Ngày 10-4, Trường đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM phối hợp cùng Tòa án nhân dân khu vực 1 – TP.HCM tổ chức tọa đàm “Tòa án điện tử trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam”.
PGS.TS Ngô Hữu Phước, Phó trưởng khoa phụ trách khoa luật kinh tế, Trường đại học Kinh tế – Luật, cho rằng tòa án điện tử cần được nhìn nhận như một mô hình vận hành tư pháp mới, trong đó toàn bộ quy trình tố tụng được thiết kế lại trên nền tảng số.
Theo ông, tòa án điện tử có thể chia thành ba cấp độ gồm số hóa dữ liệu, thực hiện các giao dịch tố tụng trực tuyến và cấp độ cao nhất là tái cấu trúc toàn diện theo nguyên tắc “digital by design” (tạm dịch: thiết kế số ngay từ đầu).
Ở cấp độ cuối cùng, công nghệ đi vào lõi vận hành của tòa án, từ quản lý dữ liệu, kết nối liên thông, hỗ trợ tra cứu, cho tới ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các tác vụ tư pháp.
Theo ông, muốn xây dựng tòa án điện tử thì phải có khung pháp lý đồng bộ, hạ tầng công nghệ đủ mạnh, dữ liệu được chuẩn hóa và bảo mật.
Quan trọng hơn cả, đội ngũ thẩm phán, thư ký, cán bộ tư pháp phải được đào tạo bài bản về năng lực số, từ kỹ năng vận hành hệ thống đến khả năng đánh giá chứng cứ điện tử, tổ chức phiên tòa trực tuyến và xử lý các tình huống phát sinh trong môi trường số.
Ông Nguyễn Cao Trí, Tòa án nhân dân khu vực 1 – TP.HCM, chia sẻ một trong những chuyển động rõ nhất là quá trình từng bước số hóa quy trình tố tụng, từ tiếp nhận đơn, quản lý hồ sơ cho đến tổ chức xét xử.
Nhờ sử dụng phần mềm quản lý án, hệ thống lưu trữ dữ liệu điện tử và các công cụ hỗ trợ điều hành, thời gian xử lý, hạn chế sai sót và tăng khả năng theo dõi tiến độ giải quyết vụ việc đã giảm đáng kể.
Một khó khăn được ông Trí nhấn mạnh là yếu tố con người. Theo ông, không phải cán bộ nào cũng sẵn sàng thích ứng ngay với môi trường làm việc số, trong khi kỹ năng công nghệ thông tin giữa các vị trí còn chưa đồng đều.
Vì vậy xây dựng tòa án điện tử cần đi cùng chiến lược đào tạo liên tục, giúp đội ngũ thẩm phán, thư ký và cán bộ tư pháp vừa sử dụng thành thạo công cụ, vừa thay đổi tư duy làm việc theo hướng phù hợp với mô hình tư pháp số.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo thông tư ban hành quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học để lấy ý kiến góp ý.
Tại dự thảo, lần đầu bộ đưa ra cơ chế miễn phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu xuất sắc đạt chuẩn quốc tế cao.
Theo đó luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh sẽ được miễn quy trình phản biện độc lập khi đáp ứng điều kiện có ít nhất 3 bài báo khoa học là kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung luận án, được công bố trên tạp chí khoa học thuộc danh mục WoS hoặc Scopus, trong đó có ít nhất 2 bài thuộc nhóm Q1.
Trong các công bố này, nghiên cứu sinh phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các bài báo. Các công bố không quá 60 tháng tính đến thời điểm tổ chức đánh giá luận án.
Phản biện độc lập là quy trình đánh giá luận án trước khi nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tại hội đồng đánh giá luận án.
Cơ sở đào tạo có trách nhiệm hoàn thành quy trình phản biện độc lập trong thời gian tối đa 6 tháng kể từ thời điểm nghiên cứu sinh nộp dự thảo luận án đã được đơn vị chuyên môn thông qua. Trong trường hợp phải thực hiện lấy ý kiến phản biện độc lập lần thứ hai theo quy định, thời gian được kéo dài thêm tối đa 3 tháng.
Với những trường hợp không thuộc diện miễn phản biện độc lập, luận án của nghiên cứu sinh sẽ được gửi lấy ý kiến phản biện của 2 nhà khoa học hoặc chuyên gia không thuộc cơ sở đào tạo ở trong nước hoặc nước ngoài.
Người được lấy ý kiến phản biện phải không có lợi ích liên quan trực tiếp đến nghiên cứu sinh hoặc người hướng dẫn.
Ý kiến của người phản biện độc lập phải kết luận rõ đồng ý hoặc không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án.
Luận án được xác định đạt yêu cầu phản biện độc lập khi có ít nhất 2 ý kiến đồng ý của người phản biện độc lập. Trong trường hợp có 1 ý kiến không đồng ý, cơ sở đào tạo gửi luận án để lấy thêm ý kiến của 1 người phản biện độc lập khác làm căn cứ xem xét, quyết định.
Trường hợp có từ 2 ý kiến không đồng ý về chất lượng chuyên môn của luận án, cơ sở đào tạo yêu cầu nghiên cứu sinh và người hướng dẫn chỉnh sửa, bổ sung luận án và thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ hai. Không thực hiện phản biện độc lập lần thứ ba.
Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung quy định về tổ chức bảo vệ luận án trực tuyến trong trường hợp cần thiết khi đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tính khách quan, công khai và minh bạch.
Dự thảo quy định chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ được tổ chức theo hình thức đào tạo chính quy nhằm tăng cường môi trường học thuật, nghiên cứu và bảo đảm chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh.
Các cơ sở đào tạo được chủ động quyết định hình thức, phương thức tổ chức đào tạo, kế hoạch học tập toàn khóa và thời gian đào tạo chuẩn của từng chương trình. Đồng thời phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng trong tuyển sinh và tổ chức đào tạo.
Các cơ sở đào tạo được ứng dụng công nghệ thông tin trong tuyển sinh, đăng ký dự tuyển, quản lý và lưu trữ hồ sơ người học khi bảo đảm độ tin cậy, tính xác thực và công bằng trong đánh giá người dự tuyển.
Dự thảo bổ sung nhiều quy định nhằm tăng tính liên thông giữa các trình độ đào tạo trong giáo dục đại học. Dự thảo quy định kết quả học tập và chứng chỉ giáo dục đại học dùng để công nhận, chuyển đổi tín chỉ có giá trị trong thời hạn 60 tháng kể từ ngày hoàn thành học phần hoặc thời điểm được cấp chứng chỉ.
Người học phải hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian tối thiểu bằng hai phần ba và tối đa không vượt quá 2,5 lần thời gian đào tạo chuẩn của chương trình.
Trường hợp quá thời gian đào tạo tối đa mà chưa hoàn thành chương trình, người học phải thực hiện xét lại điều kiện đầu vào theo quy định của cơ sở đào tạo và chỉ được bảo lưu các học phần, chứng chỉ còn thời hạn công nhận.
Đối với chương trình đào tạo tích hợp, người học tích lũy đủ số lượng tín chỉ của trình độ nào thì được xem xét công nhận và cấp bằng ở trình độ tương ứng theo quy định của chương trình đào tạo.
Xem chi tiết dự thảo tại đây.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cấp thiết hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ trẻ em trên môi trường số
Suốt nhiều năm, khi nói đến việc bảo vệ trẻ em trên Internet, người ta thường nhấn mạnh vào giáo dục kỹ năng như nhận biết tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân hay ứng xử văn minh trên mạng… Những điều đó vẫn đúng, nhưng trước bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ như vậy là chưa đủ.
Phát biểu gần đây của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao lưu và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác bảo vệ trẻ em.
Do vậy, việc xây dựng các quy định quản lý trẻ em tiếp cận mạng xã hội và AI là bước chuyển cần thiết trong tư duy bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Nếu trước đây trọng tâm là trang bị kỹ năng cho trẻ, thì nay giáo dục phải đi cùng pháp luật, giải pháp công nghệ, trách nhiệm của các nền tảng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường với cơ quan quản lý. Nói cách khác, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần một hệ sinh thái bảo vệ nhiều tầng, thay vì những nỗ lực đơn lẻ, rời rạc.
Thông điệp ấy cho thấy một sự dịch chuyển trong tư duy. “Trường học an toàn” hôm nay không đơn thuần giới hạn trong hàng rào trường học, cũng không dừng lại ở việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, mà còn bao gồm việc bảo vệ học sinh trong môi trường số.
Một học sinh có thể không gặp bạo lực trong lớp học, nhưng vẫn đối diện với bắt nạt trên mạng, nội dung độc hại, lừa đảo trực tuyến, thông tin sai lệch hay những thuật toán liên tục giữ các em ở lại màn hình nhiều giờ mỗi ngày. Nếu những rủi ro ấy không được nhận diện như một phần của an toàn học đường, khái niệm “trường học an toàn” sẽ trở nên thiếu trọn vẹn.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia đã vào cuộc mạnh mẽ, với nhiều giải pháp thiết thực. Trọng tâm của các chính sách này xoay quanh việc quy định độ tuổi tối thiểu để sử dụng mạng xã hội, yêu cầu xác minh độ tuổi, tăng trách nhiệm của các nền tảng công nghệ hoặc thiết lập tài khoản trẻ em ở chế độ bảo mật cao hơn… Điểm chung là không đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai trẻ em hay cha mẹ, mà buộc cả hệ thống cùng tham gia bảo vệ trẻ.
Ở Việt Nam hiện chưa có địa phương nào ban hành quy định cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều trường học và địa phương đã bắt đầu siết việc học sinh sử dụng điện thoại trong trường học. Trong khi đó, đề xuất hạn chế hoặc cấm trẻ em tiếp cận một số nền tảng mạng xã hội vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thảo luận chính sách nhưng đã nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Không ít phụ huynh bày tỏ sự đồng tình với việc cần có những giới hạn rõ ràng hơn để bảo vệ trẻ em trên môi trường số, miễn là các quy định ấy được xây dựng khoa học, khả thi và không cản trở nhu cầu học tập, tiếp cận tri thức của các em.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa (đoàn Hải Phòng) đã đề nghị nghiên cứu các giải pháp phù hợp, trong đó có phương án hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến. Cùng với đó, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng tiến hành khảo sát tại một số địa phương như Đắk Lắk, Hưng Yên, Hải Phòng... về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Những động thái liên tiếp này là tín hiệu đáng mừng, bởi điều quan trọng không đơn thuần là có thêm đề xuất hay khảo sát, mà là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số đã bước ra khỏi phạm vi những lời khuyến nghị để trở thành một nội dung chính sách. Đây là tiền đề để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Cần “lá chắn” nhiều tầng cho trẻ em trên môi trường số
Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ là trách nhiệm của cha mẹ. Cũng không thể chỉ giao cho nhà trường hay chờ đợi sự tự giác của các nền tảng công nghệ. Điều mà chúng ta cần lúc này là xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, đồng bộ, nhất quán bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc bảo vệ người dùng chưa thành niên; nghiên cứu các giải pháp công nghệ như xác minh độ tuổi, thiết lập chế độ mặc định an toàn cho tài khoản trẻ em; tăng cường cơ chế báo cáo, tiếp nhận phản ánh và xử lý nhanh, nghiêm các nội dung độc hại, đặc biệt là những nội dung có nguy cơ tác động trực tiếp đến trẻ em; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ trẻ em trên môi trường số…
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng phải tính đến các “khoảng trống” dễ bị lợi dụng, hạn chế tối đa tình trạng lách luật, vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc sử dụng tài khoản của người khác để tiếp cận những nền tảng, nội dung không phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ tạo ra “hàng rào”. Để “lá chắn” ấy thực sự phát huy hiệu quả, giáo dục mới là yếu tố quyết định.
Trước mỗi năm học mới, việc tập huấn giáo viên và truyền thông tới phụ huynh cần được xem là một phần của công tác chuẩn bị. Giáo viên cần được trang bị kiến thức để hướng dẫn học sinh sử dụng AI và mạng xã hội có trách nhiệm. Phụ huynh cần được hỗ trợ để hiểu rằng quản lý con trên môi trường số không đơn thuần là giới hạn thời gian sử dụng thiết bị, mà còn là đồng hành, trò chuyện và cùng con xây dựng “hệ miễn dịch” số, kỹ năng số.
Ở cấp độ nhà trường, kỹ năng công dân số, sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, nhận diện lừa đảo trực tuyến và ứng xử trên môi trường mạng,… cần trở thành những nội dung giáo dục định kỳ. Cùng với đó là tăng cường hoạt động thể thao, nghệ thuật, đọc sách, câu lạc bộ và trải nghiệm thực tế để giúp học sinh cân bằng giữa đời sống số và đời sống thực.
Báo chí, mạng xã hội, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ cũng cần đồng loạt triển khai những chiến dịch truyền thông bài bản, dài hạn về an toàn số bằng nhiều hình thức truyền tải gần gũi, hấp dẫn thông qua video, infographic, podcast, tọa đàm hay bộ tài liệu hướng dẫn dành cho phụ huynh và học sinh.
Chỉ khi việc “định hướng tư tưởng” được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo cách “mưa dầm thấm lâu”, nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ mới dần trở thành một thói quen, thay vì chỉ được nhắc đến sau mỗi vụ việc đáng tiếc.
Bên cạnh đó, thông tin về Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cùng các kênh tiếp nhận phản ánh, tư vấn và hỗ trợ cần được phổ biến rộng rãi để bất kỳ trẻ em nào cũng biết nơi tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần.
Điều quan trọng nhất, tôi cho rằng chúng ta không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” hay “thả nổi”. Trẻ em có quyền tiếp cận Internet, AI và những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại. Nhưng quyền ấy phải đi cùng một môi trường đủ an toàn, đủ nhân văn và đủ trách nhiệm.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh không đo bằng việc trẻ em sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà bằng việc người lớn đã làm gì, đã tác động ra sao để các em được lớn lên an toàn trong kỷ nguyên số.
Và có lẽ, trước thềm năm học mới, đó là câu hỏi mà không chỉ ngành giáo dục, mà cả gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội đều cần cùng nhau trả lời.
Bà Đặng Việt Trinh là chuyên gia truyền thông, hoạt động trong lĩnh vực quản trị truyền thông - thương hiệu, quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng. Bên cạnh công việc chuyên môn, bà thường xuyên có các bài phân tích, bình luận đăng tải trên nhiều cơ quan báo chí, với mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục, trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững và những chuyển động xã hội trong thời đại số.
Đặng Việt Trinh
Tin Gốc: Dân Trí

Nghiêm Hoàng Linh, 35 tuổi, hiện làm việc ở trường Toán và Thống kê, Đại học Sydney - ngôi trường top 25 thế giới, top 3 ở Australia theo bảng xếp hạng đại học QS 2026.
Năm ngoái, Linh cùng ba cộng sự ở Đại học Sydney và Đại học Quốc gia Australia triển khai dự án Discovery Projects do Hội đồng Nghiên cứu Australia (ARC) tài trợ, với kinh phí gần 500.000 AUD (khoảng 360.000 USD). Giữa tỷ lệ cạnh tranh với chỉ 13% hồ sơ được chọn, dự án của nhóm thuyết phục hội đồng bởi khả năng giải mã những cấu trúc phức tạp trong mạng xã hội và sinh học.
Trước một dấu ấn trong hành trình nghiên cứu, Linh nhớ về "cú trượt" thời mới tốt nghiệp đại học, khiến anh thay đổi hoàn toàn tư duy về sự nghiệp.
Linh sinh ra ở Hà Nội, là cựu học sinh chuyên Toán - Tin, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học Miami ở Florida, Mỹ, năm 2015, với thành tích học thuật, điểm GRE (bài thi chuẩn hóa dùng ứng tuyển sau đại học) thuộc nhóm top đầu và một công bố khoa học quốc tế "dắt lưng", Linh tự tin ứng tuyển chương trình tiến sĩ ở các đại học hàng đầu thế giới. Linh nói chờ đợi một "tấm vé rực rỡ" cho tương lai, nhưng kết quả trả về là những "gáo nước lạnh". Các trường đồng loạt từ chối, một số nơi chỉ đưa ra lời đề nghị học thạc sĩ.
"Có lúc tôi đã nghĩ hoặc là trường top hoặc là không đi đâu cả", Linh nhớ lại. Sự thất vọng lớn đến mức khi Southern Methodist University (SMU), ngôi trường mà Linh xếp vào nhóm "dự phòng", mời nhập học với gói học bổng Fellowship đặc biệt dành cho sinh viên xuất sắc, anh vẫn đắn đo.
Sự do dự kéo dài đến khi Linh tìm đến giảng viên hướng dẫn cũ để xin lời khuyên. Thầy đã nói một câu khiến anh thức tỉnh: "Tuyển sinh tiến sĩ ở đâu cũng cạnh tranh khốc liệt và chỉ có rất ít người được nhận. Cuối cùng, giá trị của bằng PhD là do chính em tạo ra".
Lời khuyên ấy giúp Linh gỡ bỏ áp lực về danh tiếng để bắt đầu nhìn nhận các lựa chọn bằng tiêu chí phù hợp: Nhóm nghiên cứu có chiều sâu, quy mô người học ít để được giáo sư hướng dẫn sát sao và chương trình học cho phép tập trung tối đa vào nền tảng lý thuyết. Anh chọn SMU, lấy bằng tiến sĩ Thống kê vào năm 2019 sau 3,5 năm.
Sau này, Hoàng Linh nhận ra cú trượt khỏi các trường top không phải là thất bại, mà là điểm khởi đầu cho sự trưởng thành trong tư duy.
"Khoa học là bình đẳng. Các nhà khoa học được ghi nhớ không phải bởi nơi họ làm việc, mà bởi những công trình họ để lại", anh nhìn nhận.
Để hoàn tất chương trình PhD trong thời gian ngắn hơn so với thông thường (5 năm), Linh cho rằng chìa khóa nằm ở việc xây dựng nền tảng vững chắc và tư duy "luôn tìm cái mới" trong từng dự án nhỏ.
Ở SMU, anh tập trung vào 6 lớp học nền tảng về Lý thuyết, Thống kê ứng dụng và Tính toán trong năm đầu. Linh nhận định những môn cơ sở ở trình độ tiến sĩ khác xa bậc đại học, thạc sĩ về cả độ khó lẫn khối lượng kiến thức. Tại đây, mọi kết quả dù là nhỏ nhất đều phải được chứng minh chặt chẽ bằng toán học.
"Bạn sẽ gặp một cú sốc lớn khi đang ở chỗ tiêu thụ kiến thức chuyển sang tư thế của người sản xuất kiến thức. Bạn không học để tích lũy cái đã có, mà học để sáng tạo ra cái mới chưa từng tồn tại", Linh chia sẻ.
Chàng trai Việt sau đó vượt qua thử thách lớn nhất để trụ lại là kỳ thi sát hạch cuối năm thứ nhất, kéo dài ba ngày. Trong đó, ngày đầu tiên là bài thi Lý thuyết "marathon" trong 8 tiếng liên tục. Ngày thứ hai tập trung vào tư duy mô hình trong 5 tiếng, cuối cùng là 6,5 tiếng giải quyết dữ liệu thực trên máy tính.
Bước sang năm thứ hai, Linh bắt đầu rèn luyện tư duy sáng tạo thông qua các dự án cuối kỳ. Anh luôn tự đặt ra áp lực phải tìm thấy "cái mới" trong mọi đề tài nghiên cứu.
"Công việc nghiên cứu không thể chờ đợi ý tưởng từ trên trời rơi xuống. Tôi lập danh sách ý tưởng từ việc đọc hàng loạt bài báo, dù có cái không tốt nhưng chúng là mồi lửa cho những phát hiện sau này", anh chia sẻ.
Thói quen này giúp anh vượt qua kỳ thi sát hạch thứ hai chỉ trong 30 ngày bằng việc phát triển một ý tưởng nghiên cứu mới từ các tài liệu được giao.
Linh nhìn nhận một yếu tố khác giúp anh về đích sớm là sự đồng hành của người hướng dẫn. Linh được làm việc với một giáo sư trẻ, sẵn sàng phản hồi email lúc nửa đêm, dành cả ngày để cùng anh sửa lỗi code hay trau chuốt từng câu chữ trong bản thảo. Nhờ đó, Linh tốt nghiệp với ba bài đăng trên các tạp chí uy tín hàng đầu.
Làm việc tại Đại học Sydney từ năm 2022, chủ đề bao trùm trong các nghiên cứu của Linh là phát triển các phương pháp và lý thuyết thống kê hiện đại để khai thác tri thức từ dữ liệu lớn. Theo anh, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã dẫn tới những tập dữ liệu lớn, nhiều chiều, có cấu trúc phụ thuộc phức tạp theo thời gian, không gian và mạng lưới. Điều này làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết về phương pháp thống kê mới, có khả năng chắt lọc thông tin, nhưng vẫn bảo toàn khả năng đưa ra các dự báo đáng tin cậy.
Dự án hiện tại của Linh và các cộng sự cũng vì mục tiêu này. Các phương pháp nhằm "lọc" ra phần thông tin quan trọng từ những bộ dữ liệu khổng lồ và nhiều tầng liên kết - từ dữ liệu gene, hồ sơ bệnh án cho tới hành vi trên mạng xã hội. Nhờ đó, các nhà sinh học có thể hiểu rõ hơn cơ chế gây bệnh, trong khi các nhà quản lý có thêm công cụ nhận diện và hạn chế sự lan truyền của thông tin sai lệch trên môi trường số.
Linh quan niệm nếu khoa học giống như một kim tự tháp 100 tầng, người ta thường chỉ nhớ viên gạch đầu tiên và cuối cùng. Nhưng từ tầng hai đến 99 là cả một hành trình dài với nhiều người.
"Tôi nghĩ điều quan trọng không phải mình đứng ở tầng nào, mà là có đang góp một viên gạch có ích cho nó hay không", anh nói.
Tin Gốc: Vnexpress

