Sáng 24/4, với hơn 93% đại biểu tán thành, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế: thu nhập cá nhân (TNCN), giá trị gia tăng (VAT), thu nhập doanh nghiệp và tiêu thụ đặc biệt.
Theo đó, thay vì “chốt cứng” ngưỡng doanh thu phải nộp thuế TNCN, VAT với cá nhân, hộ kinh doanh từ 500 triệu đồng một năm như trước, Quốc hội giao Chính phủ quyền điều chỉnh ngưỡng này.
Mức doanh thu chịu thuế thu nhập doanh nghiệp cũng do Chính phủ quy định, không cố định tại luật. Các quy định này có hiệu lực từ 1/1/2026.
Tại báo cáo tiếp thu, giải trình Chính phủ cho biết dự kiến nâng mức doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 1 tỷ đồng. Ngưỡng miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ cũng tương tự.
Chính phủ cho rằng ngưỡng 1 tỷ đồng “phù hợp thời điểm hiện nay, được cân nhắc và tính toán toán kỹ tác động tới thu ngân sách, người nộp thuế”.
Nhà điều hành kỳ vọng mức này khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp. Đây hiện cũng là mức quy định hộ, cá nhân kinh doanh phải sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền kết nối với cơ quan thuế. Do đó, theo Chính phủ, đề xuất nâng ngưỡng miễn thuế như trên đồng nhất với quy định về sử dụng hóa đơn.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, việc tăng gấp đôi mức miễn thuế dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 7.000 tỷ đồng. Trong đó, giảm thu từ hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ lần lượt khoảng 4.850 tỷ và 2.200 tỷ đồng.
Trước đó, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị cân nhắc “quy định khoảng hoặc mức về doanh thu” để Chính phủ chủ động điều chỉnh trong trường hợp khẩn cấp vì lợi ích quốc gia.
Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết mức trần ngưỡng doanh thu miễn thuế Chính phủ được phép điều chỉnh là dưới 3 tỷ đồng một năm.
Bởi theo Luật Thuế TNCN, hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 3 tỷ đồng một năm sẽ phải nộp thuế theo thu nhập (doanh thu trừ chi phí). Còn theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, với doanh thu trên 3 tỷ đồng một năm, họ phải nộp thuế 15-17%. Điều này đồng nghĩa, trường hợp nâng doanh thu miễn thuế lên hơn 3 tỷ đồng, cơ quan điều hành sẽ phải sửa các luật thuế liên quan.
Theo số liệu của cơ quan thuế, cả nước có khoảng 2,56 triệu hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 1 tỷ đồng. Khoảng 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó đơn vị nhỏ và siêu nhỏ chiếm gần 94%.
Bộ Tài chính cho biết giai đoạn 2022-2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, đóng góp khoảng 2% tổng thu ngân sách. Riêng 2025, số thu thuế từ khu vực này đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ.
Mỹ - Iran vừa thông báo đạt thỏa thuận chấm dứt hơn ba tháng giao tranh. Tuy nhiên, giới phân tích nhận định giá xăng dầu và các vấn đề về nguồn cung năng lượng sẽ không được giải quyết ngay lập tức. Nguyên nhân là doanh nghiệp cần thời gian để yên tâm rằng việc đi lại qua eo biển Hormuz - tuyến hàng hải lưu thông khoảng 20% nguồn cung dầu khí toàn cầu - đã thực sự an toàn. Chưa kể, quá trình vận chuyển, lọc dầu vốn diễn ra chậm chạp. Do đó, có thể phải mất nhiều tháng để dòng chảy năng lượng phục hồi.
"Cần thời gian để mọi người an tâm, khôi phục hoạt động bảo hiểm, đưa nhân lực trở lại hiện trường để tái vận hành cơ sở hạ tầng", ông Daniel Evans, Giám đốc nghiên cứu nhiên liệu và lọc dầu tại S&P Global Energy, nhận định.
Ông cũng lưu ý rằng tàu dầu di chuyển khá chậm. Có thể mất nhiều tháng để vận chuyển dầu từ Hormuz đến các thị trường xa, đưa chúng vào nhà máy lọc, rồi phân phối cho người tiêu dùng cuối.
Ngoài ra, một số nhà sản xuất dầu ở Trung Đông đã phải tạm dừng khai thác do hết công suất lưu trữ. Việc khởi động lại cũng mất thời gian. Ông Daniel Sternoff, chuyên gia cấp cao tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu thuộc Đại học Columbia, cho rằng các quốc gia đã dừng khai thác dầu sẽ không muốn khôi phục sản xuất, cho tới khi chắc chắn rằng tình hình lưu thông qua eo biển Hormuz đã ổn định và lệnh ngừng bắn có thể duy trì lâu hơn 30 hoặc 60 ngày.
"Chúng ta vẫn chưa biết chính xác việc 'mở cửa' có nghĩa là gì, cũng như tốc độ giải phóng lượng hàng hóa đang mắc kẹt sẽ diễn ra như thế nào", ông nói.
Theo ước tính của ông Tamas Varga, nhà phân tích tại PVM Oil Associates, khôi phục hoàn toàn lưu thông qua Hormuz mất vài tuần đến vài tháng. "Việc nối lại chậm chạp có thể dẫn đến thiếu hụt nguồn cung trong suốt năm 2026", ông nói.
Sau khi thỏa thuận Mỹ - Iran được công bố, giá dầu giảm hơn 4 USD mỗi thùng trong phiên thứ hai (15/6). Dầu Brent và WTI giao dịch quanh mốc 82,63 USD và 80 USD mỗi thùng. Nhưng giá vẫn cao hơn đáng kể so với trước chiến sự, từng chỉ khoảng 70 USD mỗi thùng.
"Các nhà đầu tư tài chính chỉ đơn thuần là đang vay mượn nguồn cung dầu trong tương lai nên giá dầu mới đang giảm", ông Tamas Varga giải thích.
Theo ông Evans, khi giá dần hạ nhiệt, các tàu chở dầu bị mắc kẹt sẽ phải lần lượt rời eo biển Hormuz, trước khi những tàu mới có thể đi vào để nhận hàng. "Để đưa một con tàu mới, bạn phải đảm bảo có khoảng thời gian đủ dài để tàu cập cảng an toàn, bốc hàng rồi rời đi", ông nói.
Ông Alan Gelder, Phó chủ tịch cấp cao mảng lọc hóa dầu và thị trường dầu mỏ tại công ty tư vấn Wood Mackenzie, cho rằng Arab Saudi và UAE có thể khôi phục sản lượng nhanh nhất, nhờ có các đường ống và tuyến xuất khẩu thay thế eo biển Hormuz.
"Nhưng những nơi như Iraq sẽ gặp nhiều khó khăn hơn vì đã cắt giảm sản lượng lớn, trong khi các mỏ dầu phức tạp hơn. Có thể mất khoảng một năm để họ quay trở lại mức bình thường", ông nhận định.
Ngoài ra, các khoản đầu tư vào hệ thống năng lượng gần như bị đình trệ kể từ khi Hormuz bị phong tỏa. Do đó, dòng vốn này cũng cần thời gian để tái khởi động, theo ông Gelder.
Nhà đầu tư cũng đang thận trọng theo dõi lưu lượng tàu tiến vào eo biển Hormuz, cũng như tốc độ khôi phục sản xuất và xuất khẩu của các nhà sản xuất dầu Trung Đông, sau những thiệt hại do xung đột.
"Những tổn thất đã xảy ra không thể được đảo ngược chỉ sau một đêm. Điều này không chỉ bao gồm thiệt hại vật chất với cơ sở hạ tầng dầu khí, mà còn là những áp lực kinh tế mà các quốc gia nhập khẩu dầu phải gánh chịu sau nhiều tháng đối mặt với chi phí năng lượng ở mức cao", bà Priyanka Sachdeva, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại Phillip Nova, bình luận.
Tại cuộc họp về hướng sửa đổi Luật Đất đai ngày 26/5, Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho rằng luật này liên quan trực tiếp tới kinh tế, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và là nguồn lực quan trọng với phát triển đất nước.
Theo Phó thủ tướng, việc sửa Luật Đất đai lần này phải hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giải quyết vướng mắc thực tế. Ồng yêu cầu phải đơn giản hóa thủ tục hành chính, không làm phát sinh thêm khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Thời gian giải quyết thủ tục về đất đai cần được rút ngắn theo hướng nhanh, gọn và hiệu quả hơn.
Cùng với đó, các chính sách về tài chính đất đai, quy hoạch và sử dụng đất cần được tối ưu để phục vụ phát triển. Việc này nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai - tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Về quy trình, Phó thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện dự thảo luật, nghị định và thông tư hướng dẫn để có thể triển khai ngay khi luật có hiệu lực.
Luật Đất đai 2024 có hiệu lực từ ngày 1/8/2024, song sau gần 2 năm triển khai đã phát sinh nhiều bất cập cần điều chỉnh. Một trong số đó là từ ngày 1/7/2025, cả nước thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm cấp tỉnh và xã/phường, trong khi Luật Đất đai hiện hành vẫn quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo 3 cấp quốc gia, tỉnh và huyện.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mô hình quy hoạch 3 cấp này không còn phù hợp, gây chồng chéo và thiếu đồng bộ với các lĩnh vực khác sau khi bỏ cấp huyện.
Theo dự thảo Luật Đất đai sửa đổi đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến, dự kiến 65 điều của luật năm 2024 sẽ được điều chỉnh. Trong đó, Bộ đề xuất cấp sổ đỏ cho đất mua bán bằng giấy viết tay giai đoạn 2014-2024, siết giao dịch đất trong thời gian chờ thu hồi và tăng phân cấp, phân quyền để phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết thời gian tới, cơ quan này sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội hồ sơ đề nghị bổ sung dự án Luật Đất đai (sửa đổi) vào chương trình lập pháp năm 2026.
Ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nêu khó khăn giảm phát thải của ngành này tại hội thảo về vật liệu xây dựng xanh do Bộ Xây dựng tổ chức chiều 5/5.
Theo ông Long, sản xuất xi măng không thể tiến tới lộ trình phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, bởi vướng giới hạn về kỹ thuật.
Xi măng gồm clinker, thạch cao và phụ gia như tro bay, xỉ lò cao... Trong đó, clinker chiếm tới 75-85%. Nguyên liệu này được tạo ra từ quá trình nung hỗn hợp đá vôi và đất sét ở nhiệt độ 1.450-1.500 độ C. "Sản xuất một tấn clinker thải tới 525 kg CO2. Không thể giảm thêm được", ông Long nói.
Xi măng, nhiệt điện và sắt thép được Thủ tướng thí điểm phân bổ hạn ngạch khí thải đầu năm nay, với tổng mức 243 triệu tấn CO2 cho 110 doanh nghiệp trong năm 2025. Trong đó, xi măng gồm 51 doanh nghiệp, ông Long cho biết ngành được giao gần 70 triệu tấn CO2. Quá trình phân bổ thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, song song hình thành thị trường carbon trong nước. Tức là, họ chỉ còn ba năm trước khi chính thức bị siết hạn ngạch.
Trong khi ngành này khó giảm khí thải trong sản xuất clinker, phương án thu giữ carbon (CCS) không khả thi về mặt tài chính. Một tấn CO2 chôn lấp được báo giá 132 USD, cao gần gấp bốn lần giá xuất khẩu một tấn clinker thành phẩm. "Nếu mất số tiền trên để chôn lấp khí thải, chắc chắn ngành xi măng phải đóng cửa", ông Long nhấn mạnh.
Tuy nhiên, ngành này đang giảm được nhiên liệu hóa thạch trong hoạt động nung clinker, thay bằng rác thải. Đến nay, gần 20 doanh nghiệp đã đốt rác thay than, có bên đạt tỷ lệ thay thế tới 40%. Ông Long khuyến nghị việc giảm được khí methane (CH4) từ bãi rác nên được trừ vào hạn ngạch.
Bởi lẽ, nếu rác này không được nung ở nhà máy xi măng, chúng sẽ phát thải CH4, loại khí "siêu ô nhiễm" với mức gây nóng lên toàn cầu cao gấp 27 lần CO2. Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), ngành xi măng chiếm khoảng 7-8% tổng lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Việc thúc đẩy các giải pháp giảm phát thải trong lĩnh vực này sẽ đóng góp đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu khí hậu quốc gia.
Vật liệu xây dựng là ngành cung cấp đầu vào cơ bản cho phát triển kết cấu hạ tầng, đô thị, nhà ở, cũng là lĩnh vực tiêu tốn nhiều tài nguyên, năng lượng và phát thải lớn. Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết xanh hóa ngành này đã trở thành yêu cầu cấp thiết.
Thực tế, lĩnh vực vật liệu xây dựng đã ghi nhận những kết quả tích cực trong phát triển các sản phẩm xanh, tiết kiệm năng lượng. Ví dụ, thị trường sản phẩm vật liệu xây không nung từng bước được hình thành và phát triển, như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt... Nhóm sản phẩm này giúp giảm sử dụng đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, hạn chế phát thải, đồng thời góp phần tái sử dụng tro, xỉ, thạch cao - chất thải từ các ngành công nghiệp khác.
Để thúc đẩy thị trường vật liệu xanh, Bộ Xây dựng đang hoàn thiện khung pháp lý về tiêu chuẩn. Ông Lê Văn Kế, Phó vụ trưởng Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), cho biết trong quý IV, Bộ dự kiến ban hành thông tư về dán nhãn năng lượng với vật liệu này, gồm chi tiết danh mục phải dán nhãn, trình tự thủ tục đăng ký. Nhãn này được kỳ vọng sẽ là "giấy thông hành" cho doanh nghiệp trên thị trường vật liệu xanh.