Thực tế trên chỉ ra dù vẫn là điểm đến quen thuộc, sức hút của Úc trong mắt phụ huynh và người học lại đang có dấu hiệu suy giảm, nhất là khi nước này liên tục phát đi tín hiệu thắt chặt chính sách visa và quyền làm việc trong vài năm trở lại đây.
Theo thống kê công bố hồi tháng 4 của Bộ Giáo dục Úc, tổng số sinh viên quốc tế đến nước này học tập đến hết năm 2025 là 845.933 người, giảm 1% so với 2024. Số du học sinh Việt là 36.595, giảm 2,7% so với năm trước và xếp thứ 4 về số lượng. Trong đó, 30.619 người là người học cũ, tăng 8,8%. Còn lại (5.976) là những người mới tới Úc lần đầu để học tập, giảm 36,8% so với năm 2024.
Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp số lượng tân sinh người Việt đến Úc giảm mạnh, khi năm 2024 ghi nhận tỷ lệ giảm ở mức 32,9% – ít hơn 4.632 người so với 2023. Trong khi đó, số lượng tân sinh từ năm 2021 tăng đều đến 2023, từ gần 1.800 tới hơn 6.200, và cuối cùng là hơn 14.000. Điều này góp phần khiến 2023 bùng nổ về số lượng khi đông hơn năm trước tới 46,2% – mức tăng cao nhất từ 2009 tới nay và lần đầu vượt hơn 30.000 người.
Việc gia tăng số lượng tân sinh cũng giúp năm 2024 sau đó lập kỷ lục cao nhất mọi thời về số người Việt du học Úc, ở mức 37.598 và vào top 5 nhóm đông nhất ở xứ sở chuột túi. Số lượng người Việt cũng tăng trưởng đều đặn từ 2021-2024 trước khi giảm nhẹ vào 2025. Trước đó, số lượng người Việt du học Úc cũng tăng đều trong giai đoạn 2015-2019, rồi giảm đáng kể trong thời điểm Covid-19 bùng nổ là 2020 và 2021.
Đà giảm vẫn đang diễn ra vào năm 2026. Theo dữ liệu cập nhật nhất tính tới tháng 1, có 24.789 người Việt hiện du học Úc, ít hơn 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dù giảm nhẹ số lượng vào năm 2025, song nhóm du học sinh Việt lại tăng hạng, vào top 4 cộng đồng sinh viên quốc tế đông nhất tại Úc – lập lại thành tích cách đây 4 năm. Song thứ hạng này chưa phải cao nhất, khi 3 năm liên tiếp từ 2013-2015 số du học sinh Việt tại Úc luôn nằm trong top 3.
Về phân bổ khóa học, bởi một sinh viên quốc tế có thể ghi danh vào nhiều khóa khác nhau nên tổng số lượt ghi danh cao hơn tổng số du học sinh. Theo thống kê tháng 1, người Việt ghi danh nhiều nhất ở bậc giáo dục ĐH với 15.584 lượt, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Xếp sau đó là đào tạo nghề (hơn 2.600) và giáo dục phổ thông (hơn 2.400).
Trong khi đó, lượt ghi danh sụt mạnh nhất ở các khóa tiếng Anh (ELICOS), giảm tới 56,5%.
Nhìn chung, người Việt chuộng nhất nhóm ngành quản trị và thương mại; xếp sau đó là các chương trình liên ngành và công nghệ thông tin. Trong khi đó, lĩnh vực ít thu hút nhất với sinh viên Việt luôn là nông nghiệp, môi trường và các ngành học liên quan.
Đằng sau số lượng sinh viên quốc tế là một bức tranh phức tạp hơn về tỷ lệ chấp thuận cấp visa du học cho các đương đơn nộp hồ sơ từ ngoài lãnh thổ Úc. Theo thống kê của Bộ Nội vụ Úc, 40,8% hồ sơ xin học ĐH bị từ chối cấp visa du học trong tháng 3, mức cao nhất trong 21 năm qua kể từ khi công bố dữ liệu. Tỷ lệ này cao hơn 8,4% so với tháng trước, và hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, bức tranh có phần sáng sủa hơn khi chỉ 9% đương đơn xin học ĐH tại Úc bị từ chối cấp visa trong tháng 3 vừa qua và con số vào tháng 2 là 16,6%. Đây đều là tỷ lệ gần như tương tự mọi năm, không có chênh lệch đáng kể.
Nhìn rộng hơn ở bức tranh chấp thuận cấp visa du học cho đương đơn Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Úc, năm tài chính 2024-2025 (bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 6 năm sau-PV) ghi nhận tỷ lệ 81,1%, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng là lần tăng đầu tiên sau 4 năm. Điều này đồng nghĩa, cứ 5 người học Việt Nam xin visa Úc thì có tới 4 người thành công.
Tuy nhiên, bức tranh lại khá phân mảnh nếu xét riêng từng mục đích. Với những trường hợp muốn theo học các khóa đào tạo nghề, tỷ lệ cấp visa du học chỉ là 7%, giảm đến 35,7% so với năm trước. Tương tự, nhóm ứng tuyển bậc giáo dục phổ thông giảm từ 81,5% xuống còn 65,5%, trong khi những đương đơn muốn học các khóa tiếng Anh chỉ có 45,8% cơ hội được cấp visa – dù tỷ lệ đã tăng thêm 12,8% so với năm ngoái.
Nhóm muốn học các trường ĐH cũng đang chứng kiến tỷ lệ đậu visa giảm dần trong 4 năm qua dù vẫn duy trì ở mức cao, từ 99,7% vào 2020-2021 xuống còn 87,1% ở năm xét duyệt mới nhất. Tương tự, nhóm không cấp bằng và nhóm nghiên cứu sau ĐH vốn có tỷ lệ chấp thuận cấp visa 100% trong 2022-2023, đến 2024-2025 giảm nhẹ xuống chỉ còn 96,9% và 99,5%.
Riêng lĩnh vực đối ngoại hoặc quốc phòng luôn duy trì tỷ lệ đậu visa 100% từ năm tài chính 2015-2016 tới nay.
Từ 2024 đến nay, Úc công bố nhiều điều chỉnh về chính sách visa và quyền làm việc, được cho là để quản lý, kiểm soát tốt hơn ngành giáo dục quốc tế cũng như số lượng người nhập cư. Để chọn lọc những đương đơn chân chính muốn du học nước này, Úc ra mắt bài thi GS thay thế cho GTE và nhiều lần thay đổi cơ chế xét duyệt visa du học, từ Chỉ thị 107 tới Chỉ thị 111 và nay là Chỉ thị 115.
Ngoài ra, Úc cũng ban hành nhiều điều chỉnh với hai loại visa phổ biến với sinh viên quốc tế.
Với visa du học, nước này tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí ứng tuyển – lên mức 2.000 AUD (khoảng 38 triệu đồng) và không hoàn lại nếu đương đơn bị từ chối. Với visa làm việc sau tốt nghiệp, Úc rút thời gian hiệu lực từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, bổ sung tiêu chí ứng tuyển và mới đây tăng gấp đôi lệ phí lên 4.600 AUD (khoảng 87 triệu đồng) – cũng không hoàn lại nếu đương đơn trượt visa.
Tuy nhiên, nước này thời gian qua cũng khuyến khích các trường tăng cường hợp tác với khu vực Đông Nam Á để hỗ trợ chiến lược kinh tế Đông Nam Á của Úc đến năm 2040, thông qua các chương trình đào tạo, quan hệ đối tác, học bổng…
Song song đó, các ĐH Úc cũng ngày càng ưu ái tuyển sinh du học sinh Việt, thể hiện rõ nét qua chính sách tuyển thẳng học sinh Việt Nam vào năm nhất ĐH chứ không bắt buộc phải học khóa dự bị như trước, cũng như ra mắt các chương trình học bổng dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều trường Úc trực tiếp đến Việt Nam để tư vấn tuyển sinh và kết nối với chính quyền, cựu sinh viên và công ty du học.
Theo kế hoạch của Bộ GD&ĐT, đúng 8h ngày 1/7, thí sinh trên cả nước có thể tra cứu kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026.
Thí sinh có thể tra cứu điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 thông qua báo Dân trí ở địa chỉ: https://dantri.com.vn/giao-duc/tuyen-sinh/tra-cuu-diem.htm
Ngay sau đó, việc đầu tiên cần làm là kiểm tra kỹ kết quả từng môn, đối chiếu với bài làm và dự đoán trước đó. Nếu thấy điểm số có dấu hiệu bất thường, thí sinh cần nộp đơn phúc khảo từ ngày 1/7 đến hết ngày 5/7. Đây là quyền lợi quan trọng và đã có không ít trường hợp thay đổi kết quả sau phúc khảo.
Song song đó, các trường THPT cũng tiến hành xét công nhận tốt nghiệp, thời gian hoàn thành cậm nhất 3/7.
Bên cạnh đó, thí sinh cần lưu ý, chậm nhất đến ngày 7/7, các trường phổ thông sẽ hoàn tất việc cấp Giấy chứng nhận kết quả thi, học bạ và các giấy tờ liên quan bản chính. Đây là những giấy tờ cần thiết cho quá trình xét tuyển và nhập học sau này, vì vậy cần kiểm tra đầy đủ thông tin cá nhân, điểm số, khu vực ưu tiên để tránh sai sót.
Nếu có đăng ký phúc khảo, thí sinh cũng cần theo dõi sát tiến trình xử lý. Việc tổ chức chấm phúc khảo sẽ hoàn thành chậm nhất vào ngày 20/7, và kết quả xét công nhận tốt nghiệp sau phúc khảo sẽ được công bố trước ngày 23/7.
Ngoài câu chuyện điểm số, điều thí sinh cần nắm là không nên vội vàng chốt nguyện vọng ngay khi vừa biết điểm. Hãy dành thời gian phân tích phổ điểm, đối chiếu điểm chuẩn các năm trước, tính toán điểm ưu tiên và sắp xếp nguyện vọng theo chiến lược: ngành yêu thích nhất đặt lên đầu, tiếp đến là nhóm vừa sức và an toàn.
Các chuyên gia tuyển sinh lưu ý, sau kỳ thi, nhiều thí sinh thường chủ quan vì nghĩ “biết điểm là xong”. Thực tế, từ thời điểm công bố điểm đến lúc xác nhận nhập học là cả một chuỗi thủ tục quan trọng. Chỉ cần bỏ lỡ một mốc, cơ hội vào đại học có thể khép lại dù điểm số đủ cao.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay diễn ra ngày 11-12/6, với 2 môn bắt buộc là toán, ngữ văn và 2 môn tự chọn trong số các môn: vật lý, hóa học, sinh học, tin học, công nghệ công nghiệp, công nghệ nông nghiệp, lịch sử, địa lý, giáo dục kinh tế - pháp luật và ngoại ngữ.
Số liệu từ Bộ GD&ĐT, kỳ thi năm nay có hơn 1,2 triệu thí sinh đăng ký dự thi, tăng hơn 61.600 thí sinh so với năm trước.
Thí sinh có thể tra cứu điểm thi tốt nghiệp THPT 2026 thông qua báo Dân trí ở địa chỉ: https://dantri.com.vn/giao-duc/tuyen-sinh/tra-cuu-diem.htm
Tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của ngành nội vụ, diễn ra sáng 9.7, ông Vũ Hải Nam, Vụ trưởng Vụ Tổ chức biên chế (Bộ Nội vụ), đã thông tin về tiến độ sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Báo cáo tại hội nghị, đại diện Bộ GD-ĐT cho biết, đến cuối năm 2025, các địa phương đã hoàn thành phương án sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm tiến độ theo yêu cầu của Trung ương.
Việc sắp xếp được thực hiện theo nguyên tắc giữ ổn định mạng lưới trường lớp, chỉ điều chỉnh những cơ sở có quy mô nhỏ, phân tán hoặc chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức và chất lượng giáo dục.
Đến nay, cả nước đã sáp nhập 1.955 cơ sở giáo dục, giải thể 1.017 cơ sở, thành lập mới 857 cơ sở và tổ chức lại 1.518 cơ sở. Qua đó, tổng số cơ sở giáo dục công lập giảm từ 45.390 xuống còn 39.581, tức giảm 5.809 đầu mối.
Trong đó, số trường mầm non, tiểu học, THCS và các trung tâm giáo dục thường xuyên đều giảm, trong khi số trường THPT tăng thêm 10 trường và số trường phổ thông nhiều cấp học tăng 106 trường, cho thấy xu hướng phát triển mô hình trường liên cấp.
Sau sắp xếp, số trung tâm học tập cộng đồng cũng giảm từ 6.630 xuống còn 2.140 trung tâm. Hiện vẫn còn hơn 1.000 điểm trường dôi dư, bỏ trống và khoảng 1.370 cơ sở được chuyển đổi công năng.
Theo Bộ GD-ĐT, việc sắp xếp đã góp phần tinh gọn đầu mối quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư. Tuy nhiên, tại nhiều địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, việc sắp xếp điểm trường vẫn gặp khó do địa hình chia cắt, dân cư phân tán; việc xử lý cơ sở vật chất dôi dư ở một số nơi cũng còn chậm.
Bộ GD-ĐT đề nghị Bộ Nội vụ tiếp tục phối hợp để hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương sắp xếp, tổ chức các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên phù hợp với chủ trương của Đảng, chỉ đạo của T.Ư về sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời phát huy tính chủ động, trách nhiệm của địa phương trong tổ chức thực hiện.
Bộ GD-ĐT kiến nghị Chính phủ tiếp tục bổ sung biên chế giáo viên, nhất là giáo viên mầm non và giáo viên phục vụ dạy học 2 buổi/ngày; đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý giáo dục theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và bố trí tối thiểu một công chức phụ trách giáo dục tại cấp xã.
Nêu thực tế tại địa phương, bà Cao Thị Huyền Trân, Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng, cho biết tại các đô thị trung tâm, mỗi quận, huyện hiện quản lý từ 30 - 50 trường học bậc mầm non, tiểu học và THCS. Vì vậy, việc tổ chức theo mô hình mỗi xã, phường chỉ có một trường ở mỗi cấp học sẽ rất khó thực hiện ngay và cần có lộ trình phù hợp.
Theo bà Trân, địa phương này sẽ nghiên cứu thí điểm mô hình trường liên cấp, trường quy mô lớn trước khi nhân rộng triển khai trong những năm tới.
Liên quan đến lộ trình này, ông Vũ Hải Nam cho biết, Nghị quyết 19 xác định khu vực sự nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Đến nay, các bộ đã giảm hơn 21% số đơn vị sự nghiệp công lập.
Đối với ngành giáo dục, theo tinh thần chỉ đạo của T.Ư và Chính phủ, thời gian tới sẽ tiếp tục sắp xếp và hoàn thiện lại mô hình các cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông với mục tiêu giảm tối thiểu 30% đầu mối.
"Chúng ta phải áp dụng mô hình trường liên cấp quy mô lớn hoặc một trường có nhiều cấp học tùy theo điều kiện thực tế, bảo đảm học sinh tiếp cận tốt dịch vụ giáo dục", ông Nam nói.
Đối với ngành giáo dục, Bộ Nội vụ đề nghị các địa phương đẩy nhanh việc sắp xếp mạng lưới trường học theo đúng chỉ đạo của T.Ư và Chính phủ.
Còn đối với các trường đại học, cao đẳng, Chính phủ đã có định hướng tại Nghị quyết 19. Bộ Nội vụ cũng đã yêu cầu các địa phương báo cáo kết quả thực hiện và kế hoạch đến hết quý 3 để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, bảo đảm hoàn thành mục tiêu sắp xếp hệ thống giáo dục phổ thông trong tháng 8 và các trường đại học, cao đẳng trong quý 3 năm nay.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 91/2026 quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Theo nghị định, để được công nhận là "đại học", cơ sở giáo dục phải có tỉ lệ giảng viên quốc tế, bao gồm cả giảng viên là người Việt Nam ở nước ngoài và người có quốc tịch nước ngoài tham gia giảng dạy chương trình đào tạo chính quy các trình độ của giáo dục đại học, được xác định trong khoảng thời gian 12 tháng đạt tối thiểu 5% tổng số giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học. Đội ngũ giảng viên cơ hữu trình độ tiến sĩ đạt tỉ lệ tối thiểu 60%.
Về quy mô phải có ít nhất 3 trường thành viên, có ít nhất 25 ngành đào tạo ở mỗi trình độ của giáo dục đại học đang hoạt động theo quy định hiện hành.
Quy mô đào tạo chính quy đạt từ 15.000 người học trở lên, tỉ lệ người học sau đại học trên tổng quy mô đào tạo chính quy đạt tối thiểu 20%, ti lệ người học quốc tế theo học chương trình đào tạo chính quy cấp văn bằng đạt tối thiểu 3%.
Về nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, yêu cầu tỉ lệ sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bình quân của một giảng viên cơ hữu ít nhất trong một năm là 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích; tỉ trọng thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của cơ sở giáo dục đại học.
Tỉ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là tổng thu hoạt động trong năm của cơ sở giáo dục đại học từ các hoạt động thường xuyên (bao gồm cả ngân sách nhà nước, nhà đầu tư hỗ trợ) và thực hiện nhiệm vụ không thường xuyên, không bao gồm kinh phí đầu tư do Nhà nước hoặc nhà đầu tư cấp.
Các trường phải duy trì các điều kiện trên liên tục ít nhất 3 năm mới đủ điều kiện nộp hồ sơ xét duyệt.
Về tiêu chí thành lập trường thành viên/trực thuộc, yêu cầu có ít nhất 5 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ của giáo dục đại học; quy mô đào tạo chính quy từ 3.000 người học trở lên.
Như vậy, so với những quy định trước đây, hầu hết các điều kiện chuyển "trường đại học" lên "đại học" đã chặt chẽ hơn, yêu cầu cao hơn.
Các quy định điều chỉnh như sau:
Cả nước hiện có 13 đại học, bao gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.HCM, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Trà Vinh, Đại học Duy Tân và Đại học Phenikaa.
Khi chuyển đổi từ "trường đại học" lên "đại học", các đại học sẽ quản trị tốt hơn, tận dụng được tài nguyên, nguồn lực hiệu quả hơn, có năng lực tự chủ cao hơn, đó là lợi thế để các cơ sở tiếp tục phát triển.