Thị trường chứng khoán ngày 21/7 tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh khi lực bán áp đảo trên nhiều nhóm cổ phiếu. Kết phiên, VN-Index giảm 12,95 điểm xuống 1.730,56 điểm. Thanh khoản trên HoSE đạt 23.092 tỷ đồng. Độ rộng thị trường nghiêng mạnh về phía giảm giá với 196 mã giảm, trong đó có 9 cổ phiếu giảm sàn, 104 mã tăng, 71 mã đứng giá.
Áp lực bán lan rộng khiến hàng loạt cổ phiếu đóng cửa ở mức giá sàn. Bên cạnh PNJ, nhiều mã khác cũng giảm hết biên độ như CTS, SSC, GAS, HSL, ACC, TNT, TCM và VID. Diễn biến này cho thấy áp lực bán không chỉ xuất hiện ở một nhóm ngành.
Trong đó, PNJ giảm sàn xuống 38.150 đồng/cổ phiếu, khớp lệnh gần 9,66 triệu đơn vị. Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Dân trí về việc cổ phiếu PNJ liên tục bị bán tháo sau biến cố kim cương, ông Phan Quốc Công, Tổng giám đốc Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ), cho hay hiện nay khối ngoại nắm khoảng 49% cổ phiếu PNJ. Trước khi xảy ra sự cố, cổ phiếu này gần như luôn kín room ngoại.
“Dù vậy, hầu như tất cả cổ đông tổ chức vẫn tiếp tục nắm giữ và không có nhiều thay đổi. Ngay một quỹ đầu tư lớn là VinaCapital bán ra, nhưng thực tế lượng bán đó không quá lớn so với lượng nắm giữ của quỹ này. Các cổ đông tổ chức thường dành nhiều thời gian để tìm hiểu sâu và nhìn nhận về cơ bản, nền tảng kinh doanh của công ty không có sự thay đổi. Con người, hệ thống và các nền tảng hoạt động của PNJ vẫn như trước. Điều công ty chịu tác động là khó khăn chung của toàn ngành và điều này sẽ cần thời gian để vượt qua. Chắc chắn mọi việc rồi sẽ ổn định trở lại”, ông Công nói.
Quay trở lại diễn biến thị trường, xét về mức độ ảnh hưởng đến chỉ số, VIC là cổ phiếu tác động tiêu cực lớn nhất tới VN-Index. Theo sau là FPT và PNJ, hai mã đều giảm mạnh trong phiên. Nhóm dầu khí cũng tạo sức ép đáng kể khi GAS, BSR nằm trong nhóm kéo giảm chỉ số mạnh nhất.
Ở chiều ngược lại, lực đỡ cho thị trường chủ yếu đến từ nhóm ngân hàng và một số cổ phiếu vốn hóa lớn. LPB là mã đóng góp tích cực nhất cho VN-Index, tiếp đến là VPB, HPG, SSI, MWG, MCH, VBB, HDB…
Về giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, khối ngoại gần như cân bằng giữa lực mua và bán. Ở chiều bán ròng, VIC, FPT, GAS, ACB, PNJ, TCB, MBB… bị bán ròng. Ngược lại, “cá mập” dồn tiền mua SHB, HDB, VNM, MWG, HPG, MSN…
Video: Thái Phương
Tin Gốc: Dân Trí

Liên quan đến nhiệm vụ này, hầu hết các doanh nghiệp, người dân đều cho rằng việc cắt giảm đã được làm quyết liệt trong các nhiệm kỳ vừa qua nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều thủ tục, điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thậm chí các chuyên gia còn cho rằng việc cắt giảm có nơi chưa đi vào thực chất và lần này cần phải khắc phục.
Ông Phạm Đức Toản, Tổng giám đốc Công ty CP bất động sản EZ, cho rằng trong lĩnh vực xây dựng, đầu tư, kinh doanh bất động sản, dù khung pháp lý khá thông thoáng, nhưng khi đi vào từng quy định cụ thể, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian.
Một dự án xây dựng tòa nhà chung cư, chủ đầu tư phải qua nhiều lần xin ý kiến các sở ngành liên quan. Chẳng hạn, trước khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải xin ý kiến các sở ngành về sự phù hợp quy hoạch, đến khi được phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 lại phải xin ý kiến một lần nữa.
Ngoài ra, trước khi khởi công xây dựng, doanh nghiệp phải trình cấp thẩm quyền thẩm định phương án PCCC tòa nhà. Và sau khi hoàn thành, doanh nghiệp lại phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu phương án PCCC tòa nhà trước khi đưa vào sử dụng.
Cũng theo ông Toản, dù nghị quyết 201/2025/QH15 của Quốc hội cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội theo hướng rút ngắn thủ tục đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhưng theo quy trình này thì thời gian phê duyệt thủ tục đầu tư một dự án trung bình cũng mất khoảng 9 tháng.
Nếu phát sinh vướng mắc, thời gian phê duyệt dự án càng bị kéo dài hơn. Thực tế tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội dù được phê duyệt chủ đầu tư nhưng lại vướng chỉ tiêu dân số nên phải chờ xin ý kiến các sở ngành để điều chỉnh, tăng chỉ tiêu về mật độ dân số trước khi xây dựng.
Đối với các dự án nhà ở thương mại, dù Quốc hội đã ban hành nghị quyết 171/2024/QH15 cho phép thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất. Nhưng trên thực tế, khi chủ đầu tư mua được đất lại phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch các khu đất trước khi xây dựng.
Và để có được quy hoạch xây dựng nhà ở trên đất đã nhận chuyển nhượng, doanh nghiệp phải thực hiện hàng loạt các thủ tục liên quan. "Có thể thấy trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, quy định bên trên đã mở, thông thoáng giống như chúng ta mở cửa chính của một ngôi nhà, nhưng để sử dụng được phải tiếp tục mở khóa cửa từng phòng", ông Toản ví von.
Còn theo đại diện một doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội, thủ tục cấp phép xây dựng các dự án nhà ở, khu đô thị hiện nay nhanh chậm với tùy từng trường hợp. Đối với các chủ đầu tư lớn, thực hiện các siêu dự án như trục cảnh quan sông Hồng, khu đô thị Olympic..., thành phố cho áp dụng cơ chế đặc biệt trong cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng.
Do vậy, các thủ tục liên quan tới dự án được thực hiện đồng thời cùng lúc nên chỉ sau khoảng 3 - 4 tháng, chủ đầu tư dự án đã có mặt bằng sạch để xây dựng. Tuy nhiên, cũng có những dự án mắc kẹt nhiều năm chưa thể xây dựng vì vướng đủ thứ.
Trong kiến nghị gửi tới Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) đã nêu ra hàng loạt vướng mắc, khó khăn về thủ tục hành chính mà các doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải. Cụ thể, trong lĩnh vực kiểm dịch, an toàn thực phẩm, Vasep cho rằng quy định bắt buộc doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung của KCN là quy trình "xử lý kép" bất hợp lý.
Theo đó, doanh nghiệp tự xử lý đạt cột B, sau đó đưa vào hệ thống nước thải của KCN để xử lý tiếp lên cột A, khiến tổng chi phí bị đội lên rất cao từ 18.500 - 28.000 đồng/m3, trong khi nếu doanh nghiệp tự đầu tư xử lý đạt chuẩn cột A từ đầu, chi phí chỉ từ 5.500 - 10.500 đồng/m³, giúp tiết kiệm 13.000 - 17.500 đồng/m³, tương đương hàng trăm tỉ đồng/năm cho toàn ngành.
Vì thế, Vasep kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 và nghị định 08/2022 theo hướng cho phép doanh nghiệp thủy sản trong KCN được miễn trừ đấu nối hệ thống tập trung nếu tự đầu tư, vận hành hệ thống xử lý riêng đạt chuẩn cột A trước khi xả thải.
Vasep cũng nêu những bất cập trong hướng dẫn về mức thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản. Theo đó, cùng một sản phẩm phế liệu (đến từ hai dây chuyền sản xuất, dây chuyền sản xuất sản phẩm sơ chế và dây chuyền sản xuất sản phẩm có gia nhiệt), bán cho cùng một khách hàng tại cùng một thời điểm nhưng lại có hai thuế suất VAT khác nhau.
Vì vậy, hiệp hội đề nghị Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn cho tất cả các chi cục thuế địa phương và các doanh nghiệp để các loại phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản (dù của mặt hàng sơ chế hay chế biến) nhưng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì không phải kê khai, tính nộp thuế VAT ở khâu kinh doanh thương mại.
Ngoài ra, Vasep cũng cho rằng đang có bất cập về thuế suất thuế VAT cho sản phẩm thủy sản đông lạnh do quan điểm không thống nhất giữa Bộ Tài chính và Cục Thuế về thuế suất VAT với sản phẩm thủy sản đông lạnh.
Vasep đề nghị Bộ Tài chính và Cục Thuế sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất, rõ ràng gửi tới các Cục Thuế địa phương và doanh nghiệp, theo hướng ưu đãi thuế TNDN thực hiện theo công văn 2550/BTC-TCT, áp dụng cho sản phẩm được xác định là "chế biến" theo quy định.
Việc áp dụng thuế VAT phải thực hiện đúng theo thông tư 219 của Bộ Tài chính, không mặc định rằng nếu sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì phải chịu thuế VAT 10%. Nếu sản phẩm đông lạnh chưa qua chế biến sâu, chỉ sơ chế như rửa, cấp đông, cắt khúc... cần được xác định là không chịu thuế VAT như trước nay vẫn áp dụng.
"Việc hướng dẫn cần mang tính thống nhất, áp dụng đồng bộ trên toàn quốc để tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu và thực hiện khác nhau, làm tăng gánh nặng và rủi ro cho doanh nghiệp", đại diện hiệp hội này kiến nghị.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết còn nhiều quy định chưa phù hợp trong ngành sản xuất chăn nuôi và thực phẩm, dù đã có sửa đổi trong quy định để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Cụ thể, theo ông Dương, sau khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, hàng hóa sẽ được phân loại mức độ rủi ro để quản lý. Vấn đề đặt ra là phân loại ra sao, phương pháp quản lý thế nào để vừa tạo điều kiện môi trường tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có không gian cho cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm đảm bảo an toàn, doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh.
Như với ngành chăn nuôi, một sản phẩm thức ăn chăn nuôi bao gồm nguyên liệu thông thường như ngô, đậu tương, đậu nành... không có rủi ro cao, nhưng có những thức ăn bổ sung như kim loại, lại có yếu tố rủi ro cao hơn, nên cần phân loại sao cho phù hợp. Hay nhiều mặt hàng khác như phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật... phân loại vào nhóm nào?...
Theo ông Dương, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, các bộ cần dũng cảm bỏ bớt công việc, chỉ thực hiện chức năng kiến tạo và thiết kế chính sách để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương thực hiện. Cũng với đó, phải tăng cường hậu kiểm theo hướng kiểm soát rủi ro, kiểm soát mối nguy, tăng cường vai trò tự chịu trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh, thay vì thắt chặt quản lý.
Bởi muốn tăng trưởng hai con số, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, cần phải nâng cao sức sản xuất, giải phóng tiềm năng sản xuất đang còn nằm trong dân, doanh nghiệp. "Do đó, phải tập trung cải cách thể chế, thủ tục và điều kiện kinh doanh. Mạnh dạn cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không đảm bảo tính khả thi trong thực hiện", ông Dương nói.
Ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, cho rằng việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã được làm quyết liệt trong nhiệm kỳ vừa rồi, song vẫn được Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ này quan tâm và ưu tiên ngay, cho thấy đây vẫn đang là vấn đề cấp bách, cần tiếp tục được tháo gỡ. Nếu giảm được các thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa rất lớn và cần thiết trong bối cảnh khó khăn hiện nay.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Giá dầu tăng, có công ty dầu khí Việt báo lãi 3.300 tỷ đồng trong 3 tháng

Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã chứng khoán: BSR) đã công bố số liệu kinh doanh quý I với doanh thu ước đạt 41.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 3.347 tỷ đồng - cao gấp 8 lần cùng kỳ. Doanh nghiệp này thậm chí đã vượt kế hoạch lãi sau thuế của cả năm nay (kế hoạch là 2.162 tỷ đồng).
Kết quả đột biến có được trong cuộc khủng hoảng năng lượng do căng thẳng Trung Đông. BSR cho biết đã tận dụng tối đa thời cơ khi giá dầu tăng.
Tổng Công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (Đạm Cà Mau, mã chứng khoán: DCM) cũng ghi nhận 3 tháng đầu tăng trưởng đột biến khi doanh thu đạt 5.370 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 837 tỷ đồng - tăng đến 84% so với cùng kỳ, cũng là mức cao nhất trong nhiều năm gần đây.
Ở nhóm tài chính, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (mã chứng khoán: MBS) công bố doanh thu hoạt động quý đầu năm đạt 1.019 tỷ đồng, tăng hơn 50% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ hai trụ cột là cho vay ký quỹ và môi giới. Lãi từ cho vay và doanh thu môi giới cũng tăng mạnh, song hoạt động tự doanh kém khả quan khiến lợi nhuận trước thuế quý I chỉ tăng 8%, đạt gần 368 tỷ đồng.
Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap (mã chứng khoán: VCI) cũng đã công bố số lợi nhuận dự kiến đạt khoảng 400 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ. Trong khi đó, Chứng khoán TPHCM (mã chứng khoán: HCM) ghi nhận doanh thu 1.264 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 356 tỷ đồng, cùng tăng 26% trong quý đầu năm (động lực chính tiếp tục đến từ mảng cho vay margin).
Khối các ngân hàng đã có đơn vị đầu tiên hé lộ số lợi nhuận quý I với bức tranh ban đầu tương đối khả quan. Cụ thể, chia sẻ tại kỳ họp cổ đông vừa qua, lãnh đạo Ngân hàng TMCP Á Châu (mã chứng khoán: ACB) cho biết lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I đạt khoảng 5.400 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ và tăng mạnh so với quý trước, hoàn thành khoảng 24% kế hoạch cả năm.
Ngoài ra, còn có Tập đoàn Gelex (GEX) ước đạt doanh thu hợp nhất 10.100 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế hơn 700 tỷ đồng, tăng lần lượt 20% và 10% trong quý I. Tổng Công ty Viglacera (mã chứng khoán: VGC) ước đạt 393 tỷ đồng lợi nhuận - giảm 5% so với cùng kỳ.
Tin Gốc: Dân Trí

Tại họp báo Triển lãm Quốc tế Chuyên ngành Nguyên liệu, Hương liệu, Phụ gia Chế biến Thực phẩm & Đồ uống (Fi Vietnam 2026) ngày 9/4, bà Lý Kim Chi - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP HCM - cho biết làn sóng tăng giá đang diễn ra đồng thời ở nhiều nhóm chi phí quan trọng, tạo áp lực lớn lên toàn ngành.
Theo bà, xung đột Trung Đông đang đẩy chi phí ngành thực phẩm - đồ uống tăng mạnh trên ba trụ cột chính gồm năng lượng, logistics và nguyên liệu nông sản. Giá dầu thô và khí đốt tăng khiến chi phí sản xuất và bao bì nhựa, nhôm đội lên. Đồng thời, gián đoạn các tuyến hàng hải quốc tế làm cước vận tải leo thang, kéo theo giá nhiều nguyên liệu nhập khẩu thiết yếu như đường, dầu thực vật, ngũ cốc và phụ gia tăng thêm 5-10%.
Đáng chú ý, giá phân bón tăng mạnh trong bối cảnh Trung Đông là một trong những nguồn cung lớn đang tạo hiệu ứng dây chuyền lên giá nông sản, qua đó tiếp tục gây áp lực lên chi phí đầu vào của lĩnh vực chế biến thực phẩm. Tính chung, theo bà Chi, có khoảng 50-60% nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp trong ngành đã tăng giá, cả ở nguồn nhập khẩu lẫn nội địa.
Ở góc độ doanh nghiệp, áp lực không chỉ nằm ở chi phí mà còn ở khả năng tiếp cận nguồn hàng. Lãnh đạo một doanh nghiệp nhập khẩu gia vị và nguyên liệu ngành sữa tại TP HCM cho biết nguồn cung toàn cầu không thiếu, nhưng việc vận chuyển về Việt Nam ngày càng khó khăn. Từ khi xung đột xảy ra, cước vận tải tăng cao trong khi container lạnh khan hiếm khiến nhiều đơn hàng bị chậm trễ.
"Chúng tôi vẫn đang cố giữ giá bán, nhưng biên lợi nhuận bị bào mòn khi chi phí đầu vào tăng 7-15% tùy loại", vị này nói, cho biết nếu tình hình kéo dài, áp lực điều chỉnh giá là khó tránh khỏi.
Áp lực này cũng đang phản ánh ở quy mô toàn ngành. Dù chi phí đầu vào tăng mạnh, giá bán lẻ nhiều mặt hàng thiết yếu tại siêu thị vẫn chưa tăng tương ứng. Nguyên nhân là các doanh nghiệp lớn thường có nguồn dự trữ nguyên liệu từ 3 đến 6 tháng, giúp "neo giá" trong ngắn hạn. Không ít doanh nghiệp chấp nhận thu hẹp biên lợi nhuận, thậm chí bán hòa vốn, hoặc chịu lỗ ở một số mặt hàng để duy trì nguồn cung và ổn định thị trường.
Tuy vậy, dư địa giữ giá không còn nhiều. Khi lượng hàng dự trữ dần cạn, nếu chi phí năng lượng và logistics tiếp tục neo cao, áp lực tăng giá bán lẻ sẽ trở nên rõ nét hơn trong thời gian tới.
Ở góc nhìn quốc tế, bà Rose Chitanuwat - Giám đốc chuỗi dự án ASEAN của Tập đoàn Informa Markets, cho rằng dù bối cảnh chi phí toàn cầu gia tăng, ngành thực phẩm vẫn có dư địa tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu.
Theo bà, Việt Nam đang sở hữu lợi thế lớn về thị trường và du lịch. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam vẫn duy trì ở mức cao, ngay cả trong bối cảnh bất ổn toàn cầu. "Khách du lịch đến Việt Nam vẫn phải ăn uống, do đó ngành thực phẩm và đồ uống luôn có nhu cầu ổn định và là lĩnh vực không thể thay thế", bà nói.
Tuy nhiên, thách thức lớn nằm ở cấu trúc doanh nghiệp khi phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Trong khi các tập đoàn lớn đã có hệ thống kiểm soát chất lượng chặt chẽ, nhiều cơ sở nhỏ lẻ - đặc biệt trong lĩnh vực ẩm thực đường phố - vẫn gặp khó trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm, yếu tố then chốt để giữ niềm tin người tiêu dùng và du khách quốc tế.
Bà Rose cũng nhấn mạnh cơ hội mở rộng sang các thị trường mới như Halal - phân khúc đang tăng trưởng nhanh trên toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, doanh nghiệp cần đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và đầu tư bài bản hơn vào sản phẩm, quy trình và chứng nhận.
Ở chiều ngược lại, về giải pháp, các chuyên gia cho rằng doanh nghiệp không thể tiếp tục cạnh tranh bằng giá trong bối cảnh chi phí leo thang, mà cần chuyển sang tối ưu chi phí và nâng giá trị gia tăng.
PGS TS Hoàng Kim Anh - Ủy viên Ban thường vụ Hội Khoa học và Công nghệ thực phẩm Việt Nam, khuyến nghị doanh nghiệp tận dụng nguyên liệu nội địa để giảm phụ thuộc nhập khẩu, đồng thời cải tiến quy trình sản xuất nhằm giảm hao hụt và nâng hiệu quả vận hành. Về dài hạn, hướng đi bền vững là đầu tư vào chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm thay vì xuất khẩu thô.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào biến động mạnh, thị trường không còn chỗ cho tăng trưởng đại trà. Doanh nghiệp nào thích ứng nhanh, kiểm soát tốt chi phí và chuyển sang cạnh tranh bằng giá trị sẽ có cơ hội giữ vững vị thế, trong khi những đơn vị chậm thay đổi có thể đối mặt với áp lực lớn ngay trên sân nhà.
Dù chịu áp lực chi phí, thị trường thực phẩm, đồ uống vẫn duy trì đà tăng trưởng. Số liệu cho thấy quy mô ngành tiếp tục mở rộng theo giá trị, với chỉ số sản xuất công nghiệp hai tháng đầu năm tăng 13,2%.
Xuất khẩu quý I cũng đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% và là mức cao nhất trong vòng 6 năm, cho thấy ngành vẫn giữ được nhịp tăng trưởng, thậm chí có dấu hiệu bứt phá trong bối cảnh nhiều biến động.
Thi Hà
Nguồn: https://vnexpress.net/gia-dau-vao-nganh-thuc-pham-do-uong-leo-thang-5060481.html

