề là cô đang bỏ qua một điều rất rõ ràng về công dụng của cây bút.
Cuộc nói chuyện dừng lại ở đó. Không ai thuyết phục được ai. Và rồi, từ một cây bút, chúng tôi giận nhau. Nhìn lại, tôi nhận ra câu chuyện này không chỉ là chuyện riêng của hai người. Nó giống như một lát cắt nhỏ của cách chúng ta nhìn nhận giá trị trong đời sống. Một bên sẽ nói như tôi: Đã là bút thì phải viết được. Không viết được thì dù mang danh nghĩa gì, cũng là một món đồ không trọn vẹn chức năng.
Nhưng một bên khác sẽ nói như cô ấy rằng giá trị của món quà không nằm ở công năng, mà nằm ở hoàn cảnh và ý nghĩa khi nó được trao. Đó là kỷ niệm, là sự trân trọng, không thể đo bằng chuyện “viết được hay không”.
Chính sự khác biệt ấy lại dễ đẩy mọi chuyện đi xa hơn mức cần thiết. Bởi lẽ, trong một xã hội mà những giá trị biểu tượng ngày càng được đề cao, người ta có xu hướng chấp nhận rằng có những thứ “không cần dùng”.
Trong khi đó, với nhiều người, đặc biệt là những trải nghiệm rất đời thường, một món đồ trước hết vẫn phải làm tốt chức năng của nó. Vậy thì câu hỏi đặt ra là: Một món quà mang tính nghi lễ có cần đảm bảo công năng cơ bản không? Hay chỉ cần “đúng ý nghĩa” là đủ? Và nếu người nhận thấy nó không dùng được, thì đó là lỗi của món quà hay chỉ là sự lệch nhau trong cách nhìn?
Tôi cho rằng việc bỏ được cờ bạc hay không phần lớn vẫn phụ thuộc vào bản thân mỗi người, đặc biệt là nhận thức và khả năng kiểm soát chính mình. Cờ bạc không khó bỏ như nhiều người nghĩ. Điều khó nhất là chiến thắng lòng tham và những ham muốn bên trong mình.
Tôi từng có khoảng thời gian sa vào cờ bạc, từ năm 2020 đến 2021. Ngay từ khi bắt đầu dính vào, tôi đã hiểu đây là một trò chơi mà người tham gia khó có thể thắng lâu dài. Dù vậy, tôi vẫn lao vào với suy nghĩ mình có thể kiểm soát được mọi thứ, kịp rút chân khi có lời nhẹ.
Ban đầu, tôi tự đặt ra những nguyên tắc rất chặt chẽ. Mỗi ngày, nếu thắng khoảng 10 triệu đồng là tôi dừng ngay. Ngược lại, nếu thua 10 triệu đồng tôi cũng nghỉ chơi, không cố gỡ. Có những giai đoạn, tôi thắng tới 20 ngày trong một tháng. Chính những lần thắng ấy khiến tôi càng tin rằng mình là "vua cờ bạc" đang làm chủ cuộc chơi.
Nhưng rồi đại dịch Covid-19 ập đến. Thời gian ở nhà nhiều hơn, công việc bị gián đoạn, tôi có quá nhiều thời gian rảnh. Từ chỗ chơi có chừng mực, tôi bắt đầu chơi nhiều hơn. Mức cược cũng tăng dần theo thời gian. Những nguyên tắc tôi từng đặt ra cho bản thân dần bị phá vỡ lúc nào không hay.
Khi lòng tham lớn hơn sự tỉnh táo, mọi thứ nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát. Chỉ trong giai đoạn dịch bệnh đó, tôi thua hơn một tỷ đồng. Tôi vẫn nhớ như in ngày cuối cùng mình tham gia cờ bạc. Hôm ấy, tôi mất hơn 500 triệu đồng chỉ trong một ngày. Tài khoản của tôi khi đó vẫn còn tiền, nghĩa là tôi vẫn có thể tiếp tục chơi để tìm cách gỡ gạc. Nhưng chính khoảnh khắc ấy, tôi quyết định dừng lại.
>> Đứa bạn học giỏi, lương cao bỗng báo nợ trăm triệu, phải bán đất
Tôi tự nhủ số tiền đã mất sẽ là học phí cho một bài học đắt giá. Nếu muốn lấy lại những gì đã mất, tôi phải kiếm bằng công việc chân chính chứ không phải tiếp tục lao vào một vòng xoáy cờ bạc không có điểm dừng.
Thời gian đầu từ bỏ cờ bạc quả thực không hề dễ dàng. Trong đầu tôi luôn xuất hiện một tiếng nói khác, thúc giục rằng chỉ cần chơi thêm một lần nữa là có thể gỡ lại toàn bộ số tiền đã mất. Tôi tin rằng bất kỳ ai từng sa vào cờ bạc cũng sẽ hiểu cảm giác đó. Nếu nhận thức không đủ mạnh, nếu lý trí không thắng nổi ham muốn, có lẽ tôi đã quay lại con đường cũ.
Cờ bạc vốn là một vòng luẩn quẩn. Khi thắng, người ta muốn thắng nhiều hơn nữa vì không bao giờ thấy đủ. Khi thua, người ta lại càng lao vào để gỡ. Đến lúc gỡ được thì lại tiếp tục muốn thắng thêm. Cứ như vậy, lòng tham dần che mờ lý trí, khiến người chơi đánh mất bản thân lúc nào không hay.
Điều tôi nhận ra sau tất cả là tiền kiếm được từ cờ bạc thường không mang lại nhiều giá trị. Đó là khoản tiền đến quá dễ dàng nên người ta cũng tiêu đi rất dễ dàng. Trong khi đó, những gì mất đi lại chính là đồng tiền được tạo ra từ công sức, thời gian và mồ hôi của mình.
Hơn một tỷ đồng tôi từng mất là cái giá rất đắt. Nhưng đổi lại, tôi học được một điều quan trọng: không có cách nào làm giàu bền vững ngoài lao động và công việc chân chính. Và chỉ khi chấp nhận từ bỏ ý nghĩ "gỡ lại", người ta mới thực sự bước ra khỏi cờ bạc.
Kỷ niệm 20 năm ngày cưới, vợ chồng tôi mon men đi chụp ảnh kỷ niệm tại một studio của người quen. Sau khi nhận về tấm ảnh đã "photoshop hư hết vài con chuột máy tính", tấm ảnh kỷ niệm trong long lanh. Nhưng khi đem treo cạnh tấm ảnh cưới, tôi không còn nhận ra tôi nữa.
Ở độ tuổi U50, thời gian trôi qua, tất nhiên là tôi trông già hơn xưa, nhưng mái đầu hói do tóc lởm chởm vài cọng "trông phát chán". Chiều cao không biết có lùn đi hay không nhưng trực quan nhìn vào thì thấy bề ngang to ra - bụng bia.
Thời gian thật tàn nhẫn vì làm vạn vật đổi thay. Con người, tất nhiên phải già đi rồi, nhưng đằng đẵng năm tháng trôi qua, ngoại hình thay đổi là điều khách quan phải chấp nhận. Nhưng điều gì thế này? Tướng tá phát phì, bụng to sau những ngày tháng ăn nhậu, lười tập thể dục, tôi còn biết phải biện hộ gì nữa?
Tóc rụng, tóc hói có thể là do gen. Nhưng ai bảo chúng không bị bia rượu, thuốc lá làm "chất xúc tác" đẩy nhanh tiến trình?
Hội bạn của tôi, khi bước vào độ tuổi này, hầu như ai cũng rơi vào một hoặc cả hai tình trạng trên. Đến nỗi chúng tôi than thở với nhau tóc rụng, bụng bia đúng là combo hủy diệt nhan sắc đàn ông Việt độ tuổi 40 trở đi.
Điều đáng nói là trong công ty của tôi, vài thằng em mới 25-30 tuổi cũng đang đau khổ vì tóc rụng. "Tóc rụng từng mảng mỗi lần tắm", "Em phải dọn lỗ thoát nước nhà tắm mỗi ngày vì tóc rụng"... tôi gặp hàng tá thời than vãn như vậy, và chỉ các em ăn hà thủ ô, xài tinh dầu bưởi chống rụng tóc để cứu vãn mái tóc (dù chúng vô dụng với tôi, nhưng biết đâu lại hợp cơ địa với ai đó).
Ở một góc độ nào đó, chúng ta chấp nhận chuyện đàn ông trung niên xuống sắc như một lẽ tự nhiên, đến mức quên mất rằng rất nhiều trong số đó hoàn toàn có thể kiểm soát được.
Tóc rụng có thể là do di truyền, nhưng việc thiếu ngủ, stress kéo dài, bia rượu, thuốc lá - tất cả đều là những chất xúc tác khiến quá trình đó đến sớm hơn và nặng hơn. Bụng bia cũng vậy, không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của năng lượng nạp vào nhiều hơn tiêu hao trong một thời gian dài, cộng thêm việc cơ thể ngày càng ít vận động.
Đến khi rơi vào tình trạng này, tôi mới phát hiện nhiều đàn ông sẵn sàng chi tiền triệu cho thực phẩm chức năng, dầu gội chống rụng tóc, nhưng lại không sẵn sàng dành 30 phút mỗi ngày để vận động.
Chúng ta tìm cách chữa ngọn vì nó dễ hơn rất nhiều so với việc thay đổi thói quen. Bạn có thể dùng sản phẩm hỗ trợ, có thể thử đủ loại mẹo dân gian, nhưng nếu vẫn giữ nguyên nhịp sống cũ như thức khuya, ăn nhậu, ít vận động thì mọi nỗ lực chỉ giống như tát nước ra khỏi một chiếc thuyền đang thủng.
Khi nhìn sang những người cùng độ tuổi nhưng giữ được phong độ thì thật đáng ghen tỵ và hối hận vì những năm tháng không quan tâm, chăm sóc bản thân.
Khắc
Cách đây vài ngày, dưới ánh nắng gay gắt và oi bức của miền Nam, tôi đã đặt một cuốc xe công nghệ do một phụ nữ trung niên cầm lái. Cô khoảng 40 tuổi, mặc chiếc áo đồng phục đã cũ và sờn màu.
Dáng người tương đối nhỏ nên cô phải loay hoay với chiếc xe tay ga trong lúc chờ đợi và gạt chống để đón tôi lên xe.
Những năm gần đây, nền kinh tế chia sẻ đang ngày càng phổ biến hơn đối với nhóm lao động tự do. Vài năm trước, tài xế công nghệ vốn chủ yếu dành cho nam giới, giờ đây ngày càng nhiều phụ nữ hơn 30 tuổi tham gia lĩnh vực này.
Cô tài xế công nghệ chia sẻ với tôi rằng công việc này linh hoạt về mặt thời gian, giúp cô thu xếp về nhà nấu ăn và đưa đón con đi học do hai vợ chồng ở trọ tại thành phố, không có ông bà nội ngoại phụ giúp.
Tuy nhiên, đây chẳng phải là ưu tiên của cô, mà là cô không có sự lựa chọn tốt hơn. Trước khi sinh con, cô từng là nhân viên bán hàng cho một chuỗi quần áo, nhưng sau kỳ nghỉ thai sản, cô không thể tìm được công việc phù hợp với kinh nghiệm trước đó nên chấp nhận làm tài xế công nghệ.
Cô ấy cũng không phải trường hợp duy nhất buộc phải làm tài xế công nghệ để mưu sinh. Nhiều người phụ nữ hơn 30 tuổi phải làm những công việc đòi hỏi thể lực như tài xế công nghệ, vệ sinh máy lạnh... cho thấy việc mưu sinh chưa bao giờ điều dễ dàng đối với nhóm lao động tự do.
Điều này làm tôi nhớ đến một người phụ nữ trung niên đến nhà tôi dọn dẹp do vợ tôi đặt qua một ứng dụng công nghệ. Chị ấy mặc áo đồng phục màu cam hơi phai màu và phải chở theo một túi dụng cụ khá to và bất tiện trên xe máy.
Tương tự chị tài xế công nghệ, họ đều đang bán sức lao động để mưu sinh. Khi bị đẩy ra khỏi thị trường lao động chính thức, họ trở thành lao động tự do với muôn vàn bấp bênh: không có hợp đồng lao động, không được hưởng các chế độ an sinh xã hội, trong khi rủi ro tai nạn và bệnh lý nghề nghiệp rất cao.
Tôi tự hỏi rằng những công việc này có thật sự linh hoạt và tự do, hay chỉ là những người phụ nữ này buộc phải chấp nhận do không còn lựa chọn nào khác? Đến khi nào những người phụ nữ này mới có thể thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự bấp bênh dưới danh nghĩa "tự do"?