Đầu tháng 7, lãi suất huy động niêm yết điều chỉnh tại một vài đơn vị, tuy nhiên chưa phản ánh xu hướng rõ rệt.
Với các khoản tiền gửi không yêu cầu điều kiện về số dư hay mã giới thiệu của nhân viên, Saigonbank đang niêm yết mức cao nhất thị trường 7,9% cho kỳ hạn 13 tháng.
Ở kỳ hạn 12 tháng gửi trực tuyến, SHB dẫn đầu với 7,8% một năm. Nhóm lãi suất quanh 7% gồm Saigonbank, VIB, Sacombank, OCB, PGBank và CBBank. Nhiều ngân hàng trả lãi từ 6,5% gồm các nhà băng quốc doanh như VietinBank, BIDV, Agribank và nhóm tư nhân LPBank, MSB, Techcombank, BV Bank, BaoViet Bank, UOB và CIMB. Trong khi đó, Standard Chartered, HSBC và SCB thuộc nhóm thấp nhất, từ 3,25% đến 4,5%.
Trái với biểu niêm yết đi ngang, cuộc đua lãi suất thỏa thuận trở nên sôi động từ cuối tháng 6 nhờ các chương trình cộng thêm ưu đãi qua nhân viên chi nhánh.
Ngân hàng số Cake hiện trả lãi suất tới 8,9% một năm sau khi cộng ưu đãi 1,5 điểm phần trăm cho khách hàng mới hoặc người gửi hiện hữu từ 200 triệu đồng.
VPBank áp dụng mức 8,6% cho một số khoản tiền gửi vài trăm triệu đồng. Mức 8,5% cũng xuất hiện phổ biến tại một số nhà băng tư nhân như TPBank, Vikki Bank, HDBank, MBV… khi áp mã ưu đãi. Hai ngày cuối tháng 6, Sacombank từng trả lãi suất 8,8% mà không yêu cầu số tiền gửi tối thiểu.
Với khoản tiền gửi từ một tỷ đồng trở lên, một số đơn vị như Sacombank và Nam A Bank … thậm chí trả cao hơn 9% một năm theo hình thức thỏa thuận thông qua giới thiệu của nhân viên chi nhánh.
Tại họp báo ngành ngân hàng đầu tháng 7, Vụ trưởng Chính sách tiền tệ Phạm Chí Quang (Ngân hàng Nhà nước) cho biết thời gian qua ngành ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng huy động luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng.
Sự mất cân đối giữa huy động và tín dụng đã khiến lãi suất huy động tăng từ cuối năm ngoái đến nay. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước đến 15/6, tăng trưởng tín dụng 6,38% trong khi tăng trưởng huy động vốn chỉ đạt 4,3%.
Ngân hàng Nhà nước nhiều lần đôn đốc kiểm tra việc điều chỉnh lãi suất tiết kiệm, yêu cầu các nhà băng không chạy đua lãi suất để giữ mặt bằng lãi vay thấp, hỗ trợ nền kinh tế.
Song, theo dự báo của giới phân tích, lãi suất khó hạ nhiệt trước nhiều yếu tố.
Theo báo cáo mới nhất của hãng xếp hạng tín nhiệm VIS Rating, lãi suất huy động nhiều khả năng duy trì ở mức cao khi Ngân hàng Nhà nước có loạt chính sách hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và siết tiêu chuẩn thanh khoản theo lộ trình Basel III.
VIS Rating đánh giá việc nâng trần sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40% giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay, nhất là với lĩnh vực bất động sản và hạ tầng.
Tuy nhiên, điều này cũng khiến các nhà băng phải sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn hơn để tài trợ các khoản vay dài hạn, làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn. Trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi còn chậm, nhu cầu huy động vốn được dự báo sẽ tăng lên.
Những ngân hàng đang tiệm cận ngưỡng SMLR trước đây như MB, OCB, VPBank, BVBank và VIB có thể chịu áp lực huy động lớn hơn nếu tiếp tục mở rộng cho vay trung, dài hạn. Nếu thanh khoản thị trường thắt chặt, chi phí vốn có thể tăng tương tự giai đoạn căng thẳng năm 2022, VIS Rating nhận định.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) bằng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng trên huy động vốn (CDR), đồng thời từng bước áp dụng các chỉ tiêu thanh khoản theo Basel III. Các quy định này buộc ngân hàng tăng tỷ trọng nguồn vốn ổn định từ tiền gửi khách hàng, giảm phụ thuộc vào vốn thị trường.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, VIS Rating ước tính phần lớn ngân hàng chưa đáp ứng ngưỡng CDR tối đa 85%. Vì vậy, cạnh tranh huy động tiền gửi có thể tiếp tục gia tăng, khiến chi phí vốn duy trì ở mức cao và gây áp lực lên biên lãi ròng trong ngắn hạn.
Dưới đây là mức lãi suất tiết kiệm ngân hàng sắp xếp từ cao tới thấp được niêm yết chính thức (cho khoản tiền dưới 1 tỷ đồng), không tính thỏa thuận thực tế của ngân hàng với khách quen, VIP, gửi tiền giá trị lớn.
Hiện nay, cá nhân có thu nhập dưới 1 triệu đồng một tháng được xác định là người phụ thuộc để tính giảm trừ gia cảnh. Tại dự thảo Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ Tài chính đề xuất nâng ngưỡng thu nhập của người phụ thuộc lên 3 triệu đồng, gấp ba lần hiện tại.
Người phụ thuộc là những cá nhân mà người nộp thuế phải nuôi dưỡng, như con cái, cha mẹ không có thu nhập, không có khả năng lao động hoặc thu nhập thấp. Khi tính thuế, người nộp sẽ được giảm trừ một khoản cố định cho mỗi cá nhân phụ thuộc.
Thực tế, mức thu nhập làm căn cứ xác định người phụ thuộc duy trì 1 triệu đồng mỗi tháng từ 2013. Sau hơn một thập kỷ, mặt bằng giá cả, chi tiêu và thu nhập của người dân đã thay đổi đáng kể, khiến ngưỡng thu nhập này không còn phù hợp với thực tế. Vì vậy, cơ quan soạn thảo cho rằng cần thiết phải điều chỉnh mức này nhằm phản ánh đúng điều kiện sống, mặt bằng thu nhập của nền kinh tế.
Theo Bộ Tài chính, ngưỡng thu nhập tăng lên 3 triệu đồng với người phụ thuộc hiện cao hơn mức tăng chi tiêu - thu nhập bình quân trong 12 năm qua và dự báo những năm tới. Mức này cũng vượt ngưỡng thu nhập xác định hộ nghèo tại khu vực đô thị theo quy định mới.
Số liệu thống kê cho thấy mức sống của người dân đã cải thiện rõ rệt. Cụ thể, chi tiêu bình quân đầu người năm 2024 đạt khoảng 2,98 triệu đồng một tháng, tăng khoảng 1,6 lần so với 2014.
Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,15 triệu đồng mỗi tháng, tăng khoảng 2 lần so với mức 2,64 triệu của 2014. Ngưỡng xác định hộ nghèo và cận nghèo ở mức 2,2 triệu đồng một người mỗi tháng với khu vực nông thôn và 2,8 triệu với người ở đô thị.
Từ 1/1/2026, mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế là 15,5 triệu và người phụ thuộc 6,2 triệu đồng. Cá nhân được trừ các khoản bảo hiểm, giảm trừ gia cảnh, phụ cấp, trợ cấp... số còn lại là thu nhập tính thuế cá nhân.
“Cuộc đua thực sự là cuộc đua với thời gian, chứ không phải chống lại nhau” - thông điệp được ông Teo Chee Hean đưa ra tại Ecosperity Week 2026 ở Singapore không chỉ phản ánh áp lực khí hậu ngày càng lớn, mà còn cho thấy cách tư duy ESG đang thay đổi nhanh chóng tại châu Á.
Trong bối cảnh thế giới đối mặt đồng thời với xung đột địa chính trị, giá năng lượng biến động và chuỗi cung ứng thiếu ổn định, chuyển đổi năng lượng không còn đơn thuần là mục tiêu môi trường. Với nhiều chính phủ và doanh nghiệp, đây đang trở thành bài toán về an ninh kinh tế, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh dài hạn.
Theo ông Teo, biến đổi khí hậu không chờ các quốc gia giải quyết xong cạnh tranh địa chính trị. Phát thải toàn cầu vẫn tiếp tục tăng, trong khi các cú sốc năng lượng đang khiến tiến trình giảm phát thải trở nên khó khăn hơn. “Thiên nhiên đặt ra thời hạn, nhưng chúng ta có thể định hình cách phản ứng của mình”, ông nói.
ESG chuyển từ “cam kết xanh” sang bài toán sống còn
Những diễn biến gần đây trên thị trường dầu mỏ cho thấy rõ hơn áp lực đó. Theo Nikkei Asia, lượng tồn kho dầu toàn cầu có thể giảm xuống dưới ngưỡng tương đương 100 ngày nhu cầu tiêu thụ ngay trong tháng 5, khi tình trạng gián đoạn quanh eo biển Hormuz tiếp diễn.
Goldman Sachs ước tính tổng tồn kho dầu toàn cầu cuối tháng 5 chỉ còn khoảng 98 ngày nhu cầu. Trong khi đó, lượng “tồn kho nhìn thấy được” được dự báo giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2018. Với nhiều nền kinh tế châu Á phụ thuộc nhập khẩu năng lượng, đây không chỉ là câu chuyện giá dầu tăng. Rủi ro lớn hơn nằm ở việc chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch có thể bị ảnh hưởng mạnh chỉ bởi một điểm nghẽn địa chính trị.
Ông Mike Ng, Giám đốc phát triển bền vững của OCBC, cho rằng xung đột tại Iran đang tạo thêm áp lực ngắn hạn cho quá trình chuyển đổi carbon thấp. Chi phí vốn cao hơn và lạm phát kéo dài khiến các dự án năng lượng tái tạo trở nên đắt đỏ hơn trong giai đoạn đầu tư ban đầu.
Theo ông, khác với dầu khí, phần lớn chi phí của điện gió hay điện mặt trời phải được bỏ ra ngay từ đầu. Khi lãi suất duy trì ở mức cao, hiệu quả tài chính của các dự án này sẽ chịu tác động đáng kể.
Tuy nhiên, ông Ng cho rằng chính những cú sốc hiện nay lại làm nổi bật vai trò của ESG trong chiến lược phát triển dài hạn. Khi chuỗi cung ứng nhiên liệu hóa thạch liên tục biến động, an ninh năng lượng và phát triển bền vững dần trở thành hai mục tiêu gắn liền với nhau. “Không ai có thể cấm vận ánh nắng mặt trời hay chặn gió tại một eo biển hàng hải”, ông nói.
Châu Á đứng trước bài toán tăng trưởng và chống chịu
Theo ông Teo Chee Hean, châu Á sẽ đóng vai trò quyết định đối với kết quả của quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu. Khu vực này hiện chiếm khoảng 60% dân số thế giới, gần một nửa lượng phát thải toàn cầu và cũng là nơi nhu cầu điện, công nghiệp cùng hạ tầng tiếp tục tăng nhanh nhất. Nhưng thay vì đi theo một mô hình thống nhất, các nền kinh tế châu Á đang xây dựng những con đường chuyển đổi khác nhau dựa trên nguồn lực và ưu tiên riêng.
Trung Quốc đẩy mạnh điện khí hóa quy mô lớn. Ấn Độ tăng tốc phát triển năng lượng tái tạo. Nhật Bản và Hàn Quốc giữ vai trò cung cấp linh kiện pin cùng công nghệ lưu trữ. Đông Nam Á trở thành khu vực có nhu cầu năng lượng tăng mạnh nhờ công nghiệp hóa và kinh tế số.
Theo báo cáo Southeast Asia’s Green Economy Report 2026 của Bain & Company, nền kinh tế xanh Đông Nam Á hiện được định giá khoảng 290 tỷ USD và có thể tăng lên 430 tỷ USD vào năm 2030.
Điểm đáng chú ý là ESG tại khu vực đang dần mở rộng khỏi phạm vi giảm phát thải. Thích ứng khí hậu hiện được nhiều doanh nghiệp và chính phủ xem là ưu tiên song song với chuyển đổi năng lượng.
Ông Teo cho rằng với tốc độ giảm phát thải hiện nay, chỉ tập trung vào mục tiêu carbon là chưa đủ. Các nền kinh tế cần đầu tư đồng thời vào khả năng chống chịu của hạ tầng, chuỗi cung ứng và hệ thống năng lượng. Ông cũng nhấn mạnh thành công của quá trình chuyển đổi sẽ không phụ thuộc vào một công nghệ riêng lẻ, mà nằm ở khả năng phối hợp giữa các hệ thống điện, dữ liệu, sản xuất và logistics.
“Tự chủ năng lượng” không còn đồng nghĩa tự làm một mình
Một trong những xu hướng đáng chú ý nhất hiện nay là việc nhiều quốc gia ASEAN bắt đầu nhìn nhận hợp tác năng lượng như một phần của chiến lược an ninh kinh tế. Theo OCBC, lưới điện ASEAN đang dần được xem như “dự án an ninh năng lượng” thay vì chỉ là sáng kiến giảm phát thải.
Việc kết nối lưới điện xuyên biên giới có thể giúp các quốc gia chia sẻ nguồn điện tái tạo, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu và hạn chế biến động nguồn cung. Một số dự án quy mô nhỏ đã được triển khai, trong đó có tuyến kết nối điện Lào - Thái Lan - Malaysia - Singapore. Theo ông Mike Ng, các mô hình thử nghiệm này có thể trở thành nền tảng để xây dựng niềm tin và mở rộng hợp tác trong tương lai.
Trong khi đó, Indonesia đang đẩy nhanh kế hoạch chuyển đổi ngành nickel sang sử dụng điện sạch hơn, bao gồm điện mặt trời, điện gió và địa nhiệt. Quốc gia này hiện sở hữu một trong những trữ lượng địa nhiệt lớn nhất thế giới nhưng mới khai thác một phần nhỏ tiềm năng.
Theo giới hoạch định chính sách khu vực, bài toán lớn nhất hiện nay là chuyển đổi năng lượng với tốc độ nào để vừa duy trì tăng trưởng, vừa giảm rủi ro dài hạn. Khi giá dầu, lãi suất và chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục biến động, ESG đang dần rời khỏi phạm vi của các cam kết hình ảnh để trở thành một phần trong chiến lược sống còn của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Báo cáo tài chính quý đầu năm của Công ty cổ phần Thép Pomina (mã chứng khoán: POM) ghi nhận doanh thu hơn 465 tỷ đồng, giảm một nửa so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, chi phí bán hàng lại tăng gấp 9 lần. Biến động này, theo ban lãnh đạo, là do các công ty con từng bước khôi phục sản xuất kinh doanh từ tháng 3 nên phát sinh chi phí bán hàng, vận chuyển, bốc xếp.
Bên cạnh đó, công ty chuyển chi phí khấu hao tài sản cố định phát sinh trong thời gian dừng sản xuất nhà máy luyện phôi thép sang chi phí khác, khiến khoản mục này tăng đột biến.
Trừ hết chi phí, Pomina lỗ sau thuế gần 190 tỷ đồng, cao hơn mức lỗ 159 tỷ đồng của cùng kỳ năm ngoái. Trong văn bản giải trình gửi Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội mới đây, Tổng giám đốc Đỗ Tiến Sĩ cho biết doanh thu của công ty đã tăng trở lại vào đầu tháng 3 khi nhận khoản hỗ trợ vốn từ Tập đoàn Vingroup. Tuy nhiên, nguồn thu này chưa bù đắp được chi phí, đặc biệt là lãi vay và phạt chậm thanh toán với nhà cung cấp, dẫn đến khoản lỗ lớn.
Trước đó, vào cuối tháng 11/2025, VinMetal (đơn vị thành viên của Vingroup) công bố hợp tác và hỗ trợ công ty bằng khoản vay vốn lưu động trong tối đa hai năm với lãi suất 0%. Nguồn vốn ưu đãi được cho là sẽ giúp Pomina có điều kiện cải thiện dòng tiền, khôi phục chuỗi cung ứng, đảm bảo sản xuất ổn định và từng bước hồi phục các chỉ số tài chính. Bên cạnh việc cấp vốn, Vingroup cũng ưu tiên chọn Pomina là nhà cung cấp thép cho các công ty thành viên trong hệ sinh thái như VinFast, Vinhomes, VinSpeed.
Pomina ra đời năm 1999 và từng là doanh nghiệp thép xây dựng lớn nhất cả nước giai đoạn 2010. Trong bản cáo bạch niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM khi đó, họ cho biết chiếm khoảng 29,37% thị phần.
Pomina bắt đầu chuỗi lỗ liên tục từ quý II/2022 đến nay. Đến nay, lỗ lũy kế đã hơn 3.660 tỷ đồng, đồng thời khiến vốn chủ sở hữu âm hơn 800 tỷ đồng.
Kết quả kinh doanh của Pomina sa sút do ảnh hưởng từ dự án lò cao thuộc nhà máy luyện phôi thép công suất 1 triệu tấn mỗi năm tại Bà Rịa - Vũng Tàu cũ. Ban lãnh đạo từng cho biết dịch Covid-19 bùng nổ đúng giai đoạn xây dựng dự án nên thời gian lắp đặt, chạy thử và đưa vào vận hành kéo dài hơn kế hoạch. Điều này khiến công ty phát sinh nhiều chi phí, dẫn đến vốn đầu tư dự án tăng cao so với dự toán ban đầu.
Tính đến cuối quý I, công ty có tổng nguồn vốn hơn 10.200 tỷ đồng, tăng khoảng 1.400 tỷ đồng so với thời điểm đầu năm. Nợ phải trả cũng tăng khoảng 1.600 tỷ đồng, lên hơn 11.000 tỷ đồng.
Dù chưa thoát lỗ, báo cáo tài chính của công ty đang cho thấy nhiều tín hiệu khả quan hơn về sản xuất kinh doanh. Giá trị hàng tồn kho tính đến cuối quý I tăng gấp đôi so với thời điểm đầu năm, lên 750 tỷ đồng.
Cổ phiếu POM phản ứng mạnh với thông tin này khi tăng hết biên độ lên 4.300 đồng và khớp lệnh gần 4 triệu cổ phiếu sau một giờ mở cửa. Cổ phiếu này đang trong diện hạn chế, chỉ giao dịch vào thứ Sáu hàng tuần.
Ban lãnh đạo công ty hiện chưa công bố kế hoạch kinh doanh năm nay. Phiên họp cổ đông thường niên dự kiến tổ chức vào tháng 6, thay vì đầu tháng này như công bố trước đó.