Kỳ thi vào lớp 10 trường Phổ thông Năng khiếu, Đại học Quốc gia TP HCM, diễn ra trong hai ngày 23-24/5 với hơn 4.700 thí sinh đăng ký dự thi. Theo thống kê của trường, số bài thi thực tế là hơn 4.500. Với chỉ tiêu 595, tỷ lệ chọi trung bình vào lớp 10 là 1/7,6, cao nhất 8 năm qua.
Tỷ lệ thí sinh dự thi ở từng môn như sau:
Điểm xét tuyển lớp 10 là tổng điểm bốn bài thi, trong đó ba bài Toán, Văn, Anh không chuyên hệ số một và môn chuyên nhân hệ số hai. Thí sinh phải đảm bảo không bài thi nào dưới 2 điểm. Với các lớp chuyên tuyển bằng hai tổ hợp, căn cứ kết quả thi và số lượng nguyện vọng, trường sẽ quyết định điểm xét tuyển với từng nhóm.
Đề thi lớp 10 trường Phổ thông Năng khiếu năm 2026 như sau:
Phổ thông Năng khiếu được thành lập năm 1996, là trường duy nhất ở TP HCM tổ chức thi tuyển riêng, độc lập với kỳ thi vào lớp 10 của Sở Giáo dục và Đào tạo.
Năm ngoái, lớp chuyên Toán dẫn đầu điểm chuẩn với 33,75 điểm, còn lại khoảng 24,4-33.
Tin Gốc: Vnexpress

Trong nhiều năm, xã hội thường có xu hướng đánh giá một kỳ thi thành công khi xuất hiện nhiều điểm 9, điểm 10. Tuy nhiên, với các chuyên gia khảo thí, điều quan trọng hơn là khả năng phân loại.
Một kỳ thi có quá nhiều điểm cao sẽ khiến việc tuyển sinh đại học trở nên khó khăn. Khi hàng chục nghìn thí sinh cùng đạt mức điểm tương đương, các trường buộc phải sử dụng thêm tiêu chí phụ hoặc nâng điểm chuẩn lên rất cao. Điều này từng xảy ra ở nhiều ngành "hot", nơi chỉ chênh lệch 0,1 điểm cũng quyết định việc đỗ hay trượt.
Ngược lại, một phổ điểm được xem là hợp lý khi phần lớn học sinh đạt được mục tiêu tốt nghiệp, đồng thời nhóm học sinh khá, giỏi và xuất sắc vẫn được tách biệt tương đối rõ ràng.
Nhìn vào các dữ liệu ban đầu, nhiều chuyên gia cho rằng, đề thi năm 2026 đã thực hiện khá tốt yêu cầu này. Các môn thi xuất hiện sự phân hóa rõ rệt hơn ở nhóm câu hỏi vận dụng và vận dụng cao. Điều đó giúp giảm tình trạng "mưa điểm cao", đồng thời tạo cơ sở để các trường đại học yên tâm sử dụng kết quả thi cho tuyển sinh. Thực tế, đây chính là hướng đi mà nhiều quốc gia phát triển đang áp dụng.
Một kỳ thi quốc gia không cần quá khó, cũng không cần quá dễ. Điều quan trọng là phải đo được năng lực thực chất của người học.
Đây có lẽ là câu hỏi được quan tâm nhất lúc này. Tâm lý phổ biến của phụ huynh là thấy đề thi khó thì nghĩ điểm chuẩn sẽ giảm mạnh, thấy đề dễ thì cho rằng điểm chuẩn sẽ tăng vọt. Thực tế phức tạp hơn rất nhiều.
Điểm chuẩn không phụ thuộc riêng độ khó của đề thi mà còn chịu tác động bởi số lượng thí sinh đăng ký, chỉ tiêu tuyển sinh, phương thức xét tuyển và tương quan điểm số giữa các nhóm thí sinh.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, phổ điểm năm nay có xu hướng phân hóa tốt hơn. Điều này đồng nghĩa số lượng thí sinh đạt mức điểm rất cao có thể giảm ở một số tổ hợp xét tuyển. Khi nguồn điểm cao thu hẹp, điểm chuẩn ở nhiều ngành có khả năng giảm nhẹ.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng "giảm nhẹ" không có nghĩa là giảm sâu. Những ngành có nhu cầu xã hội lớn như y khoa, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, kinh tế quốc tế, logistics, truyền thông hay sư phạm chất lượng cao vẫn duy trì sức hút mạnh. Nguồn thí sinh giỏi tập trung vào các ngành này rất đông nên mức cạnh tranh khó giảm đáng kể.
Nói cách khác, không phải mọi thí sinh đều được hưởng lợi như nhau từ việc phổ điểm thay đổi.
Mỗi mùa tuyển sinh đều có những ngành trở thành tâm điểm. Trước đây là tài chính - ngân hàng, sau đó là marketing, thương mại điện tử, rồi công nghệ thông tin. Hiện nay, xu hướng đang dịch chuyển sang trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, vi mạch bán dẫn, an ninh mạng và các ngành liên quan đến chuyển đổi số.
Điều đáng nói là rất nhiều học sinh lựa chọn ngành học theo xu hướng truyền thông hơn là dựa trên năng lực và sở thích thực tế.
Năm nào cũng vậy, sau khi điểm thi được công bố, hàng nghìn thí sinh lại đổ dồn vào một số ngành "nóng", khiến điểm chuẩn tăng vọt. Trong khi đó, nhiều ngành có nhu cầu nhân lực lớn nhưng ít được chú ý như nông nghiệp công nghệ cao, môi trường, vật liệu mới, năng lượng tái tạo, khoa học cơ bản hay công tác xã hội lại thiếu người học. Đây là nghịch lý kéo dài nhiều năm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Nếu chỉ nhìn vào điểm chuẩn để quyết định tương lai, không ít học sinh có thể bước vào một ngành học không thực sự phù hợp với mình.
Mỗi năm, xã hội dành rất nhiều sự chú ý cho những học sinh đạt điểm tuyệt đối. Nhưng ý nghĩa lớn nhất của phổ điểm không nằm ở vài thủ khoa. Nó nằm ở hàng triệu học sinh bình thường. Những em đang đứng trước ngã rẽ cuộc đời. Những em lo lắng về tương lai. Những em băn khoăn liệu mình có đủ giỏi hay không. Thực tế cho thấy, thành công nghề nghiệp hiếm khi được quyết định bởi một kỳ thi.
Điểm số có thể mở cánh cửa đầu tiên. Nhưng sự kiên trì, khả năng học hỏi và tinh thần thích nghi mới quyết định người đi được bao xa. Phổ điểm 2026 vì thế không chỉ là những con số thống kê. Đó còn là lời nhắc nhở rằng giáo dục đang thay đổi, tuyển sinh đang thay đổi và thị trường lao động cũng đang thay đổi.
Trong một thế giới biến động nhanh như hiện nay, điều quan trọng nhất không phải là ai đạt điểm cao hơn hôm nay. Mà là ai còn tiếp tục học hỏi được vào ngày mai.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sự thay đổi này không chỉ giúp kết quả thi phản ánh đúng năng lực học sinh (HS) mà còn góp phần tạo nền tảng công bằng hơn cho tuyển sinh ĐH, đồng thời định hướng lại việc dạy và học nhằm phát triển nhân lực cân bằng giữa STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) và khoa học xã hội.
Năm 2025, điểm trung bình giữa các môn có sự chênh lệch lớn. Các môn khoa học xã hội như giáo dục kinh tế và pháp luật (7,69 điểm), ngữ văn (7,00 điểm), địa lý (6,63 điểm), lịch sử (6,52 điểm) đều đạt điểm khá cao, trong khi toán chỉ đạt 4,78 điểm, sinh học 5,78 điểm và hóa học 6,06 điểm. Riêng công nghệ nông nghiệp đạt 7,72 điểm nhưng số lượng thí sinh (TS) lựa chọn rất ít.
Đến năm 2026, bức tranh đã thay đổi theo hướng cân bằng hơn. Một số môn STEM tăng điểm đáng kể, nổi bật là toán tăng từ 4,78 lên 5,65 điểm (18,2%) - mức tăng cao nhất trong các môn thi; công nghệ công nghiệp tăng 12,26%; hóa học tăng 3,63% và sinh học tăng nhẹ.
Ngược lại, nhiều môn khoa học xã hội giảm điểm rõ rệt. Giáo dục kinh tế và pháp luật giảm mạnh nhất, từ 7,69 xuống 5,02 điểm (34,72%); địa lý giảm 23,08%; ngữ văn giảm 7,14%; lịch sử giảm 5,06%; tiếng Anh giảm 5,76%. Một số môn STEM cũng giảm điểm như vật lý (20,46%), tin học (10,47%) và công nghệ nông nghiệp (9,84%).
Nhờ những biến động theo hai chiều này, khoảng cách giữa môn có điểm trung bình cao nhất và thấp nhất đã thu hẹp từ gần 3 điểm năm 2025 xuống còn khoảng 1,9 điểm năm 2026. Phần lớn các môn tập trung trong khoảng 5 - 6,5 điểm, cho thấy phổ điểm giữa các lĩnh vực kiến thức đã cân bằng hơn, nâng cao tính công bằng trong đánh giá và tuyển sinh.
Sự cân bằng không có nghĩa là các môn đều "dễ" hay đều "khó", mà quan trọng hơn là phổ điểm của từng môn phản ánh sát hơn năng lực thực tế của TS.
Một thay đổi đáng chú ý khác là phân bố điểm tuyệt đối. Năm 2025, các môn xã hội chiếm phần lớn số điểm 10. Riêng địa lý có tới 6.907 điểm 10; vật lý có 3.929; lịch sử 1.518; giáo dục kinh tế và pháp luật 1.451. Đến năm 2026, bức tranh hoàn toàn khác.
Toán vươn lên dẫn đầu với 4.208 điểm 10, cao gấp hơn 8 lần năm trước. Trong khi đó, địa lý chỉ còn 56 điểm 10; giáo dục kinh tế và pháp luật chỉ còn 2; vật lý giảm xuống còn 189; công nghệ công nghiệp tăng từ 4 lên 40 điểm 10. Tổng số điểm 10 của tất cả các môn giảm từ 15.331 xuống còn 7.881, tức giảm gần một nửa.
Điều này cho thấy đề thi năm 2026 đã hạn chế đáng kể tình trạng điểm cao quá nhiều ở một số môn, qua đó nâng cao giá trị của điểm 10 và tăng khả năng phân loại HS xuất sắc.
Trong nhiều năm, việc quá nhiều HS đạt điểm cao ở một số môn khiến các trường ĐH khó tuyển chọn. Khi hàng nghìn TS cùng đạt từ 9 đến 10 điểm sẽ mất dần khả năng phân loại.
Điều này đã được cải thiện ở phổ điểm năm 2026. Các môn từng có tỷ lệ điểm cao rất lớn nay đã trở về mức hợp lý hơn, trong khi các môn tự nhiên không còn phổ điểm quá thấp như trước. Điều đó giúp điểm số giữa các tổ hợp xét tuyển trở nên cân bằng hơn, giúp các trường ĐH dễ dàng xác định nhóm TS xuất sắc, khá, trung bình và yếu.
Mặc dù vẫn còn những khác biệt nhất định về đặc trưng từng môn học, nhưng nhìn tổng thể, phổ điểm đã tiến gần hơn tới sự cân bằng giữa các lĩnh vực khoa học xã hội và STEM.
Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm tính công bằng trong tuyển sinh, bởi điểm số không còn phụ thuộc quá nhiều vào việc lựa chọn môn nào "dễ đạt điểm cao", mà phản ánh sát hơn năng lực học tập của TS. Dữ liệu tuyển sinh cũng trở nên đáng tin cậy hơn khi phổ điểm của các môn không còn quá chênh lệch.
Tin Gốc: Thanh Niên

Câu chuyện lan tỏa sau khi Đài truyền hình Hà Nam đăng tải đoạn video về hoàn cảnh của Zichen, hôm 13/4. Chỉ sau một thời gian ngắn, nó đã thu hút hơn 46 triệu lượt xem trên các nền tảng mạng xã hội.
Cha qua đời vì bệnh hiểm nghèo từ vài năm trước, mẹ tái hôn rồi rời đi, Zichen lớn lên cùng ông nội tại một vùng quê nghèo. Mỗi khi suất ăn ở trường có món thịt, Zichen đều lặng lẽ gói ghém một phần mang về.
"Em lo nếu không được ăn thịt ông sẽ yếu nên mang về, mong ông sống thật lâu", cậu bé chia sẻ.
Dù tuổi nhỏ, Zichen đã tự mình đảm đương mọi việc nhà, từ nấu cơm, giặt giũ đến phơi quần áo. Ông nội em cho biết dù ban ngày tỏ ra mạnh mẽ, nhưng ban đêm Zichen thường khóc vì nhớ cha mẹ. Người ông 73 tuổi áy náy vì sức yếu, không thể cho cháu một cuộc sống đủ đầy hơn.
Cô Vương, giáo viên chủ nhiệm của Zichen, cho biết em là học sinh ngoan và cực kỳ hiểu chuyện.
"Nếu không may có chuyện gì với ông, đứa bé này sẽ là con tôi. Tôi xin hứa sẽ nuôi cháu đến lúc trưởng thành", cô nói.
Dưới phần bình luận, hàng nghìn người bày tỏ ngưỡng mộ trước nghị lực của Zichen, đồng thời mong muốn được quyên góp hỗ trợ em. Cũng nhiều người trách mẹ Zichen vì bỏ rơi em khi còn quá nhỏ.
Ngay khi sự việc gây bão truyền thông, chính quyền địa phương và Hội Liên hiệp Phụ nữ cho biết đang xem xét chính sách hỗ trợ cho Zichen.
Tin Gốc: Vnexpress
