Thí sinh (TS) làm bài trong thời gian 150 phút gồm 120 câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, được tổ chức theo hình thức thi trên giấy. Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan có 4 lựa chọn, TS chọn một đáp án đúng cho mỗi câu hỏi và điền câu trả lời vào phiếu trả lời trắc nghiệm.
Theo đó, cấu trúc bài thi gồm 3 phần: sử dụng ngôn ngữ gồm 60 câu hỏi (30 câu tiếng Việt và 30 câu tiếng Anh); toán học gồm 30 câu hỏi; tư duy khoa học gồm 30 câu hỏi. Điểm số tối đa của bài thi là 1.200 điểm, trong đó điểm tối đa từng thành phần gồm: tiếng Việt 300 điểm, tiếng Anh 300 điểm; toán học 300 điểm và tư duy khoa học 300 điểm.
Độ khó của các câu hỏi trong đề thi được phân thành 3 mức độ và được phân bố theo tỷ lệ: mức độ 1 chiếm 30%, mức độ 2 chiếm 40%, mức độ 3 chiếm 30%.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chính, Giám đốc Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho biết kết quả thi đánh giá năng lực được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm hiện đại theo lý thuyết ứng đáp câu hỏi, điểm của từng câu hỏi có trọng số khác nhau tùy thuộc vào độ khó.
Bước ra khỏi khu vực thi, các TS cho biết hoàn thành bài làm ở mức độ khác nhau. Một nhận định chung của nhiều TS là đề thi không quá khó nhưng khá dài, không dễ dàng lấy điểm cao trong thời gian quy định. Nhiều TS cho biết sẽ tiếp tục tham dự đợt 2 kỳ thi này để cải thiện điểm số, có kết quả xét tuyển vào ngành mong muốn.
Quốc Việt, học sinh (HS) Trường Thực hành Sài Gòn (TP.HCM), cho biết đề thi không quá khó nhưng khá dài. Đặc biệt ở phần thi sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, TS này gặp khó bởi từ “niêm”. “Em gần như chưa có khái niệm nào về từ “niêm” nhưng vẫn dựa vào đề bài, yêu cầu của đề để phân tích suy luận và chọn đáp án. Theo các đáp án đưa ra, em tự phiên được nghĩa từ “niêm” trong trường hợp này tương đương với các từ như: “nối với”, “ứng với”…”, Việt nói và cho biết đã xử lý được cơ bản bài thi, hy vọng đạt 850 điểm để tự tin hơn khi xét tuyển ngành điện – điện tử Trường ĐH Bách khoa TP.HCM.
Không chỉ gặp từ lạ trong phần tiếng Việt, một số HS cho biết câu hỏi khó nằm rải rác ở nhiều phần của đề thi. Gia Huy, HS Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM), nhìn nhận: “Có thể nói mức độ khó của đề không cao nhưng muốn đạt điểm cao phải làm kỹ và học chắc. Ngoài sách giáo khoa, TS còn phải đọc thêm bên ngoài. Chưa kể, có những câu hỏi trong đề kiểm tra kiến thức từ lớp 10 hoặc bậc THCS”.
Theo M.P, HS Trường THPT Trần Khai Nguyên (TP.HCM), toán là phần khó nhất. “Nhiều câu hỏi phần toán nhìn dạng quen nhưng không làm được, có thể nói cách ra đề và cách hỏi không giống như thi tốt nghiệp THPT. Mỗi TS chỉ có 75 giây cho một câu thì không thể ngồi tư duy giải tay như cách học truyền thống mà phải có kỹ năng làm bài phù hợp. Ngoài kiến thức thì tốc độ làm bài nhanh rất quan trọng để đạt điểm tốt trong bài thi năng lực”, M.P nói.
Trao đổi với Thanh Niên, Trần Minh Khang, HS lớp 12 Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (tỉnh Khánh Hòa), cho rằng nếu so với đề minh họa ĐH Quốc gia TP.HCM công bố trước đó, đề lần này “dễ thở” hơn. “Các câu hỏi tư duy logic không quá rối rắm như đề minh họa và phần toán cũng phân hóa ổn, độ khó từ dễ đến trung bình khó”, Khang nói.
Học lớp chuyên Anh, Khang cho biết dễ dàng hoàn thành phần thi tiếng Anh, song lại gặp không ít khó khăn ở phần tiếng Việt, đặc biệt ở những câu hỏi về lỗi chính tả và thi luật. Nam sinh đặt mục tiêu vào Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) cũng đánh giá đề tiếng Việt có nhiều câu ngữ liệu dài, mất thời gian đọc.
Trọng Nhân, HS Trường Phổ thông Năng khiếu, ĐH Quốc gia TP.HCM, cho biết đề thi năm nay có một số điểm mới khi bổ sung câu hỏi sâu hơn về kiến thức lịch sử, các câu hỏi này đòi hỏi TS phải biết sử mới làm được. Bên cạnh đó, đề năm nay cũng có điểm mới là thêm 2 câu tích phân. “Năm nay đề còn có một câu khá hay liên quan đến phần kiến thức lớp 9 môn vật lý. Có thể thấy phạm vi kiến thức được đưa vào đề thi là rất rộng, không chỉ trong chương trình lớp 12 hay THPT”, TS này nhận định. Trước khi tham dự kỳ thi này, Trọng Nhân từng nhiều lần đạt mức trên 900 điểm các lần thi thử. Với bài thi này, Trọng Nhân mong muốn đạt mức trên 1.000 điểm để tăng cơ hội xét tuyển vào ngành khoa học máy tính Trường ĐH Bách khoa TP.HCM.
Báo cáo nhanh của Sở GD-ĐT Hà Nội cho biết, toàn thành phố có tổng số 6.399 thí sinh đăng ký dự thi lớp 10 THPT chuyên của sở. Sáng nay, có 6.065 thí sinh đến dự thi, đạt tỷ lệ 94,78% (vắng 334 thí sinh).
Buổi thi chuyên sáng nay không ghi nhận thí sinh nào vi phạm quy chế thi. Sở GD-ĐT nhận định các điểm thi diễn ra an toàn, đúng quy chế.
Thành phố Hà Nội có 4 trường THPT chuyên tuyển sinh học sinh vào lớp 10, gồm: Hà Nội - Amsterdam, Chu Văn An, Nguyễn Huệ và THPT Sơn Tây.
Để tổ chức kỳ thi, Sở GD-ĐT Hà Nội đã thành lập 27 điểm thi với hơn 700 phòng thi.
Từ 8 giờ sáng nay, tại các điểm thi diễn ra các môn thi gồm: ngữ văn, toán (dành cho thí sinh thi vào lớp chuyên toán, chuyên tin học), ngoại ngữ khác (gồm tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Đức dành cho thí sinh thi vào các lớp chuyên ngoại ngữ).
Thời gian làm bài của mỗi môn là 150 phút.
Buổi chiều cùng ngày, từ 14 giờ, tại các điểm thi diễn ra các môn thi: khoa học tự nhiên (dành cho thí sinh thi vào lớp chuyên vật lý, chuyên hóa học, chuyên sinh học), lịch sử và địa lý (dành cho thí sinh thi vào lớp chuyên lịch sử, chuyên địa lý) và tiếng Anh.
Thời gian làm bài mỗi môn là 150 phút.
Mỗi thí sinh được chọn tối đa 2 trong số 4 trường THPT chuyên của thành phố để đăng ký dự tuyển. Trong mỗi buổi thi, thí sinh chỉ được chọn 1 môn chuyên để dự thi.
Trước đó, trong các ngày 30 và 31.5, các thí sinh đã hoàn thành 3 bài thi ngữ văn, ngoại ngữ và toán của kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập không chuyên. Đây là 3 bài thi bắt buộc đối với cả thí sinh đăng ký dự tuyển vào lớp 10 chuyên năm học 2026 - 2027 tại Hà Nội.
Theo quy định của Sở GD-ĐT Hà Nội, điểm xét tuyển vào lớp 10 chuyên được tính bằng tổng điểm các bài thi không chuyên (hệ số 1) và điểm bài thi môn chuyên tương ứng với lớp chuyên (hệ số 2).
Hôm nay 23.5, Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng đã công bố đề tham khảo bài thi đánh giá năng lực phục vụ tuyển sinh đại học, cao đẳng khối trường quân đội (QDA) năm 2026. Đề bài thi QDA được xây dựng theo hướng đánh giá các năng lực cốt lõi của học sinh THPT đạt được theo chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2018 của Bộ GD-ĐT.
Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng cho biết, thông qua nội dung chương trình giáo dục phổ thông, bài thi đánh giá các năng lực thuộc 3 nhóm năng lực cốt lõi: giải quyết vấn đề và sáng tạo; giao tiếp và hợp tác; tự chủ và tự học, tìm hiểu, khám phá, vận dụng kiến thức khoa học tự nhiên và/hoặc khoa học xã hội và một số năng lực đặc thù.
Bài thi gồm 3 phần, tổng điểm 150, tổng thời gian làm bài 159 phút (không tính thời gian hướng dẫn và chuyển đổi giữa các phần thi, trường hợp có câu hỏi thử nghiệm, bài thi sẽ được cộng thêm thời gian tương ứng nhưng không kéo dài quá 5 phút).
Điểm bài thi được xác định dựa trên tổng số câu trả lời đúng, độ khó, độ phân biệt của mỗi câu hỏi. Câu trả lời sai hoặc không trả lời không được tính điểm. Bảng điểm bao gồm điểm tổng và điểm của 3 phần thi. Thí sinh làm bài thi trực tiếp trên máy tính tại các phòng thi tiêu chuẩn. Điểm của bài thi được chấm tự động bằng phần mềm tổ chức thi.
Phần 1 là toán học và xử lý số liệu/tư duy định lượng, thời gian 80 phút, gồm 50 câu hỏi (chưa bao gồm câu hỏi thử nghiệm không tính điểm), thang điểm 50. Trong đó, 35 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn và 15 câu hỏi điền đáp án, có tối thiểu 1 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 3 câu hỏi.
Phần 2 là văn học - ngôn ngữ/tư duy định tính, thời gian làm bài 55 phút, gồm 50 câu hỏi (chưa bao gồm câu hỏi thử nghiệm không tính điểm), thang điểm 50. Dạng thức câu hỏi là trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn, trong đó có 25 câu hỏi đơn và 5 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 5 câu hỏi.
Phần 3 là tự chọn giữa khoa học hoặc tiếng Anh (trong phần khoa học cũng được chọn trong 4 mã bài thi), thời gian làm bài 60 phút, gồm 50 câu hỏi (chưa bao gồm câu hỏi thử nghiệm không tính điểm), tổng điểm 50. Câu hỏi là dạng trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn và điền đáp án.
Thí sinh lựa chọn thi một trong các mã bài thi trong bảng dưới đây:
Đối với lựa chọn khoa học ở phần thi thứ 3, thí sinh chọn 1 trong 4 mã bài thi: QĐ01, QĐ02, QĐ03 và QĐ04. Mỗi môn thi trong 4 mã này có 25 câu hỏi. Trong đó, có các câu hỏi đơn và từ 1 đến 3 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 3 câu hỏi. Các môn khoa học tự nhiên đều có tối thiểu 1 câu hỏi điền đáp án/môn.
Đối với lựa chọn tiếng Anh ở phần thi thứ 3, thí sinh làm mã bài thi QĐ05 gồm 50 câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn, trong đó có 35 câu hỏi đơn và 3 chùm câu hỏi gồm 1 ngữ cảnh đi kèm 5 câu hỏi về từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt trong văn bản viết, đọc hiểu văn bản, tình huống…
Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng cũng cho biết, độ khó của các phần thi toán học và xử lý số liệu, văn học - ngôn ngữ, khoa học tăng dần từ cấp độ 1 đến cấp độ 3 và được phân định theo tỷ lệ: cấp độ 1 là 20%, cấp độ 2 là 60% và cấp độ 3 là 20%.
Còn độ khó của phần thi tiếng Anh gồm 4 cấp độ (bậc 2, bậc 3, bậc 4, bậc 5) theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam, tương đương bậc A2, B1, B2 và C1 theo khung tham chiếu chung châu Âu. Tỷ lệ các bậc này cụ thể như sau: bậc 2 là 25%, bậc 3 là 35%, bậc 4 là 35%, bậc 5 là 5%.
Nhìn chung, nội dung bài thi được phân bổ như sau theo chương trình THPT: lớp 10 khoảng 10%, lớp 11 khoảng 30%, lớp 12 khoảng 60%. Các môn thi vật lý, sinh học có thể thay đổi trong khoảng 5% theo phân bố chương trình giữa các lớp.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) nhằm chuẩn hóa đội ngũ lãnh đạo và nâng cao chất lượng quản trị tại các cơ sở giáo dục đại học.
Theo Thông tư 17 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (có hiệu lực từ ngày 27-3), tiêu chuẩn chung đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học là người có phẩm chất đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thường xuyên, trực tiếp quản lý, điều hành công việc; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và có năng lực xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển cơ sở giáo dục đại học.
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục công lập phải đáp ứng các yêu cầu của vị trí việc làm và các quy định khác của Đảng, pháp luật của Nhà nước về viên chức quản lý.
Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung nêu trên, hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học cần đủ tiêu chuẩn cụ thể:
Có trình độ tiến sĩ và có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn của cơ sở giáo dục đại học;
Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu phù hợp với trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục;
Có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục đại học từ cấp trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên;
Có năng lực lãnh đạo, quản trị và phát triển cơ sở giáo dục đại học; có khả năng hợp tác phát triển, huy động nguồn lực cho cơ sở giáo dục đại học.
Thực tế hiện nay, tại nhiều trường đại học trên cả nước, thậm chí ở cả những trường thuộc nhóm tốp đầu, vẫn có phó hiệu trưởng chỉ có trình độ thạc sĩ. Ở các trường đại học tư thục có đến 2-3 phó hiệu trưởng trình độ thạc sĩ.
Các thạc sĩ đang giữ vị trí phó hiệu trưởng ở trường đại học không phụ trách hoạt động đào tạo, khoa học - công nghệ mà chỉ phụ trách, công tác đoàn thể, công tác sinh viên…
Đáng chú ý, theo quy định mới nhất tại Thông tư 17, trình độ thạc sĩ không còn đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng tại phần lớn các trường đại học.
Ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung, vị trí phó hiệu trưởng trường đại học bắt buộc phải có trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu vị trí công tác.
Trường hợp ngoại lệ đối với các trường đào tạo ngành đặc thù, chỉ những trường có quy mô đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, nhóm ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài, nhóm ngành thể dục thể thao chiếm ít nhất 70% tổng quy mô đào tạo toàn trường, thì phó hiệu trưởng mới có thể giữ trình độ từ thạc sĩ trở lên trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với vị trí công tác.
Ngoài bằng cấp, nhân sự phó hiệu trưởng trường đại học phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục đại học từ cấp phó trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên; có năng lực quản lý và phát triển các lĩnh vực cụ thể của cơ sở giáo dục đại học.