Những ngày cuối Xuân, dưới chân dãy núi đá vôi của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, khi sương sớm còn chưa tan, trên mặt suối Khuyn,xã Cổ Lũng, Thanh Hóa, từng đàn vịt nối nhau bơi lững lờ. Tiếng vịt gọi nhau xen lẫn âm thanh róc rách của dòng suối tạo thành một “bản hòa âm” rất riêng của vùng cao Cổ Lũng.
Ngay bên suối, từng đàn bướm vàng đậu kín, thỉnh thoảng lại chấp chới bay lên mỗi khi đàn vịt lướt qua, khung cảnh huyền ảo như một bức tranh.
Ở đó, anh Lục Văn Nam (40 tuổi) bắt đầu ngày mới bằng việc lội suối, kiểm tra đàn vịt hàng nghìn con. Công việc lặp lại suốt hơn một thập kỷ, nhưng với anh, chưa khi nào là nhàm chán.
Sinh ra trong gia đình khó khăn ở bản Khuyn, Nam từng loay hoay tìm hướng đi sau khi tốt nghiệp trung cấp nông lâm. Anh thử nuôi nhiều loại vật nuôi, nhưng không bền. “Mình cứ đi theo cái người ta làm sẵn, nên dễ thất bại”, anh kể.
Bước ngoặt đến khi anh nhìn lại chính thứ quen thuộc nhất của bản làng: giống vịt cổ của người Thái. Khi đó, mỗi nhà chỉ nuôi vài chục con, thả suối để cải thiện bữa ăn. Không ai nghĩ có thể phát triển thành hàng hóa.
Nam thì nghĩ khác. Anh nhận ra giống vịt này có thân hình đặc trưng: cổ rụt, thân bầu, chân ngắn, lông nâu xám như chim sẻ và một khoang trắng quanh cổ. Quan trọng hơn, thịt thơm, săn chắc nhờ được nuôi hoàn toàn trong môi trường tự nhiên.
“Nếu mình không làm, có khi vài năm nữa giống vịt này sẽ mai một”, anh nói.
Năm 2014, Nam bắt đầu đi khắp các bản làng trong vùng để tìm giống thuần. Anh chọn từng con khỏe mạnh, nuôi thử, rồi tiếp tục chọn lọc qua nhiều lứa.
Không có giáo trình cụ thể, kỹ thuật chăn nuôi chủ yếu được đúc kết từ thực tế. Những kiến thức học được ở trường chỉ là nền tảng. Phần lớn kinh nghiệm đến từ những lần thất bại: vịt mắc bệnh, chết rải rác, hoặc chậm lớn.
“Nuôi ít thì dễ, nuôi hàng nghìn con mới thấy đủ thứ vấn đề”, anh nói. Những bệnh như tụ huyết trùng, rụt mỏ, liệt chân… hiện nay cũng có khi xuất hiện, nhưng anh tìm cách khắc phục bằng việc tiêm phòng ngay từ khi còn nhỏ.
Đổi lại, dòng suối Khuyn lại là “lợi thế tự nhiên” hiếm có. Nước chảy quanh năm giúp đàn vịt vận động, ít bệnh, thịt săn chắc hơn so với nuôi nhốt.
Theo anh Nam, công việc chăn nuôi vịt đòi hỏi sự cần mẫn, đam mê và kiên trì. Bởi lẽ thị trường đầu ra thường biến động, không ổn định.
Hiện nay, Nam duy trì đàn khoảng 1.000 con, trong đó có 200 con bố mẹ, 300 con vịt thịt và khoảng 600 con vịt giống đang nuôi. Ngoài bán thịt, anh còn cung cấp con giống cho các hộ dân trong vùng.
Đầu ra chủ yếu là các nhà hàng, quán ăn, khu du lịch trong khu vực Pù Luông, cùng một phần đưa về trung tâm tỉnh Thanh Hóa và Hà Nội.
Tuy nhiên, đây không phải mô hình “hái ra tiền” nhanh chóng. Thời gian nuôi kéo dài ít nhất 3 tháng, chi phí cao, trong khi giá bán biến động. Là đặc sản, vịt Cổ Lũng có giá cao nên cũng kén khách.
“Giá cao thì khó bán, giá thấp thì không có lãi. Tôi phản cân nhắc kỹ lưỡng, nhiều lúc phải chấp nhận lãi ít để tiếp cận được khách hàng”, Nam chia sẻ.
Mỗi năm, doanh thu của anh khoảng 300 triệu đồng – con số không quá lớn, nhưng đủ để anh sống ổn định ngay trên quê hương.
Không chỉ dừng lại ở câu chuyện cá nhân, Nam mong muốn mở rộng mô hình, liên kết với các hộ dân để cùng phát triển giống vịt bản địa.
Anh kỳ vọng sẽ tìm được đầu ra ổn định hơn, xây dựng thương hiệu để vịt Cổ Lũng được biết đến rộng rãi, từ đó giúp người dân có thêm sinh kế.
Giữa dòng suối Khuyn trong veo, anh Nam, sau hơn 12 năm, vẫn chọn ở lại cần mẫn với công việc tưởng chừng giản dị ấy.
“Nuôi vịt không giúp mình giàu nhanh”, anh nói, mắt dõi theo đàn vịt đang tản ra theo dòng nước, “nhưng cho mình một cuộc sống ổn định và được làm việc bằng chính đam mê”.
Đại diện UBND xã Cổ Lũng nhận định, anh Lục Văn Nam là thanh niên chăm chỉ và chịu khó. Mô hình nuôi vịt Cổ Lũng không chỉ giúp anh mở lối thoát nghèo tại địa phương, mà còn giúp bảo tồn giống vịt bản địa, là tấm gương cho bà con đồng bào DTTS trong hành trình phát triển kinh tế.
Khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới sống với khuyết tật, tức khoảng 16% dân số toàn cầu. Điều tra năm 2023 cho thấy Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (khoảng 6,11% dân số).
Có thể nói số liệu trên đây là một bộ phận không nhỏ trong xã hội song vẫn đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, dịch vụ công… Rào cản lớn nhất không nằm ở bản thân khuyết tật mà ở môi trường chưa được thiết kế để mọi người cùng tham gia bình đẳng.
Một công trình không có lối đi phù hợp, một trang thông tin không thể truy cập bằng công nghệ hỗ trợ hay một doanh nghiệp từ chối tuyển dụng vì định kiến… tất cả đều là rào cản xã hội, tạo ra khuyết tật về cơ hội với người khuyết tật. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu cơ chế thực thi hiệu quả và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Muốn xóa bỏ rào cản cần chuyển từ cách làm mang tính phong trào sang cách làm dựa trên chuẩn tiếp cận, có kiểm tra giám sát, có chế tài và có sự tham gia của chính người khuyết tật. Một trong những biểu hiện rõ nhất của rào cản xã hội là khoảng cách về việc làm. Tỉ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc chỉ khoảng 23,5% (theo số liệu điều tra năm 2023).
Nhiều người khuyết tật không thiếu năng lực nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận. Họ không được đào tạo nghề phù hợp, không được hỗ trợ điều chỉnh môi trường làm việc và thường bị loại khỏi vòng tuyển dụng ngay từ đầu do định kiến.
Tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật không thể dựa vào thiện chí mà phải dựa trên hệ thống chính sách đồng bộ, từ chống phân biệt đối xử đến hỗ trợ doanh nghiệp và dịch vụ việc làm công.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho người khuyết tật song chính sách chưa thực sự tạo động lực. Chẳng hạn doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế khi có từ 30% trở lên số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác). Đồng thời có quy mô từ 20 lao động trong năm trở lên.
Có những cơ sở đạt tỉ lệ lao động khuyết tật như quy định nhưng vẫn không được hưởng ưu đãi do không đáp ứng điều kiện về quy mô lao động tối thiểu.
Tương tự, doanh nghiệp phải bảo đảm tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác) mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động. Không ít doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách này do không đạt ngưỡng tỉ lệ lao động là người khuyết tật.
Do vậy yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chính sách theo hướng bỏ hoặc linh hoạt hóa điều kiện về quy mô lao động, đặc biệt với cơ sở có tỉ lệ lao động là người khuyết tật cao.
Hoặc thiết kế cơ chế ưu đãi theo hướng lũy tiến hay đa ngưỡng thay vì áp dụng cứng tỉ lệ 30% nhằm ghi nhận cả những doanh nghiệp có đóng góp đáng kể nhưng chưa đạt ngưỡng.
Cần kết hợp đồng thời tiêu chí về tỉ lệ và số lượng tuyệt đối lao động là người khuyết tật, mở rộng hình thức hỗ trợ ngoài thuế như cải tạo nơi làm việc, công nghệ trợ giúp, đào tạo tại chỗ song song với tận dụng mua sắm công và chuỗi cung ứng.
Kinh nghiệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy các quốc gia thành công thường kết hợp nhiều công cụ: ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và cả áp lực thị trường.
Vào ngày 14/5, một người dùng đã đăng tải bức ảnh về một con cá bống vàng lên mạng xã hội Facebook kèm theo chú thích: "Cá bống vàng mang lại sự giàu có".
Được biết, người đăng bài trên facebook là ông Suwat, 39 tuổi, tại phường Mab Pong, huyện Phan Thong, tỉnh Chonburi, Thái Lan.
Suwat tiết lộ rằng anh đã bắt được con cá bống vàng này từ một cái ao và mang nó về. Khi về đến nhà, Suwat thả nó vào một chậu nước và con cá chuyển sang màu vàng óng ánh, khác hẳn với những con cá khác anh bắt cùng có màu nâu đen.
Khi cân thử, con cá bống nặng 500 gram. Sau đó, Suwat tách nó ra, thả vào một bể kính rồi đăng ảnh lên Facebook.
Sau khi đăng lên mạng xã hội, có người liên hệ với Suwat và đề nghị mua với giá 10.000 baht (8,1 triệu đồng).
"Tôi chưa bán nó vì tôi tin rằng nó sẽ mang lại may mắn cho tôi. Con cá bống vàng này tôi sẽ giữ nó và nuôi cho đến khi nó chết", Suwat nói.
Chiều 4/7, hội trường xã Hương Khê, Hà Tĩnh, chật kín chỗ thân nhân liệt sĩ đến xét nghiệm ADN. Cụ Nguyễn Thị Dinh, 90 tuổi, là người cao tuổi nhất. Mẫu sinh phẩm của cụ sẽ được đưa vào ngân hàng gene quốc gia, làm cơ sở đối sánh tìm hài cốt em trai - liệt sĩ Nguyễn Văn Lạc. "Tôi mừng vì còn sống để được lấy mẫu gene cho em, nhưng xót xa vì chưa tìm được em về", bà Dinh, quê xã Hương Đô, nói.
Ở Thanh Hóa, gia đình cụ Lê Thị Quỳnh, 97 tuổi, đã hoàn thành việc lấy mẫu ADN từ cuối năm 2025. Do vận động khó khăn sau 5 năm tai biến, cụ Quỳnh được các con đưa đến trụ sở công an để thu thập mẫu cùng hai thành viên khác. Ký ức của người già không còn nhiều nhưng mỗi lần nhắc tên con trai cả - liệt sĩ Lê Thanh, cụ Quỳnh lại khóc.
Bà Lê Thị Quế, người con thứ năm của cụ Quỳnh, nói điều gia đình lo nhất là mẹ qua đời mà chưa đưa được hài cốt liệt sĩ Lê Thanh trở về.
"Chiến dịch 500 ngày đêm" và những mẫu ADN đang trở thành niềm hy vọng cuối cùng của hơn 300.000 gia đình liệt sĩ giống như cụ Dinh, cụ Quỳnh chưa tìm thấy người thân, sau hàng chục năm tìm kiếm.
Những người lính đi không về
Nhắc đến em, cụ Dinh nhớ lại những năm tháng cơ cực nhất của gia đình. Năm 1944, lụt cuốn trôi nhà cửa gia đình. Hai năm sau, cha mẹ qua đời vì dịch bệnh, để lại 5 chị em. Cậu em út Nguyễn Văn Lạc lớn lên từ những củ khoai, củ sắn và sự đùm bọc của anh chị.
Năm 1960, Lạc nhập ngũ vào Quân khu 4, sau đó đi B. Đồng đội cũ cho biết ông Lạc thuộc lực lượng trinh sát đặc công, hoạt động bí mật. Lần cuối cùng có người nhà gặp ông là vào buổi chiều tại xã Tân Thủy, Quảng Bình, cuối năm 1961. Đó cũng là lần cuối cùng gia đình có tin ông.
Chiến tranh ngày càng khốc liệt, những đồng đội cùng đợt nhập ngũ năm ấy không một ai sống sót trở về. Ông Lạc chưa từng liên hệ với gia đình trong suốt ngần ấy năm. "Gia đình nuôi hy vọng em đang làm nhiệm vụ bí mật nào đó chưa về", cụ Dinh nói.
Năm 1982, gia đình nhận giấy báo tử ghi liệt sĩ Nguyễn Văn Lạc hy sinh ngày 24/3/1966 tại Quảng Ngãi. Sự mâu thuẫn giữa lời kể của nhân chứng (hoạt động ở Quảng Trị) và giấy báo tử (hy sinh ở Quảng Ngãi) khiến gia đình bước vào một hành trình tìm kiếm khó khăn.
Là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Sơn Thủy, huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế nên đầu năm 2000, ông Nguyễn Thanh Sơn (cháu của liệt sĩ Lạc) thường xuyên chạy xe máy đến các nghĩa trang quanh khu vực Gio Linh (Quảng Trị) tìm kiếm nhưng phần lớn là bia "Liệt sĩ chưa rõ danh tính".
Bế tắc ở thực địa, ông Sơn bắt tàu hỏa đi các tỉnh Nam Trung Bộ tìm manh mối. Mọi cuộc tra cứu trên Cổng thông tin điện tử, mọi lá thư nhờ vả Hội Cựu chiến binh khắp nơi xác minh đều trả về con số không.
Ông tiếp tục gõ cửa các cơ quan lưu trữ. Đến Ban Chỉ huy Quân sự huyện Hương Khê, ông nhận thông tin sổ sách cũ đã bị nước lũ cuốn trôi. Lên Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Tĩnh, tên Nguyễn Văn Lạc cũng không tồn tại. Ông lặn lội ra Quân khu 4, Quân khu 5, rồi mang toàn bộ hồ sơ ra tận Bộ Quốc phòng và Cục lưu trữ tàng thư cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc tại Hà Nội. "Cán bộ mở máy tính rà soát từng dòng dữ liệu nhưng tra mãi không ra. Họ giải thích chú đi đặc công bí mật, hồ sơ lưu lại vô cùng ít ỏi hoặc đã thất lạc", ông Sơn kể.
Ba ngôi mộ vô danh ở Mang Yang
Không mất hoàn toàn dấu vết như gia đình cụ Dinh, cụ Lê Thị Quỳnh dù tìm đúng nghĩa trang cũng chưa thể xác định được phần mộ con trai.
Nhớ về người anh cả từng bảo bọc 6 đứa em, bà Lê Thị Quế kể, dù không thuộc diện bắt buộc anh cả Lê Thanh vẫn tình nguyện viết đơn nhập ngũ sau khi học hết phổ thông.
Năm 1972, sau khi huấn luyện ở Sơn Tây, Hà Nội, chàng trai 20 tuổi Lê Thanh hành quân vào Gia Lai. Trong thư gửi gia đình ngày 2/4/1972, anh viết: "Thưa cha mẹ trong cuộc chiến đấu này với kẻ thù thì tổn thất là chuyện thường. Rủi ro con có việc gì, cha mẹ cũng đừng đau khổ quá mà coi con như con đã vẫn xa nhà làm nhiệm vụ và cha mẹ hãy tự hào khi có người con đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc".
Ngày 7/6/1972, anh hy sinh dưới chân cầu Lệ Cần, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai.
Nhận giấy báo tử nhưng không tin con đã mất, vợ chồng cụ Quỳnh nhờ người cháu đang chiến đấu ở Gia Lai tìm kiếm. Liên lạc được với đơn vị, gia đình xác định Lê Thanh hy sinh cùng hai đồng đội tại một vị trí. Thi hài anh được một người dân địa phương quý mến chôn cất riêng một góc để tiện bề hương khói, hai đồng đội còn lại được chôn cạnh nhau.
Hòa bình lập lại, khi Nhà nước quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Mang Yang, hài cốt ba người được xếp liền kề và đều ghi "Liệt sĩ vô danh".
Gia đình khoanh vùng được cụm ba ngôi mộ. Ông Lê Tuấn Đạt, người con thứ bảy, cùng vợ là bà Phạm Thị Hương lên kế hoạch tìm thân nhân của hai liệt sĩ còn lại để xét nghiệm ADN loại trừ.
Thời điểm đó, hai gia đình kia gặp khó khăn kinh tế nên chưa thể thực hiện. Từ đó cứ vài năm gia đình lại vào Gia Lai một lần. Mỗi lần đến Nghĩa trang liệt sĩ Mang Yang, vợ chồng ông Đạt đều chuẩn bị ba mâm lễ như nhau, lần lượt thắp hương trước cả ba ngôi mộ. "Không biết anh tôi nằm ở đâu nên chúng tôi hương khói cho cả ba. Các anh sống là đồng đội, khi nằm xuống vẫn ở cạnh nhau", bà Hương nói.
Cuộc đua với thời gian
Hy vọng của hai gia đình giờ đây được đặt vào "Chiến dịch 500 ngày đêm" do Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ phát động. Đợt cao điểm này đặt mục tiêu quy tập 7.000 hài cốt, lấy mẫu sinh phẩm từ 230.000 phần mộ vô danh và giám định ADN 18.000 mẫu.
Cả nước hiện có khoảng 1,2 triệu liệt sĩ. Hơn 900.000 hài cốt đã được quy tập nhưng còn khoảng 300.000 trường hợp chưa xác định danh tính. Mẫu ADN của thân nhân sẽ được lưu vào ngân hàng quốc gia để đối sánh và xác minh chéo qua hồ sơ quân nhân.
Hành trình đang đếm ngược từng ngày. Sau nhiều năm, hài cốt liệt sĩ dần phân hủy do điều kiện tự nhiên, trong khi thân nhân có quan hệ huyết thống gần nhất (đặc biệt là thế hệ thứ nhất) phần lớn đã bước sang tuổi 80, 90. Mỗi ngày trôi qua, cơ hội thu thập nguồn gene lại hẹp dần. Việc lập cơ sở dữ liệu ADN sẽ rút ngắn quãng đường hiện thực hóa các cuộc đoàn tụ sau nửa thế kỷ.
Gia đình cụ Quỳnh hiện đã hoàn tất hồ sơ và giấy ủy quyền. "Chúng tôi chỉ chờ cơ quan chức năng thông báo đi giám định là lên đường", bà Quế nói.