Thông tin trên được ông Nguyễn Ngọc Sơn, đại biểu chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nêu tại phiên thảo luận tổ, chiều 9/4.
Ông Sơn cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Chính phủ cần giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có đảm bảo năng lượng. “Năng lượng phải luôn đồng hành với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nếu chúng ta tăng trưởng hai con số mà thiếu điện cục bộ, thì mục tiêu tăng trưởng về công nghiệp, dịch vụ, logistics, dữ liệu, AI… đều bị ảnh hưởng theo dây chuyền”, đại biểu chia sẻ.
Bởi vậy, theo ông, Chính phủ cần coi đảm bảo điện cho sản xuất là mục tiêu số một của điều hành tăng trưởng, cũng như thay đổi tư duy từ ngành điện tự cân đối sang an ninh năng lượng là hạ tầng của tăng trưởng.
Đại biểu đoàn TP Hải Phòng góp ý thêm rằng “tiết kiệm điện là nguồn điện rẻ và nhanh nhất”. Ông cho rằng Bộ Công Thương cần có giải pháp mạnh mẽ để tiết kiệm tối thiểu 10% trong các tháng cao điểm nắng nóng và coi đây là giải pháp trực tiếp giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới.
Ngoài ra, ông Sơn cũng nói cần bám sát Quy hoạch điện 8, phát triển hệ thống pin lưu trữ quy mô lớn (dự kiến 10.000-16.300 MW đến năm 2030) và các nguồn điện khí LNG (22.524 MW) để đỡ phụ tải nền. Điện mặt trời với cơ chế tự sản, tự tiêu tại hộ gia đình, công sở, khu công nghiệp cũng cần được đẩy mạnh. Cuối cùng, đại biểu này khuyến nghị giảm sự phụ thuộc quá mức vào nhiên liệu nhập khẩu và xây dựng dự trữ chiến lược.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phạm Thị Thúy Chinh đề nghị Thủ tướng tiếp tục quan tâm đến dự trữ quốc gia. Với xăng dầu – nhiên liệu đầu vào quan trọng cho loạt lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, bà cho biết hiện chưa có kho dự trữ quốc gia, chủ yếu sử dụng kho của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện cũng chỉ dự trữ xăng dầu thành phẩm, chưa tích trữ dầu thô.
Bởi vậy, đại biểu này nói cần tăng chi đầu tư cho dự trữ xăng dầu, bởi lĩnh vực này mới chiếm 21% trong tổng chi cho dự trữ. Đồng thời, bà cũng đề xuất hiện đại hóa công nghệ, hệ thống kho bảo quản cho cả các lĩnh vực khác.
Trong báo cáo trình Quốc hội, Chính phủ đặt mục tiêu hình thành hệ thống kho dự trữ dầu thô quy mô lớn, nhằm đa dạng và duy trì nguồn cung ổn định ít nhất 90 ngày.
Hiện tại, hàng dự trữ xăng dầu đang được tồn trữ tại kho của doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu lớn thông qua hợp đồng, trả phí theo định mức với các đơn vị. Mức dự trữ này chỉ khoảng 7-10 ngày tiêu thụ.
Phát biểu tại hội trường chiều 9/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định, Việt Nam sẽ đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là nguồn cung dầu thô, khí đốt. Ông cũng yêu cầu tăng tiết kiệm năng lượng, bảo đảm không để thiếu điện trong bất cứ tình huống nào và nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn đảm bảo đủ nguyên liệu để sản xuất đến hết tháng 4.
Trong tháng 3, các thương nhân đầu mối cũng nhập khẩu 3,2 triệu m3 xăng dầu. Cùng với hàng tồn kho hiện tại (2,6-2,8 triệu m3), nguồn cung xăng dầu trong nước có thể đảm bảo cho sản xuất và tiêu dùng hết tháng này, theo Thứ trưởng.
Xung đột Trung Đông tiếp tục leo thang từ cuối tháng 2 gây hệ lụy lớn đến nguồn cung xăng dầu, khí toàn cầu. Quy mô và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này vượt cú sốc dầu mỏ của thập niên 1970 - từng làm đảo lộn nền kinh tế, thị trường năng lượng.
Diễn biến này kéo theo thị trường năng lượng trong nước biến động mạnh. Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước có 13 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 26.970 đồng, dầu diesel 44.780 đồng một lít.
Trước diễn biến này, từ đầu tháng 3, Việt Nam đã xây dựng kịch bản để điều hành xăng dầu. Theo Thứ trưởng, nhà điều hành tính tới kịch bản khủng hoảng diễn ra 4 tuần và dài hơn thời gian này. Bộ Công Thương đang xây dựng kịch bản cho các tháng tiếp theo.
Thứ trưởng cho biết việc điều hành cung cầu và giá xăng dầu trên nguyên tắc bảo đảm an ninh năng lượng, bám sát diễn biến giá thế giới, đánh giá tác động tới người dân và các ngành chịu ảnh hưởng. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý đưa ra các giải pháp nhằm ổn định cung cầu, giá cả và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Cùng quan điểm, tại họp Chính phủ thường kỳ cùng ngày, quyền Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng cũng khẳng định Việt Nam vẫn duy trì được "ổn định tương đối" trong khi nhiều quốc gia trong khu vực rơi vào tình trạng khủng hoảng năng lượng.
Tại Thái Lan, giá xăng đã lên tới hơn 51.000 đồng một lít, trong khi diesel khoảng 47.000 đồng một lít. Một số nước như Lào, Campuchia ghi nhận tình trạng đóng cửa nhiều cây xăng, còn Philippines tuyên bố tình trạng khó khăn. Ở các nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp thậm chí khuyến cáo người lao động làm việc từ xa để giảm nhu cầu đi lại.
"Trong bối cảnh đó, Việt Nam không chỉ bảo đảm nguồn cung mà còn duy trì mức giá thấp hơn trung bình thế giới, chỉ khoảng 1,3 USD một lít, thấp hơn cả các nước có chung đường biên giới", ông Hùng nói.
Song theo quyền Bộ trưởng, nền kinh tế vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn do còn phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu, sức cầu trong nước chưa phục hồi mạnh và những biến động khó lường từ bên ngoài. Do đó, nhà điều hành cần triển khai đồng bộ các giải pháp, từ bảo đảm năng lượng, tái cơ cấu công nghiệp đến kích cầu tiêu dùng để ổn định kinh tế vĩ mô.
Để ứng phó, Bộ Công Thương cho biết Chính phủ đã sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giảm tối đa các loại thuế (bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt) nhằm giảm áp lực tăng giá nhiên liệu. Bên cạnh đó, nhà điều hành có các giải pháp nhằm tăng năng lực sản xuất trong nước, đa dạng nguồn cung nhập khẩu, phát triển nguồn năng lượng thay thế (xăng sinh học), tăng năng lực dự trữ và quản trị rủi ro.
Báo cáo tài chính hợp nhất quý I của Tổng Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) cho thấy doanh thu thuần ba tháng đầu năm đạt 3.401 tỷ đồng, tăng 126% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 300 tỷ đồng, tăng 110%.
Động lực tăng trưởng đến từ các mảng cốt lõi. Dịch vụ khoan đóng góp 2.162 tỷ đồng, chiếm 64% tổng doanh thu và tăng 147%. Dịch vụ kỹ thuật giếng khoan mang về 1.007 tỷ đồng, tương đương 30% doanh thu, tăng 72%. Hoạt động bán hàng hóa đạt 233 tỷ đồng, tăng 447% so với cùng kỳ.
Kết quả này chủ yếu nhờ số lượng giàn khoan hoạt động gia tăng. Trong kỳ, số giàn khoan sở hữu hoạt động bình quân đạt 4,8 giàn, so với 3 giàn cùng kỳ, sau khi giàn PV Drilling VIII đi vào vận hành từ tháng 9/2025. Số giàn thuê cũng tăng lên bình quân 3,5 giàn, so với mức 1 giàn một năm trước.
Bên cạnh đó, đơn giá thuê giàn khoan tự nâng tăng khoảng 4% giúp lợi nhuận gộp đạt 638 tỷ đồng, tăng 136%.
Trước đó, PV Drilling khép lại năm 2025 với kết quả kinh doanh cao nhất trong một thập kỷ. Doanh thu hợp nhất đạt 11.553 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 1.052 tỷ đồng, vượt lần lượt 60% và 98% so với kế hoạch đề ra.
Bước sang năm 2026, cổ đông PV Drilling thông qua kế hoạch kinh doanh theo hướng thận trọng, với doanh thu hợp nhất dự kiến 11.185 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 800 tỷ đồng, giảm 23% so với năm trước. Kế hoạch này được xây dựng trước khi xung đột Trung Đông leo thang.
Doanh nghiệp cho biết kế hoạch này được xây dựng dựa trên giả định có 5 giàn khoan hoạt động xuyên suốt năm. Trong đó, giàn PV Drilling IX dự kiến vận hành từ quý II với đơn giá thuê giàn tự nâng trung bình khoảng 90.000 USD mỗi ngày. Ngoài ra, công ty duy trì một giàn khoan TAD hoạt động tại Brunei và vận hành thêm hai giàn khoan thuê.
Tại ngày 31/3, tổng tài sản doanh nghiệp đạt 29.542 tỷ đồng. PV Drilling ghi nhận tiền và các khoản tương đương tiền khoảng 1.427 tỷ đồng, đồng thời có khoảng 1.702 tỷ đồng đầu tư tài chính ngắn hạn, chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn. Tính chung, doanh nghiệp nắm khoảng 3.129 tỷ đồng tiền và tiền gửi ngắn hạn.
Vốn chủ sở hữu đạt 17.447 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là 1.558 tỷ đồng. Nợ phải trả ở mức 12.095 tỷ đồng, gồm 5.523 tỷ đồng dư nợ vay và thuê tài chính.
Doanh nghiệp cũng thông qua kế hoạch phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu từ nguồn vốn chủ sở hữu với tỷ lệ 67%, tương ứng tối đa 371,9 triệu cổ phiếu, nhằm tăng vốn điều lệ.
Đăng ký bảo hộ thương hiệu ở Ý: một tháng có chứng chỉ, Nhà nước hoàn lại gần như toàn bộ phí. Ở Việt Nam: đóng tiền trước, chờ đến một năm, kết quả vẫn là ẩn số. Khoảng cách đó không chỉ là thủ tục - đó là khoảng cách tư duy mà doanh nghiệp Việt cần đối mặt thực sự.
Thương hiệu là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp, nhưng cũng là thứ dễ mất nhất nếu thiếu "tấm khiên" pháp lý. Nghịch lý là nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chi hàng trăm triệu cho marketing, nhưng lại ngần ngại hoặc chưa biết cách bảo vệ chính cái tên mình đang quảng bá.
Bài viết dưới đây là góc nhìn từ thực chiến của một doanh nhân với 21 năm kinh nghiệm quản trị tại các tập đoàn lớn ở Mỹ, Úc, Nhật và gần 8 năm điều hành doanh nghiệp tại cả Ý lẫn Việt Nam - người đã trực tiếp đăng ký bảo hộ hơn 10 thương hiệu ở hai thị trường này.
Tại Ý và khối EU, quy trình bảo hộ thương hiệu được tối ưu hóa để triệt tiêu rủi ro ngay từ bước phác thảo. Ngay trong giai đoạn thiết kế bộ nhận diện, các đơn vị sáng tạo đã có thể truy cập hệ thống dữ liệu mở để kiểm tra khả năng trùng lặp - giúp doanh nghiệp tránh đầu tư hàng trăm triệu vào marketing cho một cái tên hay logo không thể bảo hộ.
Sau khi nộp hồ sơ, chỉ khoảng một tháng là doanh nghiệp nhận được chứng chỉ kèm mã QR bảo hộ. Điểm đặc biệt: chứng chỉ được cấp trước, doanh nghiệp mới thanh toán phí sau - hoàn toàn đảo ngược so với cách tiếp cận thông thường. Minh bạch đến vậy, doanh nghiệp đủ tự tin tung sản phẩm ra thị trường mà không lo tranh chấp.
Thêm vào đó, trong 2 - 3 năm gần đây, Chính phủ Ý gần như hoàn lại 100% phí bảo hộ cho thương hiệu mới. Đây là thông điệp rõ ràng: Nhà nước đồng hành cùng giá trị trí tuệ của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, bức tranh khác hẳn. Doanh nghiệp phải đóng toàn bộ phí ngay từ đầu, khoảng 4 - 10 triệu đồng tùy số nhóm ngành, rồi bước vào giai đoạn chờ đợi kéo dài từ bốn tháng đến hơn một năm mà không biết kết quả. Rủi ro lớn nhất không chỉ là tiền, mà là chi phí cơ hội và sự mông lung trong suốt thời gian thẩm định.
Để rút ngắn khoảng cách, các nhà hoạch định chính sách cần những bước đi quyết liệt hơn. Trước hết là mở kho dữ liệu trực tuyến đồng bộ, cập nhật thời gian thực và công khai hoàn toàn. Khi dữ liệu minh bạch, các đơn vị thiết kế và doanh nghiệp có thể chủ động rà soát, giảm tải hồ sơ lỗi cho cơ quan quản lý.
Song song đó, cần lộ trình ưu tiên theo giai đoạn: giai đoạn đầu tập trung vào các ngành thế mạnh xuất khẩu như nông sản, thực phẩm, công nghệ; giai đoạn tiếp theo áp dụng cơ chế cấp chứng chỉ tạm thời bằng mã QR trong 1 - 3 tháng đầu để doanh nghiệp kịp thời triển khai kinh doanh; cuối cùng là xây dựng quỹ hoàn phí hoặc hỗ trợ tài chính cho các start-up xây dựng thương hiệu bài bản.
Nhưng trong khi chờ chính sách thay đổi, doanh nghiệp cũng cần tự thay đổi tư duy trước. Đừng vì quy trình chậm mà chọn cách buôn nhanh bán nhanh - vượt qua tư duy "ăn xổi" chính là điểm phân biệt giữa doanh nghiệp tồn tại và doanh nghiệp trường tồn.
Hãy dùng thời gian chờ đợi pháp lý để mài giũa sản phẩm, hoàn thiện quy trình. Một thương hiệu mạnh không nằm ở tờ giấy chứng nhận, mà nằm ở chất lượng sản phẩm và niềm tin khách hàng.
Nhìn cách các doanh nghiệp châu Âu bền bỉ xây dựng di sản hàng trăm năm, ta thấy họ luôn bắt đầu từ những bước đi pháp lý chặt chẽ nhất. Để thoát khỏi cái mác "gia công", doanh nghiệp Việt phải lấy đầu tư vào sản xuất và bảo hộ trí tuệ làm kim chỉ nam.
Chính sách có thể còn độ trễ, nhưng tư duy của người dẫn đầu không thể chậm trễ. Sự chuyên nghiệp trong cách ta bảo vệ thương hiệu chính là thước đo cho tầm vóc của doanh nghiệp trong tương lai.