Ngày 6.4, Văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng cho biết Chủ tịch UBND thành phố, ông Nguyễn Đức Ấn, đã có văn bản chỉ đạo yêu cầu các sở, ngành và địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát an toàn thực phẩm tại các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các bếp ăn tập thể, bán trú.
Theo đó, các trường học phải rà soát toàn diện các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, từ khâu lựa chọn nguồn cung, quy trình chế biến đến việc lưu mẫu thức ăn.
Thành phố yêu cầu kiểm soát chặt chẽ, kiên quyết không để thực phẩm không rõ nguồn gốc, không bảo đảm chất lượng được đưa vào sử dụng trong trường học.
Đáng chú ý, lãnh đạo thành phố nhấn mạnh việc quán triệt trách nhiệm của người đứng đầu. Hiệu trưởng và chủ cơ sở giáo dục phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện trước cơ quan quản lý nhà nước và trước pháp luật nếu để xảy ra ngộ độc thực phẩm hoặc vi phạm quy định về an toàn thực phẩm tại đơn vị mình.
Sở GD-ĐT thành phố được giao chủ trì, phối hợp với ngành y tế và các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm. Đồng thời, tăng cường kiểm tra đột xuất đối với các đơn vị cung cấp suất ăn, thực phẩm cho trường học nhằm kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm.
Ngành y tế được yêu cầu đẩy mạnh kiểm tra liên ngành, thực hiện truy xuất nguồn gốc thực phẩm và hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa ngộ độc trong môi trường học đường.
Trong khi đó, UBND các xã, phường phải siết chặt quản lý nguồn cung thực phẩm trên địa bàn, tăng cường giám sát, tiếp nhận và xử lý kịp thời các phản ánh của người dân, phụ huynh liên quan đến bếp ăn trường học.
UBND thành phố Đà Nẵng đề nghị cấp xã, phường sẽ chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND thành phố nếu để xảy ra vi phạm do buông lỏng quản lý hoặc thiếu kiểm tra, giám sát về an toàn thực phẩm.

Theo nghiên cứu về tác động kinh tế - xã hội của làn sóng du học sinh quốc tế tại Hàn Quốc, do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Di cư công bố, khoảng 71,1% du học sinh quốc tế làm thêm đang làm việc trong lĩnh vực ăn uống và lưu trú.
Tại một số địa phương như Gwangju, Incheon, Busan và các tỉnh Chungcheongnam, Gyeonggi, tỷ lệ du học sinh làm việc trong ngành nhà hàng - khách sạn vượt 80%. Nghiên cứu cho thấy chỉ 2,4% du học sinh lựa chọn công việc dựa trên mức độ liên quan đến ngành học hoặc định hướng nghề nghiệp tương lai.
Trong khi đó, yếu tố được ưu tiên nhiều nhất là thời gian làm việc phù hợp với lịch học, chiếm 54,4%. Mức lương là yếu tố quan trọng thứ hai với 24,8%.
Theo nghiên cứu, điều này cho thấy công việc làm thêm hiện chưa đóng vai trò như bước đệm giúp du học sinh tích lũy kinh nghiệm cho nghề nghiệp tương lai.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy 41,9% du học sinh làm thêm mà không khai báo chính thức với cơ quan chức năng, mà chủ yếu thông qua các "thỏa thuận miệng" với chủ sử dụng lao động.
Nghiên cứu nhận định tình trạng lao động phi chính thức, hay “lao động chui”, đang diễn ra phổ biến. Một trong những nguyên nhân chính được cho là xuất phát từ quy định tài chính hiện hành.
Theo quy định tại Hàn Quốc, du học sinh sẽ mất ưu đãi giảm 50% phí bảo hiểm y tế quốc gia nếu thu nhập hàng năm vượt 3,6 triệu won (hơn 63 triệu đồng). Để tránh vượt ngưỡng này, nhiều sinh viên và chủ sử dụng lao động lựa chọn hình thức trả lương ngoài sổ sách, trả lương bằng tiền mặt.
Nghiên cứu cho biết điều này khiến nhiều du học sinh ngần ngại báo cáo các vi phạm lao động như bị nợ lương hoặc bị đối xử bất công.
Báo cáo cũng nhận định du học sinh quốc tế đang được xem là nguồn lao động có chi phí thấp, ít phản kháng ngay cả khi chỉ nhận mức lương tối thiểu. Công việc làm thêm của họ không còn mang tính tạm thời mà đã trở thành một phần cấu trúc của ngành dịch vụ trong nước.
Các du học sinh được khảo sát cho biết rào cản ngôn ngữ, sự phân biệt đối xử và tính chất nặng nhọc của công việc tay chân là những khó khăn lớn khi làm thêm. Họ tìm việc chủ yếu dựa vào các mối quan hệ cá nhân, nền tảng trực tuyến và cộng đồng du học sinh quốc tế.
Để giải quyết tình trạng này, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống quản lý chính thức đối với việc làm thêm của du học sinh nhằm đưa hoạt động này vào khuôn khổ pháp lý.
Nghiên cứu cũng đề xuất cải cách quy định, bao gồm áp dụng chế độ khai báo hằng năm đối với các sinh viên đủ điều kiện như đạt TOPIK cấp 4 trở lên hoặc có thành tích học tập tốt, đồng thời điều chỉnh ngưỡng bảo hiểm y tế và gỡ bỏ quy định hạn chế khoảng cách nơi làm việc.
Tin Gốc: Dân Trí
Giáo Dục
Cuộc thi “50 năm Thành phố trong tôi 1976-2026" tiếp tục nhận bài đến 15/6

Lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng
Theo Ban Tổ chức, sau lễ phát động, dù đang kỳ nghỉ hè vẫn có rất nhiều bài viết được gửi về, cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ cũng như sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng đối với cuộc thi tìm hiểu kiến thức và chia sẻ về dấu mốc 50 năm Quốc hội khóa VI ban hành Nghị quyết đổi tên Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiều tác phẩm được gửi tới chỉ sau vài giờ lễ phát động, với đa dạng hình thức thể hiện như bài viết, ảnh, video, infographic. Không chỉ là những bài dự thi mang tính ghi nhận, nhiều tác phẩm còn chứa đựng góc nhìn cá nhân giàu cảm xúc và sự sáng tạo của người tham gia.
Đáng chú ý, nhiều bài dự thi đến từ học sinh tiểu học, THCS, gây ấn tượng bằng những câu chuyện dung dị nhưng giàu cảm xúc về trường, lớp, thầy cô, những góc phố thân quen, dòng sông Sài Gòn, mái trường, ký ức gia đình hay những câu chuyện được kể lại từ cha mẹ, ông bà về thành phố trong những ngày đầu sau khi đất nước thống nhất.
Thống kê sơ bộ cho thấy bảng E (dành cho giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục và thí sinh tự do) hiện đang có số lượng bài dự thi cao nhất với 1.407 tác phẩm, chiếm khoảng 35,2% tổng số bài dự thi.
Xếp ngay sau là bảng B (dành cho học sinh THCS) với 34,5%, tương ứng 1.378 bài. Bảng C (dành cho học sinh và học viên THPT) ghi nhận 962 bài, chiếm khoảng 24,1%.
Trong khi đó, bảng A (dành cho học sinh tiểu học) có 174 bài, chiếm khoảng 4,4%, còn bảng D (dành cho học viên, sinh viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đại học) hiện ghi nhận 75 bài, tương ứng 1,9%.
Các bài dự thi đang được Ban Tổ chức chấm sơ khảo liên tục và cập nhật trên trang cuộc thi TẠI ĐÂY để độc giả theo dõi, đọc và lan tỏa những câu chuyện về Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiếp nhận bài dự thi đến hết ngày 15/6
Cuộc thi “50 năm Thành phố trong tôi 1976-2026” được Báo Dân trí phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM tổ chức, hướng tới kỷ niệm 50 năm Quốc hội khóa VI ban hành Nghị quyết đổi tên Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026).
Cuộc thi dành cho học sinh, học viên, sinh viên, giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục cùng những cá nhân yêu mến TPHCM.
Người tham gia có thể dự thi bằng nhiều hình thức như bài viết, ảnh, infographic hoặc video với chủ đề xoay quanh lịch sử, con người, văn hóa, sự đổi thay và khát vọng phát triển của thành phố sau nửa thế kỷ mang tên Bác.
Theo kế hoạch, Ban Tổ chức tiếp nhận bài dự thi đến hết ngày 15/6. Lễ tổng kết và trao giải dự kiến diễn ra vào đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày Quốc hội đổi tên Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi dự kiến lên tới 572 triệu đồng với 105 giải cá nhân, nhóm và 10 giải tập thể.
Độc giả, học sinh, sinh viên, giáo viên và những người yêu mến Thành phố Hồ Chí Minh có thể tham gia cuộc thi và gửi bài dự thi tại website: https://cuocthi50namtphcm.dantri.com.vn/
Tin Gốc: Dân Trí

Đầu tư mạnh mẽ, có trọng điểm vào giáo dục và đổi mới sáng tạo là trụ cột trung tâm của mọi chính sách cơ cấu nhất quán nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Việc nâng cao kỹ năng kỹ thuật của lực lượng lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp và công nghệ có giá trị gia tăng cao, là điều thiết yếu để hỗ trợ hiện đại hóa sản xuất và tiếp nhận các công nghệ tiên tiến. Đầu tư như vậy có ý nghĩa quyết định để giúp VN giảm phụ thuộc quá mức vào vốn và công nghệ nước ngoài, thoát bẫy thu nhập trung bình và chuyển từ nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào sang nền kinh tế dựa trên tri thức.
Hệ thống đại học (ĐH) VN có 237 trường vào năm 2026, trong đó có 3 trường nằm trong top 200 ĐH châu Á theo bảng xếp hạng QS Asia University Rankings 2026, và chưa có trường nào nằm trong top 500 ĐH hàng đầu thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín (QS World University Rankings, Times Higher Education). Điều này làm hạn chế đáng kể sức hấp dẫn của VN đối với chuyên gia quốc tế và các trung tâm nghiên cứu, phát triển của các tập đoàn đa quốc gia.
Trước thực trạng nói trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã công bố dự án chiến lược nhằm xây dựng 5 - 6 ĐH xuất sắc trong giai đoạn 2030 - 2045, với mục tiêu hội nhập vào các bảng xếp hạng quốc tế từ năm 2030.
Quan sát từ những thành công ấn tượng nhất tại châu Á, có thể nói đây là quyết định mang tính chiến lược cao cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của VN. Singapore đã đầu tư mạnh mẽ vào 2 ĐH mũi nhọn NUS và NTU từ những năm 1990. Trong bảng xếp hạng QS World University Rankings, NUS hiện đứng thứ 8 thế giới, còn NTU đứng thứ 15, đưa Singapore trở thành một trong những trung tâm ĐH và công nghệ hàng đầu toàn cầu. Hàn Quốc có lộ trình tương tự với ĐH Quốc gia Seoul (khoảng thứ 30 thế giới theo QS) và KAIST (khoảng thứ 50). Gần đây hơn, Trung Quốc đã đưa ĐH Bắc Kinh (khoảng thứ 14 thế giới) và ĐH Thanh Hoa (khoảng thứ 17) vào top 20 thế giới, trong khi giữa thập niên 1990 họ còn ở vị trí rất xa. Những thành công này không phải ngẫu nhiên mà dựa trên 3 trụ cột: đầu tư công và tư quy mô lớn, bền bỉ theo thời gian; cơ chế quản trị trao quyền tự chủ rộng rãi về học thuật và quản lý cho các trường ĐH; chiến lược chủ động thu hút nhân tài quốc tế.
Việc xây dựng các ĐH xuất sắc sẽ góp phần phục vụ những mục tiêu kinh tế cụ thể. Thứ nhất, giữ chân nhân tài. Khi những sinh viên giỏi nhất vẫn phải ra nước ngoài để tiếp cận đào tạo chất lượng cao, đất nước sẽ tiếp tục bị chảy máu chất xám. ĐH đạt chuẩn quốc tế sẽ giúp đào tạo tinh hoa ngay trong nước và thu hút chuyên gia VN từ nước ngoài trở về.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu lao động trình độ cao. Quá trình nâng cấp công nghiệp của VN (từ bán dẫn đến trí tuệ nhân tạo, từ điện hạt nhân đến năng lượng tái tạo) đòi hỏi đội ngũ kỹ sư và chuyên gia trình độ cao.
Kế đến là phát triển năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh. VN hiện chỉ dành khoảng 0,5% GDP cho R&D (nghiên cứu và phát triển), so với gần 2,5% của Trung Quốc và gần 5% của Hàn Quốc. Điều này dẫn đến số lượng bằng sáng chế còn hạn chế và sự phụ thuộc công nghệ kéo dài.
Ngoài ra, còn nhằm thu hút FDI chất lượng cao. Samsung, Intel hay Apple chọn VN trước hết vì chi phí lao động thấp. Để thu hút các trung tâm R&D của họ, cần có nguồn nhân lực trình độ cao. ĐH xuất sắc là yếu tố quyết định trong lựa chọn địa điểm đầu tư FDI chất lượng.
Việc tích hợp các trường kỹ sư chất lượng cao vào các ĐH xuất sắc là một trong những giải pháp mang tính then chốt nhằm hỗ trợ chiến lược xây dựng các ĐH có danh tiếng toàn cầu. Hiện nay, hệ thống giáo dục VN vẫn duy trì sự tách biệt tương đối giữa các trường ĐH và các cơ sở đào tạo chuyên ngành, điều này dẫn đến phân tán nguồn lực và hạn chế khả năng tạo ra các hiệu ứng cộng hưởng.
Việc tích hợp, tương tự mô hình của MIT tại Mỹ hay các trường lớn Grandes Écoles tại Pháp sẽ cho phép tối ưu hóa việc sử dụng cơ sở hạ tầng có chi phí cao, như phòng thí nghiệm và trang thiết bị khoa học, đồng thời thúc đẩy tính liên ngành, một trong những yếu tố thiết yếu cho sự phát triển của các công nghệ mới nổi. Bên cạnh đó, cách tiếp cận này còn tạo điều kiện tập trung nguồn lực học thuật, chia sẻ và kết hợp chuyên môn, năng lực để xây dựng các trung tâm xuất sắc về khoa học và công nghệ có tầm vóc, uy tín.
Việc xây dựng các ĐH nghiên cứu xuất sắc vẫn chưa đủ, điều quan trọng là phải phát triển hệ sinh thái nghiên cứu toàn diện, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nền kinh tế. Có thể kể ra các mô hình như dưới đây.
Các trung tâm nghiên cứu xuất sắc: Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) là ví dụ tốt; FTU Research Lab của Trường ĐH Ngoại thương mới khánh thành, nếu thành công, cũng là mô hình nên nhân rộng. Mỗi trung tâm nghiên cứu trong các trường ĐH cần được bảo đảm điều kiện làm việc đạt chuẩn quốc tế, đi kèm với nguồn tài chính ổn định nhằm duy trì tính liên tục và nâng cao chất lượng các chương trình nghiên cứu.
Cơ chế hợp tác đào tạo - nghiên cứu theo mô hình CIFRE (hợp đồng đào tạo nghiên cứu trong doanh nghiệp) của Pháp là ví dụ tiêu biểu về sự hợp tác hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp. VN hoàn toàn có thể điều chỉnh và áp dụng mô hình này phù hợp với bối cảnh trong nước, đặc biệt trong các ngành trọng điểm được ưu tiên đầu tư quy mô lớn, cũng như những lĩnh vực có sự hiện diện mạnh của các tập đoàn đa quốc gia như điện tử và bán dẫn.
Các trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ: Kinh nghiệm từ Thung lũng Silicon (Mỹ) hay khu khoa học Hsinchu (Đài Loan) cho thấy tầm quan trọng của việc tập trung không gian địa lý giữa các trường ĐH, trung tâm nghiên cứu, phát triển R&D, và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. VN đã bước đầu triển khai định hướng này thông qua các khu công nghệ cao như Khu Công nghệ cao TP.HCM và Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Tuy nhiên, cần tiếp tục củng cố và tăng cường sự liên kết giữa các khu này với các ĐH nghiên cứu, nhằm hình thành những hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả và bền vững.
Nếu hội đủ các điều kiện như đầu tư đúng trọng tâm và kéo dài, chính sách lương cạnh tranh, hội nhập quốc tế, VN có thể kỳ vọng có 1 - 2 ĐH trong top 300 thế giới vào giai đoạn 2045 - 2050.
Quỹ đạo phát triển này sẽ tương đương với Trung Quốc hoặc Singapore, sẽ giúp chuyển đổi sâu sắc nền kinh tế VN bằng cách thúc đẩy sự nâng cấp công nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào công nghệ và tạo ra giá trị cao hơn nhiều trên mỗi lao động.
Trong một thế giới mà cạnh tranh kinh tế diễn ra trên lĩnh vực đổi mới và tri thức, việc sở hữu các trường ĐH đẳng cấp thế giới không còn là một sự xa xỉ mà là một điều kiện tiên quyết để tiến tới nhóm các quốc gia có thu nhập cao.
Song song, việc phát triển các năng lực công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế số đóng vai trò như một động lực chiến lược. Những sự đầu tư này tác động trực tiếp đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), giúp nâng cao hiệu quả sản xuất vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần tích lũy vốn và lao động. Bằng cách thúc đẩy cải thiện TFP, VN có thể nâng tầm quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, củng cố năng lực tự chủ công nghệ và đổi mới sáng tạo nội sinh. Đây chính là nền tảng then chốt giúp VN chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng và phát huy tối đa các lợi thế của mình.
Tin Gốc: Thanh Niên

