Trang trại của Công ty TNHH Dịch vụ và Chăn nuôi NewHope Thanh Hóa tại xã Thạch Quảng có quy mô khoảng 109 ha, trong đó khu chăn nuôi rộng hơn 20 ha, mỗi ngày phát sinh lượng lớn nước thải và chất thải chăn nuôi.
Ngày 24/4, kiểm tra khu xử lý nước thải khu D của trang trại, lực lượng chức năng phát hiện đường dẫn nước thải và phân lợn chưa qua xử lý chảy trực tiếp ra bãi đất rộng hơn 7.300 m2 phía sau hệ thống xử lý.
Kết quả xác minh cho thấy khu vực này chứa khoảng 8.544 m3 chất thải, tương đương gần 5,9 triệu kg.
Ngày 10/5, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết đã khởi tố, tạm giam giám đốc của NewHope Thanh Hóa là Huang Qi Lei (tức Hoàng Khởi Lôi), 43 tuổi, quê tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc cùng Lê Văn Quốc, 37 tuổi, trú xã Ngọc Liên, về tội Gây ô nhiễm môi trường, theo Điều 235 Bộ luật Hình sự.
Bị khởi tố cùng tội danh, Hà Thị Thục Huyền, 31 tuổi, trú xã Cẩm Thủy, được cho tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú do đang nuôi con nhỏ.
Cơ quan điều tra cáo buộc các bị can đã lợi dụng khu đồi và ao trũng xa khu dân cư để bơm, tập kết chất thải trái quy định nhằm giảm tải cho hệ thống xử lý môi trường của trang trại.
Huang Qi Lei khai gần đây hệ thống xử lý nước thải xuống cấp, không đáp ứng công suất nên chỉ đạo nhân viên bơm nước phân chưa qua xử lý từ ao sự cố và hệ thống xử lý ra môi trường.
Theo hồ sơ vụ án, giai đoạn 2023-2024, Huang Qi Lei giao Hà Thị Thục Huyền, quản lý bộ phận xử lý nước thải khu D và H, thực hiện việc bơm xả chất thải. Đến năm 2025, khi Huyền nghỉ sinh, công việc được giao cho Lê Văn Quốc.
Công an đang mở rộng điều tra, làm rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân liên quan.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
Công an làm việc với nhóm thanh niên chạy xe máy đùa giỡn, ném bột vào người đi đường

Ngày 17-4, thông tin từ Công an tỉnh Vĩnh Long cho biết Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh này đã mời làm việc một nhóm thanh, thiếu niên có hành vi tụ tập, đùa giỡn, ném bột và chạy xe giàn hàng ngang trên tuyến đường thuộc khu vực phường Nguyệt Hóa.
Trước đó, trên mạng xã hội Facebook xuất hiện một đoạn video dài khoảng 20 giây ghi lại cảnh nhóm thanh, thiếu niên chạy trên nhiều xe máy đùa giỡn, ném bột trên tuyến đường thuộc khu vực phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông.
Sau khi đoạn video được đăng tải trên mạng xã hội đã có rất nhiều người vào xem, bình luận và chia sẻ gây bức xúc trong dư luận.
Sau đó, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Long đã mời nhóm thanh, thiếu niên đến làm việc.
Tại buổi làm việc, lực lượng cảnh sát giao thông đã giải thích, phân tích rõ mức độ nguy hiểm của hành vi đùa giỡn, chạy xe hàng ngang khi tham gia giao thông. Đồng thời làm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ và trích xuất hình ảnh, thông tin phương tiện để kiểm tra điều kiện của người điều khiển xe máy.
Sau khi củng cố đầy đủ tài liệu, chứng cứ, cơ quan chức năng sẽ xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Pháp Luật
Cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến xin hưởng án treo, giảm tiền phải nộp

TAND Hà Nội đã nhận được đơn kháng cáo của cả 10 bị cáo sau phiên sơ thẩm.
Ngoài bà Tiến, hai cựu cán bộ Bộ Y tế là Nguyễn Chiến Thắng, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án Y tế trọng điểm, và Trần Văn Sinh, cựu Trưởng phòng của Ban này, cũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm số tiền phải bồi thường.
Trong đó, ông Thắng bị tuyên mức án và nghĩa vụ bồi thường cao nhất vụ án - 30 năm tù và 393 tỷ đồng; ông Sinh 7 năm tù và 8,3 tỷ đồng.
Riêng ông Nguyễn Hữu Tuấn, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án Y tế trọng điểm, kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị giảm hình phạt và nghĩa vụ bồi thường. Ông bị tuyên 25 năm tù và phải nộp 223,5 tỷ đồng.
Các bị cáo còn lại cũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc hưởng án treo, giảm số tiền phải nộp và đề nghị gỡ phong tỏa tài sản.
Vụ án sẽ được Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội xét xử trong thời gian tới.
>>Xem thêm: Án sơ thẩm và tiền khắc phục các bị cáo phải nộp
HĐXX sơ thẩm đánh giá đây là vụ án điển hình về thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước. Tuy nhiên, các bị cáo khi thực hiện dự án chịu nhiều áp lực do quy mô lớn, tiến độ gấp, một số người không có chuyên môn sâu về đầu tư, xây dựng.
Theo bản án, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến giữ vai trò cao thứ tư trong vụ án, không trực tiếp gây hậu quả nhưng đã có sai sót khi phê duyệt các phương án liên quan đến việc lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế. Đây được xác định là cơ sở, tiền đề dẫn đến các sai phạm ở những giai đoạn sau của dự án.
Ngoài ra, bà Tiến bị xác định đã nhận 7,5 tỷ đồng từ cấp dưới, trong tổng số 100 tỷ đồng các nhà thầu chi cho Ban Quản lý dự án.
Sai phạm xảy ra tại dự án đầu tư xây dựng cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, được phê duyệt năm 2014 với tổng mức đầu tư gần 10.000 tỷ đồng. Theo cáo buộc, sai phạm diễn ra xuyên suốt từ khâu lựa chọn đơn vị tư vấn thiết kế nước ngoài, lập hồ sơ mời thầu, đấu thầu, chỉ định thầu đến thi công xây dựng.
Ông Nguyễn Chiến Thắng bị cáo buộc đã thỏa thuận tạo điều kiện cho doanh nghiệp trúng thầu. Đổi lại, sau khi được tạm ứng hoặc thanh toán, các nhà thầu phải chi cho Ban Quản lý dự án khoản tiền tương đương 5% giá trị hợp đồng trước thuế.
Từ đó, ông Thắng và Nguyễn Hữu Tuấn bị xác định đã nhận hơn 100 tỷ đồng từ các nhà thầu, sau đó sử dụng vào nhiều mục đích và chia cho nhiều cá nhân.
>>Xem thêm: Hiện trạng dự án Bệnh viện Bạch Mai 2 và Việt Đức 2
Tại tòa, bà Kim Tiến nhận trách nhiệm Bộ trưởng, nói có lỗi khi thúc giục cấp dưới, vô tình tạo sức ép. Bà khẳng định làm việc với "động cơ trong sáng", với ước mơ về bệnh viện dùng hàng trăm năm cho người dân, nhưng kết quả không như ý.
Bà khai chỉ nhận 7,5 tỷ đồng từ ông Thắng, ông Tuấn, không phải gần 20 tỷ như họ khai. Bà cơ bản thừa nhận các cáo buộc, song còn trăn trở về cách tính thiệt hại.
Trong phần tranh luận, cách tính thiệt hại và câu hỏi "không phải án tham nhũng sao vẫn phải bồi thường" tiếp tục được đưa ra, song VKS cho rằng dự án "cỏ mọc um tùm" 10 năm qua đã là minh chứng rõ nhất cho sự lãng phí, tước đi cơ hội sống của hàng nghìn bệnh nhân.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
Tăng mức phạt vi phạm hành chính: Cần bảo đảm hài hòa giữa răn đe và khả thi

Đề xuất sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng nâng mức tiền phạt trong nhiều lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Nhiều ý kiến cho rằng việc tăng chế tài là cần thiết để nâng cao hiệu quả răn đe, siết chặt kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng vấn đề cốt lõi không nằm ở việc "phạt nặng đến đâu" mà ở chỗ mức phạt có hợp lý, khả thi và được xã hội chấp nhận hay không.
Mới đây, khi chủ trì cuộc họp về hồ sơ chính sách Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cũng nhấn mạnh việc đề xuất mức xử phạt phải được rà soát kỹ lưỡng, có cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn vững chắc. Với từng lĩnh vực cụ thể, cần đánh giá đầy đủ tác động, khả năng thực thi, tính răn đe và mức độ đồng thuận xã hội.
Đồng tình với phát biểu chỉ đạo của Phó thủ tướng, ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) cho rằng đây không chỉ là một định hướng chính sách mà cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định chuyên ngành.
Theo bà, bản chất của xử phạt hành chính là điều chỉnh hành vi xã hội nhằm bảo vệ trật tự công cộng và lợi ích cộng đồng. Vì vậy, một mức phạt chỉ phát huy hiệu quả khi người dân cảm nhận được sự công bằng và tính chính đáng của nó.
"Nếu mức phạt vượt quá khả năng chịu đựng thực tế của người vi phạm thì hiệu ứng tạo ra không phải là răn đe mà là né tránh, đối phó hoặc phát sinh tiêu cực. Ngược lại, mức phạt quá thấp sẽ khiến người vi phạm coi đó như một chi phí phải trả và sẵn sàng tiếp tục vi phạm", bà Tú Anh nhận định.
Theo nữ đại biểu, đồng thuận xã hội là điều kiện quan trọng để pháp luật được thực thi hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy những quy định xử phạt thiếu sự đồng thuận thường có tỷ lệ tuân thủ thấp và chi phí thực thi cao, bất kể mức phạt được quy định nặng đến đâu.
Thực tế cũng cho thấy không ít trường hợp mức phạt trên giấy rất cao nhưng hiệu quả răn đe hạn chế. Cơ quan chức năng ngại áp dụng vì cho rằng chế tài quá nặng so với tính chất vi phạm, trong khi người vi phạm tìm mọi cách đối phó hoặc né tránh. Điều này cho thấy mức phạt cao không đồng nghĩa với tính nghiêm minh của pháp luật.
Theo ĐBQH Trịnh Thị Tú Anh, để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả, chính sách xử phạt hành chính cần đáp ứng ít nhất bốn tiêu chí cơ bản.
Đầu tiên, mức phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hại của hành vi vi phạm, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế của đối tượng bị điều chỉnh. Một mức phạt có thể hợp lý với doanh nghiệp lớn nhưng lại vượt quá khả năng của hộ kinh doanh nhỏ hoặc người dân ở khu vực nông thôn. Vì vậy, cần nghiên cứu các cơ chế điều chỉnh phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ hai, việc xây dựng mức phạt phải dựa trên đánh giá tác động thực chất. Nhiều đề xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quản lý, trong khi còn thiếu dữ liệu về khả năng tuân thủ, năng lực tài chính của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả thực tế của chế tài. Việc đánh giá tác động cần được thực hiện nghiêm túc trước khi ban hành quy định.
Tiếp theo, xử phạt không chỉ nhằm trừng phạt mà còn phải hướng tới giáo dục và phòng ngừa. Đối với những trường hợp vi phạm lần đầu hoặc do thiếu hiểu biết pháp luật, việc kết hợp chế tài với các biện pháp tuyên truyền, giáo dục có thể mang lại hiệu quả thay đổi hành vi bền vững hơn so với phạt tiền đơn thuần.
Cuối cùng nữ đại biểu cho rằng, hệ thống chế tài phải bảo đảm tính thống nhất và công bằng giữa các lĩnh vực. Những hành vi có mức độ nguy hại tương đương cần được xử lý tương xứng. Nếu mức phạt giữa các lĩnh vực chênh lệch quá lớn, người dân dễ cảm nhận sự thiếu công bằng, từ đó ảnh hưởng tới niềm tin vào pháp luật.
Ở góc độ chuyên môn, Luật gia Võ Văn Tuyển (Ban Nghiên cứu - Xây dựng và Phổ biến pháp luật, Hội Luật gia Việt Nam), cho rằng mức tiền phạt hiện hành đã bộc lộ hạn chế trong một số lĩnh vực như đất đai, môi trường, thương mại điện tử, chứng khoán, quảng cáo sai sự thật, hàng giả và hàng nhái… Trong nhiều trường hợp, lợi ích mà tổ chức, cá nhân thu được từ hành vi vi phạm lớn hơn rất nhiều so với mức xử phạt phải chịu, khiến chế tài hành chính mất đi tác dụng răn đe.
Tuy nhiên, theo ông Tuyển, mức phạt chưa phải nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trong thực tiễn xử lý vi phạm hành chính hiện nay. Nhiều khó khăn nằm ở khâu phát hiện và chứng minh hành vi vi phạm, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật hoặc những vướng mắc trong quá trình thi hành quyết định xử phạt.
"Nếu chỉ tăng mức tiền phạt mà không đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi, hoàn thiện cơ chế cưỡng chế và khắc phục sự chồng chéo của hệ thống pháp luật thì chưa chắc hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được cải thiện", ông Tuyển nhận định.
Theo ông, cùng với phạt tiền, các hình thức xử phạt bổ sung như tước giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề cần được cân nhắc thận trọng về thời hạn, trình tự và tác động thực tế. Bởi, một quyết định tước giấy phép kéo dài nhiều tháng có thể khiến doanh nghiệp đình trệ hoạt động, ảnh hưởng tới người lao động và các đối tác liên quan.
Vì vậy, chế tài phải bảo đảm tính tương xứng, tránh tạo ra những hệ quả xã hội vượt quá mục tiêu quản lý, điều này cũng phù hợp với tinh thân Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Cùng với đó, Tuyển cũng cho rằng cần phân hóa rõ giữa cá nhân và tổ chức khi thiết kế chế tài xử phạt. Đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức có tiềm lực tài chính lớn, cố tình vi phạm để thu lợi bất hợp pháp, có thể nghiên cứu áp dụng mức phạt cao hơn. Ngược lại, nếu tăng đồng loạt đối với cá nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực gắn với đời sống dân sinh như giao thông, cư trú, kinh doanh nhỏ lẻ, có thể tạo áp lực lớn cho người dân.
Theo vị chuyên gia, thay vì chỉ tập trung nâng tiền phạt, cần chú trọng hơn tới các biện pháp tước bỏ lợi ích thu được từ hành vi vi phạm như buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp, thu hồi sản phẩm vi phạm, tịch thu tang vật hoặc tước quyền sử dụng giấy phép trong thời hạn phù hợp. Trong nhiều trường hợp, đây là giải pháp hiệu quả hơn so với việc chỉ tăng mức xử phạt bằng tiền.
Các ý kiến cho rằng quá trình sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính cần được thảo luận công khai, đa chiều và tiếp thu đầy đủ ý kiến phản biện xã hội. Bởi với một đạo luật tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng tính nghiêm khắc của pháp luật mà còn phải bảo đảm tính hợp lý, khả thi và sự đồng thuận trong quá trình thực thi.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

