Rạng sáng 22.6 vừa qua, người dân tổ 19, ấp Kinh Đào, xã Phú Hòa (tỉnh An Giang) hoảng hốt bởi tiếng đất đá đổ sụp xuống kênh Đòn Dong. Khoảng 45 m bờ kênh đổ sập, kéo theo hơn 5,5 m mặt đường nhựa xuống kênh. Giao thông cắt đứt, cột điện, đường ống cấp nước và khoảng 10 căn nhà dân đứng trước nguy cơ bị sạt lở cuốn xuống dòng nước bất cứ lúc nào.
Chưa đầy 2 ngày sau, sáng 24.6, tại khu vực bến sông Cái thuộc ấp Vĩnh Hiệp, xã Vĩnh Hòa, thêm một vụ sạt lở nghiêm trọng xảy ra khiến 3 căn nhà bị sập hoàn toàn xuống sông. Thiệt hại tài sản ước tính khoảng 1,7 tỉ đồng.
Đứng lặng nhìn nơi từng là căn nhà gắn bó hơn hai thập niên trôi theo dòng nước, ông Danh Năm (60 tuổi) chưa hết bàng hoàng. Ông nói: “Gia đình tôi sống ở đây hơn 20 năm, trước đây chưa từng xảy ra sạt lở như vậy. Khi sự việc xảy ra, chính quyền, quân sự, công an đến hỗ trợ rất nhanh. Gia đình chỉ mong Nhà nước tiếp tục quan tâm để sớm ổn định cuộc sống”.
Trước đó, sáng ngày 7.6, bờ sông Hậu ở ấp Bình Phú 1, xã Bình Thạnh Đông cũng bất ngờ xuất hiện cung trượt dài khoảng 40 m, ăn sâu từ 5 -10 m vào đất liền, ảnh hưởng trực tiếp đến 6 hộ dân, với khoảng 30 nhân khẩu.
Những vụ sạt lở liên tiếp xảy ra chỉ trong chưa đầy một tháng cho thấy tình trạng này không còn diễn ra cục bộ mà đang xuất hiện với tần suất ngày càng dày và mức độ ngày càng nghiêm trọng.
Thông tin từ Sở Nông nghiệp – Môi trường tỉnh An Giang cho biết từ năm 2022 đến nay, nhiều điểm sạt lở lớn liên tục xuất hiện trên các tuyến sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao, rạch Ông Chưởng, kênh Tri Tôn, kênh Xép Năng Gù… Nhiều khu vực ghi nhận sạt lở liên tiếp, làm mất hàng trăm mét bờ sông, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng trăm hộ dân.
Toàn tỉnh hiện có 56 đoạn sông, kênh, rạch được cảnh báo sạt lở với tổng chiều dài hơn 181 km. Trong đó có 4 đoạn đặc biệt nguy hiểm, 3 đoạn từ nguy hiểm đến đặc biệt nguy hiểm và 49 đoạn ở mức nguy hiểm. Đáng chú ý, mức độ nguy hiểm tiếp tục gia tăng, khi có khoảng 25 km được xếp vào nhóm đặc biệt nguy hiểm.
Theo ông Nguyễn Đức Duy, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp – Môi trường tỉnh An Giang, từ đầu năm 2026 đến nay, toàn tỉnh xảy ra 30 vụ sạt lở, rạn nứt và sụt lún đất với tổng chiều dài khoảng 1,5 km, có 27 căn nhà buộc di dời khẩn cấp. Tổng thiệt hại tài sản gần 2 tỉ đồng. Thời tiết cực đoan cùng sự thay đổi dòng chảy khiến quá trình sạt lở ngày càng khó dự báo.
Trong khi khu vực đầu nguồn đối mặt với sạt lở bờ sông thì vùng ven biển An Giang cũng đang hứng chịu áp lực xói lở lớn.
Sau khi hợp nhất địa giới, An Giang sở hữu hơn 200 km bờ biển, kéo dài từ Hà Tiên đến Tiểu Dừa, tiếp giáp tỉnh Cà Mau. Đây là khu vực có hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều và đầm phá rất quan trọng, tạo cho tỉnh thế mạnh nổi bật về phát triển kinh tế biển. Tuy nhiên, đây cũng là nơi chịu tác động trực tiếp của sóng biển, triều cường và biến đổi khí hậu.
Theo thống kê của tỉnh An Giang, khoảng 65 km bờ biển đang bị xói lở, trong đó 31 km ở mức đặc biệt nguy hiểm, 11 km ở mức nguy hiểm, với hơn 250 hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp.
Chỉ trong 10 năm qua, trên 500 ha bãi bồi ven biển đã bị cuốn trôi, đồng nghĩa mỗi năm An Giang mất hàng chục ha đất. Không chỉ mất đất, vành đai rừng phòng hộ ven biển cũng bị thu hẹp từ 60 – 300 m, làm giảm đáng kể khả năng chắn sóng và bảo vệ hệ sinh thái.
Một trong những điểm nóng là đoạn đê biển dài khoảng 5 km, từ Đồn biên phòng Vàm Kim Quy đến kênh Mương Đào, thuộc xã Vân Khánh.
Từ tháng 6.2024, mưa lớn kéo dài kết hợp gió mùa Tây Nam mạnh khiến sóng biển liên tục đánh thẳng vào thân đê. Khoảng 1,5 km đê xuất hiện tình trạng sụt lún, nứt gãy; nhiều vị trí bị khoét sát chân đê, có đoạn gần đứt ngang, nước biển tràn vào nội đồng. Điều đáng nói là khu vực này trước đó đã được đầu tư kè rọ đá và hệ thống kè phá sóng, cho thấy sức tàn phá của thiên nhiên đang vượt xa dự báo trước đây.
Để khắc phục các đoạn đê bị sạt lở, Sở Nông nghiệp – Môi trường tỉnh An Giang kiến nghị UBND tỉnh chấp thuận đầu tư khẩn cấp với tổng kinh phí dự kiến khoảng 20 tỉ đồng.
Đến nay, tỉnh An Giang đã đầu tư xử lý được 95,41 km bờ sông, kênh, rạch bị sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở. Đồng thời, xây dựng 12 công trình kè ven biển với tổng chiều dài hơn 73 km, tổng kinh phí trên 1.000 tỉ đồng.
Các tuyến kè biển không chỉ có tác dụng giảm sóng, giữ đất mà còn tạo điều kiện để rừng ngập mặn tái sinh, góp phần phục hồi lá chắn tự nhiên trước biển.
Tuy nhiên, bờ sông, kênh rạch bị sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở cần đầu tư kinh phí rất lớn. Đối với sạt lở bờ sông, do nguồn lực địa phương còn hạn chế, Sở Nông nghiệp – Môi trường tỉnh An Giang đã tham mưu UBND tỉnh đề xuất Trung ương hỗ trợ đầu tư 3 dự án kè cấp bách tại 8 khu vực nguy hiểm, với tổng vốn khoảng 2.145 tỉ đồng.
Cụ thể là: kè khu vực đầu nguồn An Giang trị giá 856 tỉ đồng; kè bờ Tây sông Hậu 489 tỉ đồng và kè khu vực sông Hậu – sông Vàm Nao khoảng 800 tỉ đồng, với tổng chiều dài hơn 14 km.
Mặt khác, tỉnh xây dựng danh mục ưu tiên xử lý thêm 27,33 km bờ sông, với tổng kinh phí khoảng 4.485 tỉ đồng, nhằm tranh thủ nguồn vốn Trung ương và địa phương trong giai đoạn tới.
Theo ông Nguyễn Đức Duy, từ đầu năm 2026 đến nay, Sở Nông nghiệp – Môi trường tỉnh An Giang đã tham mưu UBND tỉnh ban hành hơn 20 văn bản chỉ đạo về phòng, chống thiên tai và ứng phó thời tiết cực đoan. Tại nhiều địa phương, chính quyền tăng cường rà soát các khu vực nguy hiểm, cắm biển cảnh báo, theo dõi diễn biến sạt lở và chuẩn bị phương án di dời khẩn cấp khi cần thiết.
“Tỉnh kết hợp giữa giải pháp công trình và phi công trình. Tăng cường huy động các nguồn lực của Trung ương, địa phương và các tổ chức quốc tế để từng bước hoàn thiện hệ thống công trình phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, ổn định sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương”, ông Duy cho biết thêm.
Chủ trì cuộc họp chiều 7/5 về điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh quy hoạch sân bay là vấn đề chiến lược, cần tầm nhìn dài hạn đến năm 2050, thậm chí 100 năm để tránh điều chỉnh nhiều lần.
Ông yêu cầu việc quy hoạch phải đồng bộ với Quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và hệ thống giao thông kết nối. Việc đầu tư cần dựa trên cơ sở khoa học, pháp lý, thực tiễn và được đánh giá kỹ về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, quốc phòng, an ninh.
Theo Phó thủ tướng, quy hoạch cần có tầm nhìn xa nhưng triển khai phải theo thứ tự ưu tiên, phù hợp quy mô và khả năng nguồn lực. Ông lưu ý quá trình xây dựng sân bay phải được cân nhắc kỹ để tránh lãng phí.
Từ thực tế triển khai sân bay Long Thành và Gia Bình, Phó thủ tướng nhấn mạnh phải đầu tư đồng bộ hạ tầng kết nối. Các địa phương đề xuất sân bay cần cam kết hiệu quả khai thác, bảo đảm nguồn lực không chỉ cho sân bay mà cả hệ thống giao thông liên quan.
"Ngay cả khi khu vực tư nhân tham gia đầu tư xây dựng sân bay cũng cần tính toán rất kỹ. Nếu đầu tư dàn trải, mỗi địa phương đều có sân bay nhưng hiệu quả không đảm bảo sẽ gây khó khăn trong khai thác", Phó thủ tướng nói.
Tại cuộc họp, Bộ Xây dựng đề xuất bổ sung sân bay Măng Đen và Vân Phong vào quy hoạch, đồng thời điều chỉnh quy mô sân bay Quảng Trị.
Trong đó, sân bay Măng Đen được đề xuất phục vụ du lịch, phát triển kinh tế địa phương và quốc phòng, an ninh với quy mô cấp 4C, công suất khoảng 1 triệu khách mỗi năm vào 2030. Sân bay Vân Phong hướng tới phục vụ khu kinh tế và du lịch cao cấp, quy mô cấp 4E, công suất khoảng 1,5 triệu khách mỗi năm. Sân bay Quảng Trị được đề xuất nâng từ cấp 4C lên 4E để khai thác máy bay thân rộng và vận tải hàng hóa.
Phó thủ tướng yêu cầu nghiên cứu kỹ các đề xuất trong tổng thể phát triển vùng, khả năng kết nối liên vùng và tiềm năng thu hút đầu tư trong, ngoài nước.
Thứ trưởng Xây dựng Lê Anh Tuấn cho biết Bộ sẽ rà soát toàn bộ các dự án sân bay đã quy hoạch nhưng chậm triển khai, đánh giá hiệu quả đầu tư và khả năng huy động vốn để hoàn thiện phương án điều chỉnh quy hoạch theo hướng tổng thể, tầm nhìn dài hạn.
Theo quy hoạch được phê duyệt năm 2023, giai đoạn 2021-2030 cả nước có 30 sân bay, gồm 14 sân bay quốc tế và 16 sân bay nội địa. Tầm nhìn đến 2050, Việt Nam dự kiến có 33 sân bay.
Sau khi bổ sung sân bay Thổ Chu và Thành Sơn, số lượng sân bay quy hoạch đến năm 2030 tăng lên 32, tầm nhìn đến 2050 là 35 sân bay.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển hệ thống sân bay đến năm 2030 khoảng 514.000 tỷ đồng.
Công điện của Thủ tướng Chính phủ gửi Bộ trưởng các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Xây dựng và Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, nêu rõ khoảng 13 giờ ngày 11.7, tại vùng biển cách Hòn Mây Rút, An Thới (đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang) khoảng 200 m đã xảy ra vụ tai nạn giao thông đường thủy đặc biệt nghiêm trọng.
Cụ thể, chiếc ca nô chở khách số hiệu AG-26751 chở 32 khách du lịch quốc tịch Ấn Độ và 3 thuyền viên (gồm 1 người điều khiển, 1 thợ máy và 1 nhân viên), trên hành trình từ Hòn Mây Rút về cảng An Thới đã bị lật. Hậu quả, đến 15 giờ ngày 11.7, vụ tai nạn đã làm 15 người tử vong.
Ngay khi nhận được thông tin vụ tai nạn, Thủ tướng Chính phủ đã gửi lời thăm hỏi ân cần, chu đáo đến người bị nạn và chia buồn sâu sắc tới thân nhân, gia đình các nạn nhân tử vong. Đồng thời, chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Xây dựng, lãnh đạo tỉnh An Giang và lực lượng công an, y tế, cảnh sát biển, lực lượng biên phòng... tới hiện trường để tập trung khắc phục hậu quả vụ tai nạn.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh An Giang chỉ đạo bố trí mọi điều kiện về y tế, thuốc men để cứu chữa người bị nạn, hạn chế thấp nhất các tổn thất về người và tài sản của người dân, du khách. Tổ chức thăm hỏi, hỗ trợ động viên gia đình các nạn nhân tử vong trong vụ tai nạn.
Trực tiếp chủ trì làm việc với các cơ quan, lực lượng chức năng đánh giá nguyên nhân, triển khai các giải pháp khắc phục tồn tại, bất cập nếu có.
Đồng thời, khẩn trương làm rõ các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp liên quan tới vụ tai nạn giao thông nêu trên; làm căn cứ để tuyên truyền, thực hiện các giải pháp phòng ngừa trong thời gian tới.
Bộ Công an chỉ đạo Công an tỉnh An Giang và các đơn vị có liên quan khẩn trương điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn và xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quy định, gây ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng nêu trên.
Bộ Xây dựng chỉ đạo các đơn vị có liên quan khẩn trương rà soát, kiểm tra việc bảo đảm an toàn giao thông đường thủy nội địa và hàng hải tại khu vực xảy ra tai nạn và các khu vực có điều kiện tương tự.
Tăng cường công tác quản lý hoạt động vận tải hành khách bằng phương tiện thủy, kiểm tra việc chấp hành các quy định về điều kiện an toàn của phương tiện, trang thiết bị cứu sinh, cứu nạn, điều kiện của người điều khiển phương tiện và việc tổ chức đưa, đón khách; kịp thời khắc phục các bất cập, nguy cơ mất an toàn nhằm phòng ngừa các vụ tai nạn tương tự.
Bộ Ngoại giao khẩn trương phối hợp chặt chẽ với Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam và các cơ quan để kịp thời thực hiện công tác lãnh sự, bảo hộ công dân và xử lý các vấn đề liên quan đến công dân Ấn Độ.
Theo dự thảo tờ trình của UBND TP Hà Nội về đề án Vùng phát thải thấp trong vành đai 1, giai đoạn 1 (1/7-31/12), thành phố sẽ triển khai thí điểm vùng phát thải thấp tại phường Hoàn Kiếm.
Cụ thể vùng phát thải thấp giới hạn trong 11 tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm gồm: Tràng Tiền, Hàng Khay, Lê Thái Tổ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Bạc, Hàng Mắm, Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ. Khu vực này rộng 0,5 km2, chu vi 3,5 km, dân số khoảng 20.000.
Trong vùng phát thải thấp, xe máy xăng bị cấm lưu thông từ 18h đến 24h thứ sáu, từ 6h đến 24h thứ bảy, chủ nhật. Xe môtô, xe gắn máy xăng hoạt động kinh doanh trên nền tảng phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải cũng bị cấm.
Các loại ôtô tải dưới 2 tấn, đáp ứng quy chuẩn khí thải mức 4, chỉ được phép hoạt động ngoài giờ cao điểm. Ôtô tải từ 2 đến dưới 3,5 tấn, đáp ứng quy chuẩn khí thải mức 4, chỉ được phép chạy từ 21h đến 6h hôm sau và phải được Công an thành phố chấp thuận bằng văn bản. Ôtô tải trên 3,5 tấn bị cấm hoạt động.
Ôtô từ 16 chỗ trở lên (trừ xe buýt, xe đưa đón học sinh) tại các tuyến phố trong khu vực phố cổ và xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở các phường Hoàn Kiếm, phường Cửa Nam phải đạt mức 4 theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải ôtô tham gia giao thông đường bộ (quy chuẩn). Phương tiện này bị cấm lưu thông từ 6h đến 9h và từ 16h đến 19h30 hàng ngày.
Xe buýt, xe đưa đón học sinh, khí thải phải đạt mức 4 theo quy chuẩn. Xe dưới 16 chỗ sử dụng nhiên liệu hóa thạch, khí thải phải đạt mức 4.
Thành phố xác định giai đoạn 2 (ngày 1/1/2027-31/12/2027) mở rộng khu vực thí điểm tại phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam, gồm vùng lõi phường Hoàn Kiếm đã thực hiện ở giai đoạn 1 và 14 tuyến phố bao quanh thuộc phường Cửa Nam: Nguyễn Du, Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Hàng Đậu, Cửa Đông, Lý Nam Đế, Tôn Thất Thiệp, Điện Biên Phủ, Hàng Bông, Cửa Nam, Lê Duẩn.
Giai đoạn 3 (1/1/2028-31/12/2029), thành phố mở rộng vùng phát thải thấp toàn bộ diện tích trong vành đai 1 với hơn 26 km2, chu vi 25 km và dân số 625.000. Phạm vi vành đai 1 gồm 9 phường được bao quanh bởi các tuyến đường: Hoàng Cầu, Đê La Thành, Ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân, Nguyễn Khoái, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Yên Phụ, Nghi Tàm, Âu Cơ, An Dương Vương, Lạc Long Quân, Bưởi, Cầu Giấy.
Việc xây dựng đề án vùng phát thải thấp nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57/2025 của HĐND về thực hiện vùng phát thải thấp trên địa bàn, trong đó xác định lộ trình thực hiện tại vành đai 1 từ ngày 1/7/2026.
Theo UBND TP Hà Nội, những năm gần đây, chất lượng môi trường không khí trên địa bàn có thời điểm suy giảm, đặc biệt tại trung tâm đô thị, nơi tập trung mật độ dân cư cao, lưu lượng giao thông lớn và nhiều hoạt động kinh tế - xã hội.
Kết quả nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện trong các năm 2023-2025 cho thấy tỷ lệ đóng góp bụi mịn PM2.5 trên địa bàn thành phố từ hoạt động giao thông vận tải là 25%, xây dựng và bụi đường 20%, đốt 12%, bụi thứ cấp hình thành từ khí ô nhiễm, bao gồm cả công nghiệp 27% và nguồn khác 6%.
Số liệu kiểm kê nguồn thải nội tại, riêng trong thành phố nguồn trực tiếp từ hoạt động giao thông chiếm 59%, bụi đường và hoạt động xây dựng 28%, đốt và hoạt động dân sinh 11%, hoạt động công nghiệp 2%.
Việc xây dựng, triển khai đề án vùng phát thải thấp trong vành đai 1 là tiền đề để các sở, ngành và UBND phường xã tổ chức triển khai đồng bộ giải pháp như: kiểm soát phương tiện giao thông phát thải cao đi vào trung tâm; tổ chức giao thông công cộng, phát triển phương tiện sử dụng năng lượng sạch; tăng cường quản lý, giám sát và ứng dụng công nghệ trong kiểm soát phát thải giao thông.
Việc triển khai đề án cũng là bước thí điểm quan trọng để đánh giá hiệu quả thực tiễn, làm cơ sở nghiên cứu mở rộng mô hình vùng phát thải thấp ra các khu vực khác trong các giai đoạn tiếp theo.
Hiện Hà Nội có khoảng 6,9 triệu xe máy, trong đó riêng vành đai 1 khoảng 450.000.