Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến đóng góp đối với dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau ĐH. Thông tư này sẽ thay thế Thông tư số 23 về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ và Thông tư số 18 về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ (cùng năm 2021).
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là cho phép sinh viên ĐH có kết quả học tập đạt loại khá hoặc tương đương trở lên được đăng ký học trước một số học phần chương trình thạc sĩ với số tín chỉ được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 40% tổng số tín chỉ (thông tư cũ chỉ cho phép học trước 15 tín chỉ, khoảng 25%).
Sinh viên đã tích lũy được tối thiểu 70% khối lượng học tập của chương trình ĐH và có điểm trung bình chung tích lũy đạt loại giỏi hoặc tương đương trở lên và học viên đã tích lũy tối thiểu 40% khối lượng học tập của chương trình thạc sĩ, được đăng ký học trước một số học phần chương trình đào tạo tiến sĩ với số tín chỉ được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 25% tổng số tín chỉ (thông tư cũ không có quy định này).
Đối tượng học tiến sĩ còn được áp dụng với sinh viên tốt nghiệp loại khá và đáp ứng yêu cầu bổ sung về công trình nghiên cứu khoa học hoặc kinh nghiệm công tác đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo.
Chia sẻ về những điểm mới trong đào tạo sau ĐH nêu tại dự thảo, PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, nhận định: “Các đề xuất này sẽ góp phần tạo cơ hội liên thông trong học tập giữa các bậc đào tạo, giúp người học có định hướng rõ ràng hơn về lộ trình học tập và có sự chuẩn bị tốt hơn cho từng bậc học tiếp theo. Đồng thời, đây cũng là cơ chế giúp các cơ sở giáo dục ĐH phát hiện, chọn lọc và bồi dưỡng sớm những người học có năng lực, có định hướng nghiên cứu khoa học và học lên trình độ cao. Sinh viên có năng lực học tập tốt sẽ được tiếp cận sớm với học phần trình độ sau ĐH, rút ngắn thời gian học tập”.
PGS-TS Đinh Thị Thu Hồng, Trưởng ban Đào tạo ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH), cũng cho rằng việc mở rộng đối tượng dự tuyển nghiên cứu sinh cho thấy định hướng tăng tính liên thông, linh hoạt giữa các trình độ đào tạo, đồng thời tạo cơ hội phát hiện và bồi dưỡng người học có năng lực nghiên cứu từ sớm thay vì chờ hoàn thành chương trình ĐH và được cấp bằng tốt nghiệp.
“Trong bối cảnh hiện nay, nhiều sinh viên đã sớm tham gia nghiên cứu ở các lĩnh vực ngay từ bậc ĐH, việc mở rộng sẽ tạo điều kiện để người học phát triển liên tục, hạn chế gián đoạn quá trình học tập và nghiên cứu”, PGS-TS Hồng cho hay.
Trong khi đó, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, nhận định những điểm này thể hiện cách tiếp cận gần hơn với nhiều ĐH quốc tế hiện nay, nơi năng lực nghiên cứu được xem trọng hơn là việc bắt buộc phải đi theo lộ trình từ ĐH lên thạc sĩ đến tiến sĩ như trước kia.
“Nếu triển khai tốt, đây có thể là thay đổi lớn nhất của đào tạo sau ĐH trong nhiều năm qua. Không chỉ là thay đổi quy chế tuyển sinh hay quy trình đào tạo, mà thay đổi cả mục tiêu và sứ mệnh đào tạo. Nó giúp các trường phát hiện sinh viên giỏi từ năm 2 – 3 để đưa vào nhóm nghiên cứu, cho học trước tín chỉ, tham gia đề tài, hỗ trợ công bố…”, ông Tuấn chia sẻ.
Theo PGS-TS Đinh Thị Thu Hồng, việc mở rộng đối tượng dự tuyển nghiên cứu sinh chắc chắn sẽ làm tăng nguồn ứng viên đầu vào. Trước đây, phần lớn nghiên cứu sinh đến từ đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên hoặc người đi làm quay lại học nên quy mô còn hạn chế. Bà Hồng dự đoán nếu quy chế mới được thông qua, nhu cầu học trước các học phần sau ĐH và nhu cầu học tiếp lên thạc sĩ, tiến sĩ của sinh viên tốt nghiệp từ UEH dự kiến sẽ gia tăng.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng đánh giá các đề xuất này góp phần tăng nguồn tuyển cho các chương trình đào tạo tiến sĩ đang gặp khó khăn như hiện nay. Đặc biệt, giúp tạo nguồn nhân lực có trình độ đạt chuẩn học thuật nhanh hơn và chủ động hơn trong bối cảnh nhiều trường ĐH đang chịu áp lực rất lớn từ quy định về đội ngũ giảng viên theo chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, chuẩn chương trình đào tạo, kiểm định, công bố khoa học, mở ngành, xác định chỉ tiêu…
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, cho rằng mở rộng đầu vào tiến sĩ theo hướng đánh giá năng lực nghiên cứu thực chất thay vì chỉ dựa vào bằng cấp trung gian, sẽ tạo ra nguồn tuyển sinh phong phú hơn, thu hút được nhiều nhân tố trẻ, có tiềm năng nghiên cứu.
“Trong bối cảnh các trường ĐH đang chịu áp lực về chuẩn đội ngũ giảng viên và chuẩn chương trình đào tạo, đặc biệt là yêu cầu tỷ lệ tiến sĩ/giảng viên theo quy định, quy chế mới sẽ giúp các trường chủ động hơn trong việc nuôi dưỡng – phát triển – bổ sung lực lượng giảng viên có trình độ cao đáp ứng các yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo”, PGS-TS Hoàn nhận định.
Theo tiến sĩ Võ Thanh Hải, Phó giám đốc thường trực ĐH Duy Tân (Đà Nẵng), trong thời gian tới, thay vì bị động chờ tuyển người đã có bằng tiến sĩ từ nơi khác, các trường ĐH có thể tự phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo liên tục những nhân tố tiềm năng của chính mình. “Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong bối cảnh các tiêu chí kiểm định ngày càng đòi hỏi cao về tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ và năng lực nghiên cứu. Chu kỳ bổ sung đội ngũ sẽ được rút ngắn đáng kể, đồng thời giảm được khoảng trống thế hệ trong đội ngũ giảng viên”, tiến sĩ Hải chia sẻ.
Mặt khác, tiến sĩ Võ Văn Tuấn nhận định nếu các trường ĐH chỉ xem đây là cơ hội để tăng số lượng tiến sĩ nhằm đáp ứng chuẩn đội ngũ mà không kiểm soát chặt chất lượng đầu vào, đặc biệt là chất lượng nghiên cứu, thì sẽ xuất hiện nhiều nguy cơ như chỉ mang tính hình thức, thương mại hóa đào tạo tiến sĩ, lạm phát công bố khoa học, đào tạo tiến sĩ sẽ trở nên đại trà và từ đó hình thành một thế hệ tiến sĩ đủ bằng cấp nhưng yếu năng lực nghiên cứu thật, mất cân bằng giữa giảng dạy và nghiên cứu, từ đó mất niềm tin xã hội vào bằng tiến sĩ.
“Vì vậy, khâu sàng lọc trong quá trình đào tạo phải cực kỳ nghiêm ngặt. Nếu trường ĐH không có nhóm nghiên cứu mạnh, không có văn hóa nghiên cứu, không có giảng viên hướng dẫn đủ năng lực, chạy theo số lượng để hợp thức chuẩn, thì quy chế càng mở sẽ càng tạo nguy cơ “lạm phát tiến sĩ”. Ngược lại, với các trường có chiến lược phát triển nghiên cứu bài bản thì đây là cơ hội vàng để tăng tốc quốc tế hóa, xây dựng đội ngũ học thuật trẻ, phát triển ĐH nghiên cứu và nâng vị thế trên bảng xếp hạng quốc tế”, tiến sĩ Tuấn khẳng định.
Tương tự, tiến sĩ Đinh Thị Thu Hồng khuyến cáo tác động tích cực chỉ thực sự phát huy khi các trường kiểm soát tốt chất lượng học thuật và năng lực nghiên cứu của người học. Nếu mở rộng đầu vào nhưng thiếu chuẩn nghiên cứu, thiếu công bố khoa học thực chất hoặc thiếu đội ngũ hướng dẫn đủ mạnh thì có thể dẫn tới nguy cơ “đại trà hóa” đào tạo tiến sĩ.
Tiến sĩ Võ Thanh Hải cũng nhìn nhận muốn có tiến sĩ thực chất chứ không chỉ tăng số lượng hồ sơ, các trường buộc phải đầu tư mạnh vào môi trường học thuật gồm nhóm nghiên cứu, đề tài khoa học, quỹ hỗ trợ công bố quốc tế, hệ thống kiểm soát đạo văn, quy trình đánh giá luận án minh bạch.
“Kiểm soát chất lượng đầu vào, chuẩn đầu ra và các quy định nghiêm ngặt trong tuyển sinh, tổ chức đào tạo vẫn cần được xem trọng. Chất lượng cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kiểm định và cam kết của từng cơ sở đào tạo”, PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn khẳng định.
Đại học Thanh Hoa ngày 3/7 tổ chức lễ bổ nhiệm chính thức với nhà khoa học vật liệu này. Ông Omar Yaghi sẽ dẫn dắt một đội nghiên cứu nhằm tìm ra các phương pháp dùng trí tuệ nhân tạo (AI) thay đổi quy trình thiết kế, tổng hợp vật liệu mới, giúp rút ngắn chu kỳ phát triển xuống nhiều lần.
Giáo sư Omar Yaghi, 61 tuổi, là một trong ba nhà khoa học được trao giải Nobel Hóa học năm 2025 cho công trình nghiên cứu về khung hữu cơ-kim loại (MOFs). Đây là những vật liệu siêu xốp có cấu trúc như bọt biển, cho phép thu giữ và chuyển hóa carbon, thu gom nước từ không khí sa mạc hoặc hấp thụ hydro để sản xuất năng lượng sạch.
Trong lễ bổ nhiệm, ông Yaghi nói hy vọng sẽ phát triển các loại vật liệu mới nhằm giải quyết các thách thức lớn về môi trường như thiếu nước, trung hòa carbon và phát triển bền vững. Ông cũng mong muốn góp sức đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực hóa học ứng dụng AI.
Yaghi từng giữ vị trí Giáo sư danh dự James và Neeltje Tretter danh giá về Hóa học tại Đại học California, Berkeley (UC Berkeley) - đại học công số 1 Mỹ hiện nay.
Ông sinh ra trong một gia đình tị nạn Palestine tại Amman, Jordan vào năm 1965. Ông chuyển đến Mỹ năm 15 tuổi và nhận bằng tiến sĩ Hóa học tại Đại học Illinois Urbana-Champaign. Ông từng làm việc tại Đại học bang Arizona, Đại học Michigan và Đại học California, Los Angeles (UCLA) trước khi đến UC Berkeley.
Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 11, ông Yaghi cho biết lĩnh vực hóa học vật liệu ứng dụng AI đang phát triển mạnh mẽ, giúp tạo ra vật liệu nhanh hơn, rẻ và bền vững hơn. Thay vì phụ thuộc vào phương pháp thử và sai như trước, các nhà khoa học hiện có thể thiết kế vật liệu với độ chính xác ngày càng cao. Bước tiếp theo là tạo ra các vật liệu tích hợp sẵn hướng dẫn cho chức năng cụ thể, giúp bản thân vật liệu hoạt động gần giống như DNA.
Yaghi đã nhận được hàng chục giải thưởng học thuật quốc tế danh giá, bao gồm Giải thưởng Khoa học Albert Einstein, Giải thưởng Wolf về Hóa học và Giải thưởng Balzan.
Hiện ông Yaghi là thành viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Ông từng nhiều lần giành giải thưởng Nghiên cứu Nano của Trung Quốc và có mối quan hệ hợp tác lâu năm với nhiều trường đại học hàng đầu nước này như Thanh Hoa, Nam Kinh, Phúc Đán và Giao thông Thượng Hải.
Zhou Zihui, học trò của Yaghi tại UC Berkeley, cho biết ông đã đào tạo khoảng 200 nghiên cứu sinh, gần một nửa là người Trung Quốc. Ông luôn căn dặn học trò khi làm nghiên cứu không được chỉ nghĩ đến khoa học hay xuất bản bài báo, mà phải nghĩ cách để thế giới biết đến công trình đó và thay đổi cuộc sống của con người.
Làn sóng nhân tài dịch chuyển từ phương Tây về Trung Quốc diễn ra mạnh mẽ hai năm nay. Không riêng giáo sư, tiến sĩ gốc Hoa hồi hương, nhiều nhà khoa học nước ngoài đã về làm việc tại các trường đại học Trung Quốc, như hai nhà toán học Ngô Bảo Châu và Vũ Hà Văn (Đại học Hong Kong), nhà hóa sinh Hartmut Michel (Đại học Cát Lâm), nhà toán học Joshua Zahl (Đại học Nam Khai),...
* Trong bối cảnh cần đẩy mạnh đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhiều cơ sở đại học đã có nhiều nỗ lực đầu tư vào các ngành mạnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng, hợp tác quốc tế nhưng đó vẫn là những nỗ lực đơn lẻ. Ở nhiệm kỳ của mình, ông có dự định gì trong việc đề xuất, triển khai để tạo cơ hội hình thành các trường/nhóm trường mạnh có sức cạnh tranh trong khu vực, quốc tế, đồng thời thúc đẩy việc đào tạo nhân lực chất lượng cao?
- Nghị quyết số 57 và số 71 của Bộ Chính trị đã mở ra một cơ hội chưa từng có cho hệ thống giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục đại học nói riêng với những chủ trương, quyết sách và cam kết nguồn lực đầu tư mạnh mẽ.
Nghị quyết 57 đã xác định các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trọng điểm ngang tầm khu vực và thế giới, trở thành các trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo nhân tài quốc gia, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, đồng thời tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành bốn văn bản luật và hai nghị quyết, trong đó có những cơ chế, chính sách đột phá và chương trình mục tiêu quốc gia.
Để cụ thể hóa các chủ trương thành hành động, giải pháp cụ thể, trong thời gian qua bộ đã chủ trì và cũng như phối hợp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, nhiều đề án phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đề án và chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực trọng điểm.
Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo cũng có một cấu phần quan trọng, đó là đầu tư trọng điểm cho khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học, trong đó phấn đấu có ít nhất 8 đại học thuộc nhóm đầu khu vực châu Á. Hiện nay bộ cũng đang hoàn thiện trình Chính phủ một số nghị định về cơ chế tài chính, tự chủ đại học và chính sách học bổng cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Như vậy có thể nói cơ sở chính trị, pháp lý với hệ thống cơ chế, chính sách và nguồn lực đã được thiết kế khá đầy đủ. Với tư cách là bộ trưởng, trong thời gian tới tôi sẽ tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách quyết liệt và hiệu quả kế hoạch nhiệm vụ đã xác định, đồng thời kịp thời đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn thay đổi, đặc biệt chú trọng gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
* Hành trình giao tự chủ cho đại học đã có một bước tiến dài, tuy nhiên còn có nhiều vấn đề bất cập. Nhưng dường như giai đoạn vừa qua việc tự chủ mới chỉ là trông đợi vào đóng góp xã hội, tự chủ là trường tự lo, là càng xã hội hóa càng nhiều càng thành công. Quan điểm của ông về tự chủ đại học là như thế nào? Theo ông, việc gì cần cấp bách xử lý để thúc đẩy việc này?
- Trong thời gian 8 đến 10 năm trở lại đây, chính sách tự chủ đại học đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học, cả công lập và tư thục, đã rất chủ động, nỗ lực huy động các nguồn lực, tăng cường năng lực, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.
Tuy nhiên để có năng lực cạnh tranh quốc tế và đáp ứng tốt yêu cầu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ cho phát triển đất nước, những sự nỗ lực của riêng các cơ sở giáo dục đại học là không đủ khi nguồn thu chủ yếu dựa vào học phí và chính sách xã hội hóa.
Đây là một điểm nghẽn lớn đã được chỉ ra trong nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: "quan niệm về tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững".
Từ đó, nghị quyết 71 khẳng định "Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dẫn dắt, thu hút nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân", "Bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính".
Phần nhiệm vụ và giải pháp của nghị quyết cũng đã nêu rõ "...chi cho giáo dục đại học đạt ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nước. Thống nhất chủ trương xây dựng và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia mới về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học".
Như vậy, quan điểm về tự chủ đại học và chủ trương tăng mạnh đầu tư cho giáo dục đại học đã được khẳng định rõ trong nghị quyết của Đảng. Nội dung này cũng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp mới được
Quốc hội ban hành cuối năm 2025. Vấn đề còn lại là quản trị thực thi, trong đó đặc biệt là phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư từ Nhà nước cũng như huy động nguồn lực từ xã hội.
* Ông từng bày tỏ quan điểm các trường tự chủ nhưng Nhà nước vẫn cấp kinh phí "đặt hàng" cơ sở đại học để triển khai các dự án mang tính trọng điểm. Nhưng trên thực tế vấn đề này vẫn đang gặp khó khăn. Theo ông, cần giải quyết những gì từ cơ chế và năng lực của các cơ sở đại học để hiện thực hóa được điều này?
- Chúng ta nói nhiều và kỳ vọng nhiều vào đổi mới cơ chế tài chính đại học thông qua "đặt hàng" các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên cơ chế đặt hàng đào tạo hiện nay mới được thực hiện ở phạm vi rất hẹp do một số vấn đề vướng mắc, chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận "đặt hàng theo đầu vào".
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì xây dựng nghị định của Chính phủ có nội dung về cơ chế đặt hàng theo đầu ra. Theo đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ đặt hàng và chi trả cơ sở đào tạo theo số người tốt nghiệp thực tế được nhận vào làm việc tại nơi làm việc và trong lĩnh vực theo nhu cầu đặt hàng.
Đối với nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chúng ta cần phân biệt rõ giữa "tài trợ" và "đặt hàng". Khác với tài trợ nghiên cứu khi mà sản phẩm đầu ra chủ yếu do nhóm nghiên cứu quyết định bảo đảm phù hợp với mục đích tài trợ, vấn đề mấu chốt đối với đặt hàng nghiên cứu và phát triển là cần xác định rõ yêu cầu kết quả đầu ra là gì và ai có nhu cầu cũng như trách nhiệm đặt hàng.
Cũng cần nhìn nhận sứ mạng và năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học chủ yếu là để tạo ra tri thức và công nghệ mới. Nhiều kết quả nghiên cứu có thể chuyển hóa thành giải pháp và sản phẩm ứng dụng, mang lại giá trị thương mại trong thực tế, nhưng đó là một chặng đường dài và cần có sự tham gia, đồng hành và hợp tác chặt chẽ của doanh nghiệp.
Vì vậy Nhà nước cần tài trợ và đặt hàng đại học để nâng cao năng lực nghiên cứu, đồng thời tạo ra tri thức và công nghệ mới nhưng doanh nghiệp thì cần hợp tác với đại học để kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm và giải pháp thực tế.
Lần đầu tiên sau 8 năm tổ chức, đợt 2 kỳ thi đánh giá năng lực ĐH Quốc gia TP.HCM bất ngờ ghi nhận số lượng thí sinh đăng ký dự thi tăng vọt. Tính đến thời hạn cuối đăng ký dự thi vào hôm qua (25.4), hệ thống ghi nhận 172.622 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó 169.935 thí sinh đã hoàn tất đóng lệ phí. So với đợt 2 năm 2025 với 97.387 thí sinh, số lượng đăng ký đợt 2 năm nay tăng 77,25% và vượt xa hơn cả đợt đầu tiên với 133.489 thí sinh.
Trong số hơn 172.000 đăng ký đợt 2, có 109.957 thí sinh đã tham dự đợt 1 và chỉ 59.978 thí sinh mới đăng ký dự thi đợt 2. Đáng chú ý, có tới trên 82% thí sinh đăng ký dự thi đợt 2 từng tham gia đợt 1 kỳ thi này.
Nhìn lại số liệu sau 7 năm tổ chức, kỳ thi đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TP.HCM đợt 2 lần đầu tiên ghi nhận số lượng thí sinh đăng ký dự thi tăng đột biến. Năm 2025, hơn 97.121 thí sinh đăng ký dự thi đánh giá năng lực đợt 2, tăng hơn gấp đôi so với cùng đợt thi của năm 2024 với 41.542 thí sinh đăng ký.
Năm 2019, đợt 2 kỳ thi này có 15.000 thí sinh đăng ký dự thi. Trong đó, có khoảng 50% thí sinh đã thi đợt 1 tiếp tục đăng ký thi đợt 2. So với 6 năm trước, số lượng thí sinh đăng ký dự thi đợt 2 năm nay tăng hơn 11 lần.
Theo kế hoạch, đợt 2 sẽ diễn ra vào ngày 24.5 tại các điểm thi thuộc 9 tỉnh, thành phố: Huế, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, TP.HCM, Đồng Nai, Đồng Tháp và An Giang. Nhưng trước nhu cầu dự thi tăng cao của đợt 2 năm 2026, ĐH Quốc gia TP.HCM lần đầu tiên phải bổ sung các địa điểm thi mới ngoài kế hoạch dự kiến. Từ 9 địa phương theo kế hoạch ban đầu, ĐH này nâng tổng số nơi tổ chức thi đợt 2 năm 2026 lên 15 tỉnh, thành phố (sau sáp nhập).
Cùng với việc bổ sung điểm thi, đơn vị tổ chức đồng thời kéo dài thời gian điều chỉnh địa điểm dự thi và hoàn tất thanh toán đến hết ngày 27.4. ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ gửi email đến các thí sinh thuộc khu vực được bổ sung điểm thi thông báo để thí sinh lựa chọn, thay đổi địa điểm dự thi phù hợp. Thí sinh cần kiểm tra và cập nhật thông tin cá nhân chính xác nhằm tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình dự thi.
Trước đó, ngày 5.4, ĐH Quốc gia TP.HCM đã tổ chức đợt 1 kỳ thi đánh giá năng lực với sự tham gia của 133.489 thí sinh, đạt tỷ lệ dự thi 98,33% so với số đăng ký. Bước sang đợt 2, số lượng thí sinh đăng ký tiếp tục tăng, cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn đối với phương thức tuyển sinh này. Hiện có hơn 110 cơ sở giáo dục ĐH-CĐ đăng ký sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển.