Mỹ ngày 4/7/1776 tuyên bố độc lập, mở đầu cho quá trình hình thành một quốc gia mới ở Bắc Mỹ. Gần 11 năm sau, các nhà lập quốc Mỹ mới soạn thảo hiến pháp Mỹ và thông qua để văn kiện này có hiệu lực từ năm 1789, trở thành nền tảng cho hệ thống chính trị liên bang.
Sau hơn hai thế kỷ, hiến pháp Mỹ vẫn là một trong những văn kiện lập pháp lâu đời và có sức ảnh hưởng nhất thế giới. Nội dung hiến pháp Mỹ cũng đối mặt nhiều nỗ lực thay đổi trong thời gian này. Các nghị sĩ đã trình gần 12.000 đề xuất và chỉ 27 tu chính án được phê chuẩn, trở thành một phần hiến pháp. Trong số này, 10 tu chính án đầu tiên nằm trong Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ năm 1791.
Trong số những đề xuất bị bác bỏ có những ý tưởng khác thường mà nếu được thông qua, nước Mỹ có thể đã trở thành một phiên bản rất khác với hiện tại.
Đổi tên quốc gia
Năm 1866, hạ nghị sĩ George Washington Anderson đề xuất bỏ cụm từ United States (Hợp chúng quốc) khỏi tên chính thức của đất nước và đổi thành America (Mỹ). Anderson lập luận rằng tên gọi hiện tại chưa phản ánh đầy đủ sự thống nhất và vị thế mà nước Mỹ có thể đạt được trong tương lai, nhưng đề xuất này không được chấp nhận.
Năm 1893, hạ nghị sĩ Lucas Miller đưa ra một ý tưởng táo bạo hơn. Ông trình cùng lúc 46 dự luật, trong đó có một đề xuất đổi tên quốc gia thành United States of the Earth (Hợp chúng quốc Trái Đất).
Ông cho rằng nước Mỹ có thể tiếp tục mở rộng cho đến khi mọi quốc gia trên thế giới đều gia nhập liên bang. Đề xuất bị dư luận chế giễu và nhanh chóng rơi vào quên lãng.
Xóa bỏ ghế Tổng thống
Năm 1860, ngay trước khi nội chiến Mỹ xảy ra, hạ nghị sĩ John William Noell đã đề xuất bãi bỏ chức vụ tổng thống và thay bằng một hội đồng hành pháp ba thành viên đến từ ba khu vực khác nhau của đất nước. Mỗi thành viên có quyền phủ quyết hai người còn lại.
Ý tưởng này tiếp tục xuất hiện sau nội chiến. Năm 1878, hạ nghị sĩ Milton Isaiah Southard đề xuất thành lập hội đồng hành pháp gồm ba tổng thống, đại diện cho khu vực miền Tây, miền Nam và khu vực miền Đông cùng miền Trung. Southard cho rằng người dân Mỹ phản đối việc quyền lực tập trung vào một cá nhân, vì điều đó khiến tổng thống mang dáng dấp của chế độ quân chủ.
Xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ
Sau khi Tu chính án thứ 22 được phê chuẩn vào năm 1951, quy định tổng thống chỉ được giữ chức tối đa hai nhiệm kỳ, các nghị sĩ Mỹ đã nhiều lần tìm cách bãi bỏ quy định này để tổng thống có thể phục vụ số nhiệm kỳ không giới hạn nếu tiếp tục được cử tri lựa chọn.
Những người phản đối cho rằng Tu chính án thứ 22 về bản chất là “phi dân chủ, vì ngăn cản cử tri bầu một ứng viên đủ năng lực mà họ ủng hộ”. Ngược lại, phe ủng hộ giới hạn nhiệm kỳ cho rằng đây là “cơ chế kiểm soát thiết yếu nhằm ngăn chặn sự sùng bái cá nhân và quyền lực tổng thống trở nên quá lớn”.
Bốc thăm bầu tổng thống
Nhiều đề xuất sửa đổi Hiến pháp từng tìm cách thay đổi phương thức bầu tổng thống, nhưng ít ý tưởng nào khác thường như đề xuất từ thượng nghị sĩ James Hillhouse vào năm 1808.
Hillhouse đề xuất rút ngắn nhiệm kỳ thượng nghị sĩ từ 6 năm xuống còn 3 năm và sắp xếp để mỗi năm có 1/3 số ghế được bầu lại. Các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm sẽ bốc một quả bóng từ trong hộp. Người bốc trúng quả bóng màu duy nhất sẽ trở thành tổng thống trong thời hạn một năm.
Hillhouse không phải là người đầu tiên đưa ra ý tưởng bốc thăm để chọn tổng thống. Tại Hội nghị Lập hiến năm 1787, đại diện bang Pennsylvania James Wilson từng đề xuất chọn ngẫu nhiên một nhóm nhỏ nghị sĩ có quyền quyết định ai giữ chức tổng thống.
“Đây là ý tưởng sáng tạo, nhưng hầu như không ai cho rằng đó là một phương án khả thi”, theo sử gia David O. Stewart, tác giả cuốn The Summer of 1787: The Men Who Invented the Constitution.
Thêm/xóa bỏ phó tổng thống
Năm 1897, sử gia Herman Ames, Đại học Pennsylvania, liệt kê các đề xuất sửa đổi hiến pháp kể từ khi Mỹ lập quốc và ghi nhận có 7 đề xuất bãi bỏ chức vụ phó tổng thống. Phe ủng hộ cho rằng đây là một vị trí “thừa thãi”, và một trong những người đề xuất là Hillhouse. Những nỗ lực tương tự vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 20.
Những người khác lại cho rằng nước Mỹ cần nhiều hơn một người giữ vai trò phó tổng thống.
Năm 1881, hạ nghị sĩ Nathaniel Job Hammond đề xuất thành lập ba chức danh gồm phó tổng thống thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Năm 1964, thượng nghị sĩ Kenneth Keating đề xuất chia chức vụ này thành hai vị trí riêng biệt, lần lượt phụ trách nhánh hành pháp và lập pháp.
Năm 1911, hạ nghị sĩ Victor Berger cho rằng Thượng viện “là cơ quan cản trở và vô tác dụng, là mối đe dọa đối với các quyền tự do của người dân và là rào cản đối với sự phát triển của xã hội”. Ông đề xuất xóa bỏ Thượng viện, tập trung quyền lập pháp vào Hạ viện.
Theo Berger, các quyết định của Hạ viện sẽ trở thành “luật tối cao”, tổng thống sẽ không còn quyền phủ quyết, tòa án cũng không được quyền tuyên bố các quyết định đó là vi hiến.
Xóa bỏ cử tri đoàn
Việc bầu tổng thống Mỹ thông qua cử tri đoàn thay vì bằng phổ thông đầu phiếu đã gây tranh cãi ngay từ khi hiến pháp được ban hành. Sử gia Ames mô tả “không có phần nào của hiến pháp gây ra nhiều sự bất mãn và kéo theo nhiều đề xuất sửa đổi nhằm thay đổi như cơ chế này”.
Một trong những nguyên nhân chính là kết quả phiếu đại cử tri không phải lúc nào cũng trùng với kết quả phổ thông đầu phiếu. Điều này khiến ứng viên giành nhiều phiếu bầu của cử tri toàn quốc hơn vẫn thất cử. Tình huống này đã xảy ra 5 lần, trong các cuộc bầu cử tổng thống năm 1824, 1876, 1888, 2000 và 2016.
Một đề xuất thay thế cử tri đoàn bằng hình thức bầu cử trực tiếp từng được Hạ viện thông qua năm 1969, nhưng không thể vượt qua Thượng viện.
Nỗ lực gần nhất được hạ nghị sĩ Steve Cohen đệ trình tháng 12/2024. Ông cho rằng cử tri đoàn là di sản còn sót lại từ thế kỷ 18, khi cử tri hầu như không biết các ứng viên là ai, trong khi bối cảnh hiện tại đã khác nhiều.
Lập tòa án vượt thẩm quyền Tòa án Tối cao
Ý tưởng xuất hiện khi có quan điểm cho rằng Tòa án Tối cao nhiều lần can thiệp và vô hiệu hóa các đạo luật cấp bang, dẫn đến nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp cấp cao hơn nữa. Cơ quan này sẽ có quyền xem xét và hủy bỏ các phán quyết của Tòa án Tối cao.
Đề xuất sớm nhất được cho là từ thượng nghị sĩ Garrett Davis năm 1867, kêu gọi lập “hội đồng xét xử” với mỗi bang bổ nhiệm một thành viên. Những đề xuất sau đó phát triển ý tưởng này thành một tòa án gồm các chánh án hoặc thẩm phán cao nhất từng bang, gọi là Court of the Union (Tòa án của Liên bang).
It nhất 15 đề xuất sửa đổi hiến pháp để lập Tòa án của Liên bang đã được đệ trình trong giai đoạn 1963-1981 nhưng đều thất bại.
Giới hạn tài sản cá nhân
Năm 1933, thời điểm u ám nhất trong Đại Suy thoái, hạ nghị sĩ Wesley Lloyd đề xuất trao cho quốc hội quyền đặt ra mức trần đối với tài sản cá nhân của người Mỹ. Để giảm bớt tính cực đoan của đề xuất, Lloyd cho rằng mức trần không nên thấp hơn 1 triệu USD, tương đương hơn 25,7 triệu USD theo giá trị hiện nay.
“Lý do nhiều người quá nghèo là vì một số rất ít người lại quá giàu”, ông Lloyd lập luận.
Cho người dân Mỹ quyền bỏ phiếu tuyên chiến
Quyền tuyên chiến, vốn được hiến pháp Mỹ trao cho quốc hội, từ lâu đã là chủ đề gây nhiều tranh cãi và cũng là mục tiêu của nhiều đề xuất sửa đổi.
Năm 1916, một năm trước khi Mỹ tham gia Thế chiến I, hạ nghị sĩ Denver Samuel Church đề xuất một tu chính án quy định mọi tuyên bố chiến tranh trước hết phải được đưa ra trưng cầu dân ý và chỉ có hiệu lực nếu được đa số cử tri chấp thuận. Ông vẫn đề xuất ngoại lệ đối với các trường hợp khẩn cấp, như khi Mỹ bị tấn công.
Trong những năm sau đó, đặc biệt là suốt thập niên 1930 khi nguy cơ chiến tranh ở châu Âu ngày càng gia tăng, nhiều đề xuất tương tự tiếp tục được trình lên quốc hội Mỹ.
Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ, tu chính án được phê chuẩn gần đây nhất là Tu chính án thứ 27, có hiệu lực năm 1992. Tu chính án quy định mọi luật tăng lương cho các thành viên quốc hội chỉ có hiệu lực sau cuộc bầu cử tiếp theo, ngăn quốc hội tự tăng lương trong nhiệm kỳ hiện tại.
Cho đến nay, hiến pháp Mỹ mới chỉ có một tu chính án từng bị bãi bỏ. Đó là khi Tu chính án thứ 21 được phê chuẩn năm 1933 để hủy bỏ Tu chính án thứ 18 về lệnh cấm rượu.
"Thỏa thuận giữa Mỹ, Iran và nhiều quốc gia khác đang chờ được hoàn tất. Bên cạnh nhiều yếu tố, eo biển Hormuz sẽ được mở trở lại", Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng trên mạng xã hội Truth Social ngày 23/5, liệt kê một số quốc gia Trung Đông cùng với Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan, nước đóng vai trò trung gian hòa giải.
Theo ông Trump, lãnh đạo Arab Saudi, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Qatar, Ai Cập, Jordan và Bahrain đã tham gia cuộc điện đàm hôm 23/5 để thảo luận về thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột. Tổng thống Mỹ cũng đã điện đàm riêng với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, cho biết cuộc trao đổi "diễn ra rất tốt đẹp".
"Những khía cạnh, chi tiết cuối cùng của thỏa thuận đang trong quá trình thảo luận và sẽ sớm được công bố", ông cho hay.
Iran chưa phản hồi về thông tin.
Tuyên bố của ông Trump được đưa ra sau khi giới chức Iran cho biết vẫn còn tồn tại bất đồng giữa các bên, nhấn mạnh tranh chấp liên quan chương trình hạt nhân của Tehran sẽ không nằm trong giai đoạn đàm phán đầu tiên. Iran cho biết họ đang hoàn thiện khuôn khổ thỏa thuận gồm 14 điểm.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baqaei hôm 23/5 ghi nhận hai bên có "xu hướng xích lại gần nhau", nhưng thêm rằng điều đó không đồng nghĩa Iran và Mỹ sẽ đạt được thỏa thuận về những vấn đề quan trọng. Ông Baqaei hy vọng các chi tiết của thỏa thuận cuối cùng có thể được hoàn thiện "trong khoảng thời gian hợp lý 30-60 ngày" sau khi khuôn khổ được thống nhất.
Theo ông, trọng tâm của thỏa thuận khung đang được đàm phán là chấm dứt "giao tranh ở mọi mặt trận, trong đó có Lebanon", cũng như chiến dịch phong tỏa của Mỹ đối với cảng biển Iran. Quan chức này thêm rằng các điều khoản liên quan eo biển Hormuz cũng nằm trong khuôn khổ dự thảo, song không nêu chi tiết.
Iran đã phong tỏa gần như hoàn toàn tuyến hàng hải huyết mạch này kể từ khi xung đột bùng phát, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường năng lượng toàn cầu. Tehran khẳng định tàu thuyền phải được lực lượng vũ trang nước này cấp phép trước khi đi qua.
Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Ghalibaf cảnh báo Washington sẽ phải đối mặt với phản ứng cứng rắn nếu nối lại chiến dịch tập kích, sau khi truyền thông Mỹ nêu khả năng nước này phát động tấn công trở lại và các quan chức Iran chỉ trích Mỹ đưa ra "những yêu cầu quá đáng".
Giao tranh bùng phát hôm 28/2 khi Mỹ - Israel tập kích Iran, sát hại lãnh tụ tối cao Ali Khamenei và nhiều quan chức cấp cao của quốc gia Tây Á. Iran đáp trả bằng cách phóng tên lửa và máy bay không người lái vào các mục tiêu trên khắp khu vực. Hai bên đạt thỏa thuận ngừng bắn hôm 8/4.
Nhiều tuần đàm phán, bao gồm cả các cuộc gặp trực tiếp mang tính lịch sử do Pakistan tổ chức hồi tháng 4, đến nay vẫn chưa mang lại giải pháp lâu dài hay khôi phục hoàn toàn hoạt động tại eo biển Hormuz.
Thế bế tắc khiến người dân Iran rơi vào trạng thái bất an. "Cái trạng thái 'không giao tranh cũng chẳng hòa bình' còn khủng khiếp hơn cả giao tranh. Tôi sắp bắt đầu công việc mới, nhưng lại lo chiến sự có thể bùng nổ trở lại, rồi tôi sẽ lại phải bỏ việc như trước và chạy sang thành phố khác vì lo sợ", Shahrzad, 39 tuổi, sống tại Tehran, cho hay.
"Các thành phố trú ẩn có nên được phép làm thủ tục hải quan cho khách nhập cảnh không", Bộ trưởng An ninh Nội địa Mỹ Markwayne Mullin đặt câu hỏi trong cuộc phỏng vấn với Fox News hôm 6/4. "Chúng tôi sẽ cần nghiêm túc xem xét tình trạng các thành phố trú ẩn vẫn tiếp nhận chuyến bay quốc tế, nhưng chính quyền địa phương không sẵn sàng thực thi chính sách nhập cư".
"Thành phố trú ẩn" là nơi mà chính quyền địa phương, thường do đảng Dân chủ lãnh đạo, từ chối bắt và bàn giao những người nhập cư không có giấy tờ cho giới chức liên bang vì không muốn họ bị trục xuất.
Ông Mullin cho biết đang cân nhắc hạn chế hoặc rút nhân viên Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới (CBP), lực lượng đảm nhận công tác kiểm soát xuất nhập cảnh, khỏi các sân bay quốc tế lớn tại những "thành phố trú ẩn" này. Nếu CBP bị rút đi, các sân bay nhiều khả năng sẽ không thể tiếp nhận khách quốc tế nhập cảnh vào Mỹ hoặc xuất cảnh.
Sân bay quốc tế Los Angeles (LAX) và sân bay quốc tế San Francisco (SFO), đều thuộc bang California, là hai trong số các sân bay quốc tế lớn nhất của Mỹ và được đặt tại những nơi mà chính phủ liên bang coi là "thành phố trú ẩn". Năm 2025, SFO đón hơn 50 triệu lượt khách đi và đến, còn LAX đón hơn 73 triệu lượt.
Ý tưởng rút nhân viên CBP khỏi sân bay tiếp tục được ông Mullin nhắc lại khi trao đổi với các phóng viên tại North Carolina ngày 7/4. Đề xuất được đưa ra trong bối cảnh quốc hội Mỹ vẫn chưa đạt được thỏa thuận cấp ngân sách cho DHS, do vấp phải sự phản đối của các nghị sĩ Dân chủ.
Theo Reuters, ông Mullin dự kiến trao đổi với Tổng thống Donald Trump về khả năng rút lực lượng CBP khỏi những sân bay này. "Nếu các thành phố kiên quyết không thực thi chính sách nhập cư, không có lý do gì để chúng tôi xử lý thủ tục cho hành khách quốc tế đi qua đó", ông nói.
Quan điểm của ông Mullin cũng giống với người tiền nhiệm Kristi Noem. Bà Noem từng chỉ đạo các chiến dịch thực thi luật nhập cư tại các thành phố do đảng Dân chủ lãnh đạo và công khai nêu tên 500 thành phố, hạt và bang bị cho là cản trở việc thực thi luật nhập cư của chính quyền liên bang.
Hồi tháng 8/2025, bộ trưởng tư pháp Mỹ khi đó là Pam Bondi cũng đã gửi thư cảnh báo tới 32 "thành phố trú ẩn", yêu cầu họ tuân thủ chính sách nhập cư liên bang.
Năm ngoái, Tổng thống Trump ký sắc lệnh hành pháp nhằm siết chặt các biện pháp đối với những thành phố không hợp tác với cơ quan di trú liên bang. Mullin cho biết ông cũng có kế hoạch đi theo hướng này.
"Chúng tôi sẽ phải bắt đầu ưu tiên một số việc. Hãy nhớ rằng đảng Dân chủ muốn cắt ngân sách của CBP. Vậy ai sẽ xử lý thủ tục cho hành khách khi họ bước xuống máy bay? Vì thế tôi buộc phải đưa ra những quyết định khó khăn để biết ai sẵn sàng hợp tác với chúng tôi", ông nói.
Sau phát biểu của ông Mullin, Văn phòng Thống đốc bang California Gavin Newsom gọi đây là "ý tưởng ngu ngốc".
"Nếu bạn cho rằng nền kinh tế đã đủ tệ khi cuộc chiến của ông Trump khiến giá xăng tăng, hãy chờ đến khi các chuyến bay quốc tế bị đình trệ tại một số sân bay đông đúc nhất thế giới", văn phòng nhấn mạnh.
Theo USA Today, nếu DHS thực sự triển khai chính sách này, đây sẽ là động thái leo thang mới của chính quyền Tổng thống Trump nhằm gây sức ép đối với các "thành phố trú ẩn".
Minh Hạnh (Theo USA Today, Hill)
"Chúng tôi thực hiện bước đi này để bảo vệ chủ quyền và các quyền trên biển của Campuchia phù hợp với luật quốc tế" - Thủ tướng Campuchia Hun Manet giải thích.
Theo Hãng tin Reuters, Chính phủ Campuchia cho biết đã chỉ định Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia Prak Sokhonn làm đại diện trong tiến trình hòa giải, cùng với nhà ngoại giao Đan Mạch Peter Taksøe-Jensen và học giả Pháp Jean-Marc Thouvenin làm hòa giải viên.
Tuyên bố của Chính phủ Campuchia nêu rằng Thái Lan hiện có 21 ngày để chỉ định hai hòa giải viên của mình. Sau đó, các hòa giải viên sẽ lựa chọn một chủ tịch nhằm hoàn tất việc thành lập ủy ban hòa giải dưới sự giám sát của Tổng thư ký Liên hợp quốc.
Bộ Ngoại giao Thái Lan chưa đưa ra bình luận.
Thái Lan đã nhiều lần bác bỏ những nỗ lực của Campuchia trong việc giải quyết tranh chấp thông qua các cơ chế quốc tế, gồm cả Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), và khẳng định các vấn đề như vậy cần được giải quyết thông qua đàm phán song phương.
Động thái trên diễn ra sau khi Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul hồi tháng 5 đơn phương tuyên bố hủy thỏa thuận thăm dò năng lượng ngoài khơi với Campuchia, bất chấp Phnom Penh kêu gọi duy trì văn kiện đã tồn tại 25 năm.
Thỏa thuận này còn được gọi là Bản ghi nhớ 44 (MOU 44), đạt được năm 2001 nhằm xây dựng khuôn khổ cùng thăm dò dầu khí tại các khu vực chồng lấn trên vịnh Thái Lan. Quyết định hủy MOU 44 cũng là cam kết tranh cử của Thủ tướng Anutin.
Thái Lan và Campuchia đều tuyên bố chủ quyền đối với khoảng 26.000 km² vùng biển trên Vịnh Thái Lan, được gọi là Vùng chồng lấn yêu sách (OCA). Khu vực này được cho là chứa trữ lượng dầu mỏ và khí đốt lớn, với tổng giá trị ước tính khoảng 300 tỉ USD, theo Reuters.
Theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) năm 1982, quy trình hòa giải bắt buộc cho phép một hội đồng chuyên gia độc lập xem xét tranh chấp và đưa ra khuyến nghị, dù các kết luận này không mang tính ràng buộc pháp lý đối với các bên.
Trước đây, Thái Lan từng cho biết sẽ sử dụng UNCLOS làm cơ sở tham chiếu trong lúc tiếp tục đàm phán trực tiếp với Campuchia về phân định ranh giới trên biển.
Tuần trước Bộ trưởng Năng lượng Campuchia chia sẻ với Reuters rằng cú sốc dầu mỏ do xung đột ở Trung Đông gây ra đã làm gia tăng tính cấp thiết của việc giải quyết tranh chấp và khai thác các nguồn năng lượng dưới biển.