Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về đề xuất thí điểm chế định luật sư (LS) công tại 8 bộ (Công an, Quốc phòng, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp, Công thương, Ngoại giao, NN-MT) và 10 tỉnh, thành phố (Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh).
Theo dự thảo, LS công gồm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan CAND, sĩ quan QĐND, cán bộ thuộc doanh nghiệp nhà nước được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề LS để thực hiện các hoạt động có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước theo quy định của pháp luật.
Những người này sẽ tham gia tố tụng với tư cách LS, tư vấn pháp luật, đại diện cho cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, hành chính, dân sự và tham gia quá trình thi hành án dân sự, án hành chính.
Để trở thành LS công, ứng viên phải có trình độ cử nhân luật trở lên; có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp; đã được đào tạo LS công, trừ trường hợp được miễn đào tạo theo quy định.
Về chế độ đãi ngộ, LS công được hưởng hỗ trợ hằng tháng bằng 100% theo hệ số lương hiện hưởng; được hưởng thù lao, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác theo kết quả, sản phẩm công việc theo quy định của pháp luật; được hưởng tiền làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức, viên chức.
Đáng chú ý, LS có trên 10 năm kinh nghiệm hành nghề LS được tuyển dụng làm LS công được hưởng lương và hỗ trợ hằng tháng bằng 100% theo hệ số lương bậc 1 của chuyên viên cao cấp hoặc tương đương theo vị trí việc làm.
Trao đổi với PV Thanh Niên, LS-TS Hà Hải, Phó chủ nhiệm Đoàn LS TP.HCM, bày tỏ sự đồng tình với chủ trương xây dựng chế định LS công. Tuy nhiên, góp ý vào dự thảo, LS Hà Hải cho rằng phạm vi đối tượng được công nhận LS công cần cân nhắc và nên bổ sung thêm Ủy ban MTTQ VN.
Lý giải đề xuất này, ông cho biết, từ ngày 1.7.2025, các tổ chức chính trị – xã hội và hội quần chúng chính thức trở về ngôi nhà chung MTTQ VN, như Liên đoàn LS VN, Hội Luật gia VN, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ VN, Hội Nông dân VN, Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật VN…
“Trong bối cảnh đó, nhu cầu về LS công để tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các tổ chức này là rất lớn. Do đó tôi cho rằng thí điểm về LS công nếu bỏ qua vai trò của MTTQ sẽ là một khiếm khuyết rất lớn về thực tiễn, ảnh hưởng đến kết quả thí điểm”, LS Hà Hải nói.
Bà Nguyễn Thị Phương Ngọc, Phó giám đốc Sở Tư pháp TP.HCM, cho biết Sở hoàn toàn ủng hộ với đề xuất cần có LS công như dự thảo. Bởi theo bà, ngoài các đội ngũ là bộ phận pháp chế hiện làm việc tại các cơ quan nhà nước, có thêm LS công là những người được đào tạo bài bản để chuyên làm công việc của một LS sẽ giúp được rất nhiều trong việc tham mưu, tư vấn pháp lý cho nhà nước.
“Nếu được Quốc hội thông qua, LS công ra đời sẽ hỗ trợ rất nhiều trong công việc cho các sở, ban ngành. Tôi tin rằng nếu nhà nước có chế độ đãi ngộ xứng đáng thì chúng ta sẽ thu hút được nguồn lực LS có kinh nghiệm thực tiễn đang hoạt động bên ngoài và các chuyên gia là giảng viên ở các trường luật”, bà Ngọc chia sẻ.
Theo tờ trình dự thảo của Bộ Tư pháp, tại Nghị quyết số 66 năm 2025 của Bộ Chính trị chỉ đạo “nghiên cứu, hình thành chế định LS công và cơ chế có điều kiện cho phép viên chức được hành nghề LS; thu hút, tiếp nhận chuyên gia, nhà khoa học pháp lý, luật gia, LS giỏi vào khu vực công”.
Cũng theo Bộ Tư pháp, trong thời gian qua, số lượng vụ kiện hành chính tăng hằng năm (năm 2020 số vụ án hành chính đã thụ lý hơn 9.000 vụ, năm 2023 hơn 10.000 vụ và năm 2024 là hơn 12.000 vụ). So sánh số vụ án hành chính được thụ lý năm 2024 so với năm 2020 thì tỷ lệ tăng 31%, trung bình mỗi năm tăng gần 8%. Trong thời gian 5 năm (2020 – 2024), án hành chính được giải quyết chỉ đạt tỷ lệ 52%. Một trong những nguyên nhân là do các cơ quan còn thiếu nhân sự chuyên trách, chưa được tập huấn nghiệp vụ và kinh nghiệm tham gia tố tụng.
Tỷ lệ các vụ kiện hành chính mà tòa tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính vẫn còn ở mức cao. Theo thống kê của TAND tối cao, năm 2020, tỷ lệ án hành chính tuyên hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính lần lượt là 25% và 8,5%; năm 2024, tỷ lệ này lần lượt là 29% và 10%.
Những con số trên phản ánh những hạn chế trong việc kiểm soát tính hợp pháp của các quyết định hành chính trước khi ban hành, hạn chế trong tham gia tố tụng hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước. Nhiều vụ việc cơ quan nhà nước không cử được người tham gia đối thoại, không tham gia phiên tòa.
Không chỉ có án hành chính, hiện nay tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế (trong khuôn khổ WTO hay các hiệp định thương mại tự do), tranh chấp về công pháp quốc tế (tranh chấp biên giới, lãnh thổ…) đang ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp đối với các quốc gia, trong đó có VN.
Đối với lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến đất đai, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vẫn chiếm tỷ lệ lớn và phức tạp, trở thành “điểm nóng” gây áp lực lớn cho các cơ quan có thẩm quyền.
Trong bối cảnh trên, việc hình thành đội ngũ LS công được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao chất lượng xử lý vụ việc, hạn chế sai sót, giảm tình trạng khiếu kiện kéo dài, vượt cấp.
Trước đó, báo chí phản ánh một số trường hợp nợ thuế chỉ 15.000 đồng nhưng vẫn bị tạm hoãn xuất cảnh. Bộ Tài chính cho biết, các trường hợp này đều là người đại diện pháp luật của doanh nghiệp nợ thuế, không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho hay "phản ánh chưa đầy đủ", trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế đã thực hiện đầy đủ quy trình thông báo theo quy định. Cụ thể, cảnh báo người nộp thuế và hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Theo Bộ Tài chính, quy định hiện hành nêu rõ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với 4 nhóm đối tượng.
Thứ nhất, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh thuộc diện bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế khi có số tiền thuế nợ từ 30 triệu đồng trở lên và đã quá thời hạn nộp thuế trên 120 ngày.
Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thuộc diện bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế khi có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên và đã quá thời hạn nộp thuế trên 120 ngày.
Thứ ba, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh hoặc có số thuế nợ quá hạn nộp theo quy định.
Sau 30 ngày kể từ khi cơ quan thuế thông báo về việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế, các đối tượng này có thể bị tạm hoãn xuất cảnh.
Thứ tư, người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài trước khi rời Việt Nam nhưng còn nợ thuế quá hạn và chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
Bộ Tài chính cho biết, đối với nhóm doanh nghiệp và hộ kinh doanh đang hoạt động, Nghị định 49 quy định ngưỡng nợ thuế tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Riêng nhóm không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký không áp dụng ngưỡng nợ tối thiểu do đây là nhóm có rủi ro cao về thuế.
Theo cơ quan này, ngoài việc nợ thuế, các đối tượng trên còn có thể vi phạm nhiều nghĩa vụ khác như không nộp hồ sơ khai thuế, không xuất trình sổ sách, chứng từ, mua bán hóa đơn, sử dụng hóa đơn không hợp pháp để hợp thức hóa chi phí, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế hoặc bỏ địa chỉ kinh doanh mà không thông báo với cơ quan thuế.
Những hành vi này làm gia tăng nguy cơ thất thu ngân sách và gây khó khăn cho công tác quản lý thuế.
Theo dữ liệu quản lý thuế trên hệ thống, cơ quan thuế đã ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh đối với khoảng 105.000 người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và chủ hộ kinh doanh có tổng số tiền thuế nợ gần 61.000 tỉ đồng. Trong đó, khoảng 65.000 trường hợp là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký với tổng số tiền thuế nợ hơn 6.900 tỉ đồng.
Để hỗ trợ người nộp thuế, tháng 5 vừa qua, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Cục Thuế phối hợp với Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) nghiên cứu giải pháp nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện huỷ bỏ tạm hoãn xuất cảnh nhanh nhất, theo thời gian thực, ngay sau khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.
Bộ Tài chính cũng dẫn lại kinh nghiệm một số nước cho biết, tại Trung Quốc, cá nhân có số thuế nợ từ 10.000 NDT (khoảng 30 triệu đồng) trở lên có thể bị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Đối với doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh, cơ quan thuế còn công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử để cảnh báo.
Tại Indonesia, doanh nghiệp nợ thuế từ 100 triệu Rupiah (khoảng hơn 150 triệu đồng) trở lên hoặc có hành vi cản trở việc thu hồi nợ thuế có thể bị cấm xuất cảnh. Trong khi đó, Mỹ áp dụng ngưỡng nợ thuế từ 50.000 USD trở lên (bao gồm cả tiền phạt và lãi) để yêu cầu cơ quan thuế phối hợp với Bộ Ngoại giao từ chối cấp hộ chiếu hoặc thu hồi hộ chiếu đã cấp.
Tại Anh, người nợ thuế từ 10.000 bảng Anh (khoảng 200 triệu đồng) có nguy cơ bị từ chối gia hạn hộ chiếu. Philippines không quy định ngưỡng nợ thuế cụ thể nhưng áp dụng lệnh cấm xuất cảnh với những trường hợp liên quan đến trốn thuế. Đài Loan (Trung Quốc) áp dụng ngưỡng 2 triệu Đài tệ, tương đương khoảng 1,57 tỉ đồng.
UBND tỉnh Đăk Lăk xử phạt ông Lê Văn Ánh (34 tuổi), chủ tiệm bánh mì Quốc Hùng tại xã Ea Drăng, do vi phạm quy định an toàn thực phẩm, gây ngộ độc cho nhiều người nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngoài tiền phạt, cơ sở bị đình chỉ hoạt động 3 tháng, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xử lý vụ việc, khám và điều trị cho các nạn nhân.
Theo cơ quan chức năng, hôm 27/3, tiệm đã bán khoảng 300 ổ bánh mì. Tối cùng ngày, những ca ngộ độc đầu tiên xuất hiện với các triệu chứng sốt, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn và nôn.
Những ngày sau đó, số người nhập viện tăng lên, tổng cộng 86 ca.
Kết quả xét nghiệm của Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên cho thấy, trong 10 mẫu bệnh phẩm có 5 mẫu dương tính với vi khuẩn Salmonella. Mẫu thực phẩm phát hiện hai mẫu nhiễm Salmonella (rau và dăm bông), một mẫu rau nhiễm vi khuẩn E.coli.
Salmonella và E.coli là các tác nhân phổ biến gây ngộ độc thực phẩm và nhiễm trùng đường ruột, thường xuất hiện trong các vụ việc liên quan thực phẩm không đảm bảo vệ sinh. Người nhiễm thường có triệu chứng tiêu chảy, sốt và đau bụng.
Pháp luật chúng ta quy định thế nào về loại tội phạm này, và thực tiễn xét xử cho thấy những người ra tay với trẻ nhỏ sẽ phải trả giá ra sao?
Những năm gần đây, mức độ các vụ bạo hành ngày càng nghiêm trọng, nhiều vụ để lại thương tích nặng nề hoặc khiến nạn nhân tử vong. Điểm chung của hầu hết các vụ: thủ phạm là người thân trong gia đình, người tình của cha hoặc mẹ, hoặc người được giao trực tiếp trông nom trẻ.
Trẻ em, đặc biệt trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, hoàn toàn không có khả năng tự vệ, không thể cầu cứu, không thể kể lại sự thật với ai.
Đó là lý do pháp luật dành sự bảo vệ đặc biệt và nghiêm khắc đặc biệt cho nhóm nạn nhân này.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định chặt chẽ, đủ sức trừng trị mọi hành vi bạo hành trẻ em, tùy theo tính chất, mức độ và mối quan hệ giữa người gây hại với nạn nhân. Cụ thể:
- Người không phải cha mẹ ruột nhưng đang sống chung, trực tiếp chăm sóc trẻ mà có hành vi đối xử tàn ác, đánh đập, bỏ đói, hành hạ bị xử lý về tội "hành hạ người khác" theo Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015. Khi nạn nhân là trẻ dưới 16 tuổi, phạt tù từ 1-3 năm. Đây là hành vi phổ biến trong các vụ người tình của cha hoặc mẹ bạo hành con riêng.
- Cha, mẹ hoặc người có trách nhiệm nuôi dưỡng mà ngược đãi, hành hạ con cái bị xử lý về tội "ngược đãi hoặc hành hạ con" theo Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015. Không cần gây thương tích nặng, chỉ cần hành vi thường xuyên gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần là đã cấu thành tội phạm. Mức hình phạt tối đa đến 5 năm tù khi nạn nhân là trẻ dưới 16 tuổi.
- Hành vi nghiêm trọng nhất là cố ý đánh đập gây thương tích thực tế được xử lý về tội "cố ý gây thương tích" theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Với nạn nhân dưới 16 tuổi, dù tỉ lệ thương tích chỉ dưới 11% vẫn bị truy cứu hình sự - mức bảo vệ pháp lý cao hơn nhiều so với nạn nhân là người lớn. Hình phạt tăng dần theo mức độ thương tích và hậu quả.
Đặc biệt, nếu nạn nhân tử vong, người phạm tội đối mặt với mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, tùy thuộc vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nhiều vụ án, tòa án áp dụng đồng thời nhiều tội danh đối với cùng một bị cáo. Ví dụ vừa bị xử về tội hành hạ người khác, vừa bị xử về tội cố ý gây thương tích. Các hình phạt được tổng hợp lại theo quy định. Nghĩa là hình phạt thực tế người phạm tội phải chịu có thể rất cao, không phải chỉ tính theo một tội danh.
Từ thực tiễn xét xử có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, lý do "dạy con" hay "dạy dỗ nghiêm khắc" không được tòa án chấp nhận là tình tiết miễn hoặc giảm nhẹ đáng kể. Ranh giới pháp luật và thực tiễn xét xử xác định rất rõ: đánh đập nhiều lần, bỏ đói, dùng vật cứng gây thương tích, dùng tay không nhưng tác động vào vùng đầu, cổ - đó là hành vi phạm tội, không phải dạy dỗ.
Hai là, tuổi trẻ của bị cáo không phải lá chắn. Nhiều người lầm tưởng rằng bị cáo còn trẻ, lần đầu phạm tội sẽ được giảm nhẹ mạnh.
Trong các vụ bạo hành trẻ nhỏ gây hậu quả nghiêm trọng, hội đồng xét xử luôn ưu tiên bảo vệ nạn nhân và răn đe xã hội.
Không ít bản án trong loại tội phạm này ở mức trên 10 năm tù, thậm chí tù chung thân khi nạn nhân tử vong.
Ba là, người mẹ hoặc cha biết con bị bạo hành mà im lặng, bao che, hoặc tiếp tục giao con cho kẻ bạo hành cũng đối mặt với trách nhiệm hình sự. Nghĩa vụ bảo vệ con là nghĩa vụ pháp lý ghi trong luật, không chỉ là đạo lý. Im lặng trước hành vi bạo hành con mình là vi phạm pháp luật.
Bốn là, thái độ sau khi gây án có ý nghĩa lớn trong quyết định hình phạt. Những bị cáo kịp thời đưa trẻ đi cấp cứu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thực sự được tòa án ghi nhận. Ngược lại, bỏ mặc nạn nhân, tạo dựng lý do che giấu, không hợp tác điều tra - những điều này luôn khiến mức án cao hơn đáng kể.
Thực tiễn xét xử tại các tòa án cho thấy: những người bạo hành trẻ em đều phải trả giá rất đắt. Pháp luật chỉ phát huy hiệu quả khi vụ việc được phát hiện kịp thời. Và người phát hiện trước hết không phải cơ quan chức năng mà là hàng xóm, người thân, chủ nhà trọ, giáo viên, nhân viên y tế.
Điều 51 Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ: mọi cá nhân, tổ chức khi phát hiện trẻ bị xâm hại hoặc nghi ngờ bị xâm hại đều phải thông báo ngay cho cơ quan chức năng. Không lên tiếng khi biết cũng là vi phạm.
Nhìn lại các bản án về bạo hành trẻ em đã được xét xử, điều day dứt nhất không phải là mức hình phạt mà là câu hỏi: liệu có ai đó biết sớm hơn, lên tiếng sớm hơn thì kết cục có khác không?
Điều còn thiếu là sự dũng cảm của một người hàng xóm, một tiếng gõ cửa đúng lúc, một cuộc gọi không ngại phiền. Bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội.