Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến đóng góp đối với dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau ĐH. Thông tư này sẽ thay thế Thông tư số 23 về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ và Thông tư số 18 về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ (cùng năm 2021).
Một trong những điểm đáng chú ý của dự thảo là cho phép sinh viên ĐH có kết quả học tập đạt loại khá hoặc tương đương trở lên được đăng ký học trước một số học phần chương trình thạc sĩ với số tín chỉ được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 40% tổng số tín chỉ (thông tư cũ chỉ cho phép học trước 15 tín chỉ, khoảng 25%).
Sinh viên đã tích lũy được tối thiểu 70% khối lượng học tập của chương trình ĐH và có điểm trung bình chung tích lũy đạt loại giỏi hoặc tương đương trở lên và học viên đã tích lũy tối thiểu 40% khối lượng học tập của chương trình thạc sĩ, được đăng ký học trước một số học phần chương trình đào tạo tiến sĩ với số tín chỉ được công nhận, chuyển đổi không vượt quá 25% tổng số tín chỉ (thông tư cũ không có quy định này).
Đối tượng học tiến sĩ còn được áp dụng với sinh viên tốt nghiệp loại khá và đáp ứng yêu cầu bổ sung về công trình nghiên cứu khoa học hoặc kinh nghiệm công tác đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo.
Chia sẻ về những điểm mới trong đào tạo sau ĐH nêu tại dự thảo, PGS-TS Phan Hồng Hải, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, nhận định: “Các đề xuất này sẽ góp phần tạo cơ hội liên thông trong học tập giữa các bậc đào tạo, giúp người học có định hướng rõ ràng hơn về lộ trình học tập và có sự chuẩn bị tốt hơn cho từng bậc học tiếp theo. Đồng thời, đây cũng là cơ chế giúp các cơ sở giáo dục ĐH phát hiện, chọn lọc và bồi dưỡng sớm những người học có năng lực, có định hướng nghiên cứu khoa học và học lên trình độ cao. Sinh viên có năng lực học tập tốt sẽ được tiếp cận sớm với học phần trình độ sau ĐH, rút ngắn thời gian học tập”.
PGS-TS Đinh Thị Thu Hồng, Trưởng ban Đào tạo ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH), cũng cho rằng việc mở rộng đối tượng dự tuyển nghiên cứu sinh cho thấy định hướng tăng tính liên thông, linh hoạt giữa các trình độ đào tạo, đồng thời tạo cơ hội phát hiện và bồi dưỡng người học có năng lực nghiên cứu từ sớm thay vì chờ hoàn thành chương trình ĐH và được cấp bằng tốt nghiệp.
“Trong bối cảnh hiện nay, nhiều sinh viên đã sớm tham gia nghiên cứu ở các lĩnh vực ngay từ bậc ĐH, việc mở rộng sẽ tạo điều kiện để người học phát triển liên tục, hạn chế gián đoạn quá trình học tập và nghiên cứu”, PGS-TS Hồng cho hay.
Trong khi đó, tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, nhận định những điểm này thể hiện cách tiếp cận gần hơn với nhiều ĐH quốc tế hiện nay, nơi năng lực nghiên cứu được xem trọng hơn là việc bắt buộc phải đi theo lộ trình từ ĐH lên thạc sĩ đến tiến sĩ như trước kia.
“Nếu triển khai tốt, đây có thể là thay đổi lớn nhất của đào tạo sau ĐH trong nhiều năm qua. Không chỉ là thay đổi quy chế tuyển sinh hay quy trình đào tạo, mà thay đổi cả mục tiêu và sứ mệnh đào tạo. Nó giúp các trường phát hiện sinh viên giỏi từ năm 2 – 3 để đưa vào nhóm nghiên cứu, cho học trước tín chỉ, tham gia đề tài, hỗ trợ công bố…”, ông Tuấn chia sẻ.
Theo PGS-TS Đinh Thị Thu Hồng, việc mở rộng đối tượng dự tuyển nghiên cứu sinh chắc chắn sẽ làm tăng nguồn ứng viên đầu vào. Trước đây, phần lớn nghiên cứu sinh đến từ đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên hoặc người đi làm quay lại học nên quy mô còn hạn chế. Bà Hồng dự đoán nếu quy chế mới được thông qua, nhu cầu học trước các học phần sau ĐH và nhu cầu học tiếp lên thạc sĩ, tiến sĩ của sinh viên tốt nghiệp từ UEH dự kiến sẽ gia tăng.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng đánh giá các đề xuất này góp phần tăng nguồn tuyển cho các chương trình đào tạo tiến sĩ đang gặp khó khăn như hiện nay. Đặc biệt, giúp tạo nguồn nhân lực có trình độ đạt chuẩn học thuật nhanh hơn và chủ động hơn trong bối cảnh nhiều trường ĐH đang chịu áp lực rất lớn từ quy định về đội ngũ giảng viên theo chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, chuẩn chương trình đào tạo, kiểm định, công bố khoa học, mở ngành, xác định chỉ tiêu…
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, cho rằng mở rộng đầu vào tiến sĩ theo hướng đánh giá năng lực nghiên cứu thực chất thay vì chỉ dựa vào bằng cấp trung gian, sẽ tạo ra nguồn tuyển sinh phong phú hơn, thu hút được nhiều nhân tố trẻ, có tiềm năng nghiên cứu.
“Trong bối cảnh các trường ĐH đang chịu áp lực về chuẩn đội ngũ giảng viên và chuẩn chương trình đào tạo, đặc biệt là yêu cầu tỷ lệ tiến sĩ/giảng viên theo quy định, quy chế mới sẽ giúp các trường chủ động hơn trong việc nuôi dưỡng – phát triển – bổ sung lực lượng giảng viên có trình độ cao đáp ứng các yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo”, PGS-TS Hoàn nhận định.
Theo tiến sĩ Võ Thanh Hải, Phó giám đốc thường trực ĐH Duy Tân (Đà Nẵng), trong thời gian tới, thay vì bị động chờ tuyển người đã có bằng tiến sĩ từ nơi khác, các trường ĐH có thể tự phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo liên tục những nhân tố tiềm năng của chính mình. “Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong bối cảnh các tiêu chí kiểm định ngày càng đòi hỏi cao về tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ và năng lực nghiên cứu. Chu kỳ bổ sung đội ngũ sẽ được rút ngắn đáng kể, đồng thời giảm được khoảng trống thế hệ trong đội ngũ giảng viên”, tiến sĩ Hải chia sẻ.
Mặt khác, tiến sĩ Võ Văn Tuấn nhận định nếu các trường ĐH chỉ xem đây là cơ hội để tăng số lượng tiến sĩ nhằm đáp ứng chuẩn đội ngũ mà không kiểm soát chặt chất lượng đầu vào, đặc biệt là chất lượng nghiên cứu, thì sẽ xuất hiện nhiều nguy cơ như chỉ mang tính hình thức, thương mại hóa đào tạo tiến sĩ, lạm phát công bố khoa học, đào tạo tiến sĩ sẽ trở nên đại trà và từ đó hình thành một thế hệ tiến sĩ đủ bằng cấp nhưng yếu năng lực nghiên cứu thật, mất cân bằng giữa giảng dạy và nghiên cứu, từ đó mất niềm tin xã hội vào bằng tiến sĩ.
“Vì vậy, khâu sàng lọc trong quá trình đào tạo phải cực kỳ nghiêm ngặt. Nếu trường ĐH không có nhóm nghiên cứu mạnh, không có văn hóa nghiên cứu, không có giảng viên hướng dẫn đủ năng lực, chạy theo số lượng để hợp thức chuẩn, thì quy chế càng mở sẽ càng tạo nguy cơ “lạm phát tiến sĩ”. Ngược lại, với các trường có chiến lược phát triển nghiên cứu bài bản thì đây là cơ hội vàng để tăng tốc quốc tế hóa, xây dựng đội ngũ học thuật trẻ, phát triển ĐH nghiên cứu và nâng vị thế trên bảng xếp hạng quốc tế”, tiến sĩ Tuấn khẳng định.
Tương tự, tiến sĩ Đinh Thị Thu Hồng khuyến cáo tác động tích cực chỉ thực sự phát huy khi các trường kiểm soát tốt chất lượng học thuật và năng lực nghiên cứu của người học. Nếu mở rộng đầu vào nhưng thiếu chuẩn nghiên cứu, thiếu công bố khoa học thực chất hoặc thiếu đội ngũ hướng dẫn đủ mạnh thì có thể dẫn tới nguy cơ “đại trà hóa” đào tạo tiến sĩ.
Tiến sĩ Võ Thanh Hải cũng nhìn nhận muốn có tiến sĩ thực chất chứ không chỉ tăng số lượng hồ sơ, các trường buộc phải đầu tư mạnh vào môi trường học thuật gồm nhóm nghiên cứu, đề tài khoa học, quỹ hỗ trợ công bố quốc tế, hệ thống kiểm soát đạo văn, quy trình đánh giá luận án minh bạch.
“Kiểm soát chất lượng đầu vào, chuẩn đầu ra và các quy định nghiêm ngặt trong tuyển sinh, tổ chức đào tạo vẫn cần được xem trọng. Chất lượng cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kiểm định và cam kết của từng cơ sở đào tạo”, PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn khẳng định.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20/4 cho biết năm ngoái, gần 681.700 thí sinh nhập học đại học, đạt 90% chỉ tiêu. Trong đó, 50,32% xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT. So với năm 2024, tỷ lệ này giảm 1,86%.
Trong khi đó, tỷ lệ thí sinh nhập học sau bằng điểm các kỳ thi riêng (đánh giá năng lực, tư duy) lên 5,08%, tăng so với mức 2-3% của các năm trước.
Với xét học bạ, tỷ lệ nhập học cũng tăng, từ 27,86% vào năm 2024 Tlên thành 29,24%. Đây là nhóm sử dụng thuần điểm học bạ, không tính thí sinh xét kết hợp điểm này với tiêu chí khác như điểm thi tốt nghiệp THPT, chứng chỉ quốc tế, phỏng vấn...
Hai phương thức chính khác gồm xét tuyển kết hợp (chiếm 15,03%) và xét tuyển thẳng (0,32%).
Các con số trên có thể thay đổi sau mùa tuyển sinh 2026. Lý do là Bộ yêu cầu mỗi trường chỉ được sử dụng tối đa 5 phương thức, thay vì lên tới 17 như mọi năm. Với xét học bạ, thí sinh phải có điểm trung bình 6 học kỳ (lớp 10, 11 và 12) của tối thiểu ba môn, bắt buộc có Toán hoặc Ngữ văn, đạt điểm thi tốt nghiệp từ 15/30 trở lên.
Ngoài ra, nhiều đại học giảm xét riêng điểm học bạ mà kết hợp nhiều đầu điểm. Số thí sinh đăng ký tham gia các kỳ thi riêng đều cao kỷ lục từ trước đến nay.
Theo đó, Bộ GD-ĐT cho phép tuyển sinh nhiều đợt trong năm, đa dạng phương thức và mở rộng quyền tự chủ cho nhà trường. Tuy nhiên còn những băn khoăn vì có một số điểm chưa rõ, đặc biệt liên quan đến liên thông hệ thống và đối tượng tuyển sinh.
ThS Võ Công Trí, Phó hiệu trưởng thường trực Trường cao đẳng Kỹ thuật - Du lịch Sài Gòn (TP.HCM), cho rằng dự thảo đang đi theo hướng tích cực, mở thêm dư địa cho các cơ sở đào tạo.
Các trường được phép tuyển sinh nhiều đợt trong năm sẽ chủ động hơn trong kế hoạch tuyển sinh, đồng thời tạo điều kiện để người học có thêm cơ hội lựa chọn thời điểm nhập học phù hợp với nhu cầu.
Dự thảo cho phép thí sinh nộp hồ sơ cả trực tiếp và trực tuyến. Ông Trí nhận xét nếu so với xét tuyển đại học chủ yếu theo các đợt chung và đăng ký trên hệ thống trong khung thời gian cố định, cách thức đăng ký giáo dục nghề nghiệp linh hoạt hơn, giảm áp lực về thời điểm và thủ tục cho cả người học và các trường.
"Đặc biệt dự thảo vẫn mở ra khả năng để các trường cao đẳng tham gia hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT cùng với các trường đại học, qua đó giúp mở rộng khả năng tiếp cận thí sinh ngay trong giai đoạn đăng ký nguyện vọng. Các trường có thể vừa tham gia hệ thống chung để tiếp cận nguồn thí sinh rộng hơn vừa chủ động triển khai các phương thức tuyển sinh riêng của mình", ông Trí nói.
ThS Phạm Duy Đông - Phó hiệu trưởng Trường cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (Đồng Nai) - đánh giá dự thảo trao quyền cho cơ sở đào tạo tự chủ trong việc lựa chọn phương thức tuyển sinh. Nhà trường có thể quyết định xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp giữa xét tuyển và thi tuyển tùy theo đặc thù ngành nghề và định hướng đào tạo được quyền tự chủ trong cách tuyển sinh.
Ngoài ra dự thảo có đề cập số lượng tuyển sinh thực tuyển hằng năm theo từng nhóm ngành, nghề đào tạo không vượt quá 15% so với số lượng đã xác định. Đối với những ngành, nghề có tỉ lệ người học bỏ học, thôi học hoặc chuyển sang ngành khác trong hai năm liên tiếp vượt quá 20%, dự thảo cho phép cơ sở đào tạo được xác định số lượng tuyển sinh tăng thêm tối đa 15%.
Theo ông Đông, đây là cách tiếp cận "khá sát với thực tế" bởi trong quá trình học tập, đặc biệt ở năm nhất, không ít sinh viên thay đổi lựa chọn do nhiều nguyên nhân khác nhau. "Quy định này giúp các trường có dư địa để điều chỉnh kế hoạch tuyển sinh, tránh tình trạng thiếu hụt người học ở một số ngành, nghề", ông Đông nhận xét.
TS Đặng Minh Sự - Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM - nói dự thảo quy chế lần này có nhiều điểm tích cực, đặc biệt ở việc tăng tính linh hoạt và mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên ông cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung để đảm bảo tính đồng bộ trong toàn hệ thống.
Chẳng hạn vấn đề liên thông và tích hợp với hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT cùng các trường đại học. Theo ông, dự thảo hiện mới dừng ở mức khuyến khích, chưa làm rõ việc tham gia hệ thống này là bắt buộc hay tự nguyện đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Do vậy, ông Sự đề xuất cần quy định rõ lộ trình tham gia hệ thống tuyển sinh chung theo hướng bắt buộc nhằm đảm bảo sự thống nhất trong toàn hệ thống. Đồng thời cần xây dựng cơ chế chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để hạn chế trùng lặp trong tuyển sinh, mở rộng nguồn thí sinh cho cả hai hệ thống.
ThS Ngô Thị Quỳnh Xuân, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Du lịch Sài Gòn (TP.HCM), nói khâu phân nhóm ngành cần được xem xét điều chỉnh phù hợp thực tiễn đào tạo. Cụ thể, theo khoản 4 điều 3 của dự thảo, các trường chỉ được tự điều chỉnh số lượng tuyển sinh giữa các ngành cụ thể (mã cấp IV) khi các ngành này thuộc cùng một nhóm ngành (mã cấp III) và cùng trình độ đào tạo.
Trong khi đó theo danh mục hiện hành, lĩnh vực du lịch - dịch vụ lại đang bị tách thành hai nhóm riêng biệt gồm nhóm Du lịch (mã 68101) và nhóm Khách sạn, nhà hàng (mã 68102). Theo bà, cách phân nhóm này khiến các trường không thể linh hoạt điều tiết chỉ tiêu giữa các ngành có tính chất liên thông rất cao.
Ví dụ không thể giảm chỉ tiêu ngành hướng dẫn du lịch để tăng cho quản trị khách sạn dù thực tế đây là các lĩnh vực gắn bó chặt chẽ trong cùng một hệ sinh thái dịch vụ.
Bà Xuân kiến nghị về lâu dài có thể rà soát và điều chỉnh danh mục ngành, nghề đào tạo theo hướng gộp các lĩnh vực du lịch và khách sạn - nhà hàng vào cùng một nhóm ngành (mã cấp III).
Trường hợp chưa thể điều chỉnh ngay cần bổ sung cơ chế mở trong quy chế tuyển sinh, cho phép các cơ sở đào tạo được tự chủ điều chỉnh chỉ tiêu giữa các nhóm ngành (mã cấp III) nếu cùng thuộc một lĩnh vực lớn (mã cấp II).
Vừa trúng tuyển Chương trình thu hút, giữ chân và phát triển các nhà khoa học trẻ xuất sắc, các nhà khoa học đầu ngành về công tác tại ĐH Quốc gia TP.HCM (Chương trình VNU350), TS Trịnh Hoàng Phúc lựa chọn trở về công tác tại Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia TP.HCM sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Đại học Korea (Hàn Quốc).
Nhà khoa học 30 tuổi cho biết điều thôi thúc anh trở về không chỉ là mong muốn đóng góp cho nơi mình từng được đào tạo, mà còn là khát vọng đưa những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy từ môi trường nghiên cứu quốc tế vào giải quyết các vấn đề môi trường thực tiễn của Việt Nam.
Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại Hàn Quốc, anh được tiếp cận với môi trường nghiên cứu hiện đại cùng nhiều công nghệ phân tích tiên tiến. Tuy nhiên, điều khiến anh trăn trở là làm sao đưa những kiến thức và kinh nghiệm đó vào giải quyết các vấn đề môi trường đang đặt ra tại Việt Nam.
Theo TS Phúc, ĐH Quốc gia TP.HCM hiện sở hữu môi trường học thuật năng động, cơ sở vật chất nghiên cứu ngày càng hiện đại cùng mạng lưới hợp tác quốc tế rộng mở. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển các hướng nghiên cứu liên ngành trong công nghệ sinh học môi trường, sinh thái vi sinh vật và quản lý tài nguyên nước.
Được đào tạo trong môi trường có thế mạnh về công nghệ và môi trường, TS Trịnh Hoàng Phúc cho biết hướng nghiên cứu mà anh theo đuổi trong thời gian tới tập trung vào các công nghệ xử lý nước thải sinh học tiên tiến, đặc biệt là các quá trình xử lý nitơ tiết kiệm năng lượng như oxy hóa amoni kỵ khí và các quá trình chuyển hóa nitơ liên quan.
Theo anh, đây là những công nghệ đang được quan tâm trong xử lý nước thải hiện đại nhờ khả năng giảm chi phí vận hành, tiết kiệm năng lượng và góp phần giảm phát thải khí nhà kính.
Bên cạnh đó, anh cũng quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ sinh học môi trường trong xử lý các hợp chất ô nhiễm mới nổi, bao gồm các hợp chất hữu cơ khó phân hủy, vi ô nhiễm hữu cơ và các chất có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người.
Một hướng đi khác mà TS Phúc đặc biệt quan tâm là kết hợp tin sinh học và trí tuệ nhân tạo vào công nghệ sinh học môi trường nhằm nâng cao khả năng kiểm soát và tối ưu hóa hiệu quả vận hành các hệ thống xử lý môi trường.
"Tôi kỳ vọng có thể từng bước xây dựng nhóm nghiên cứu theo định hướng công nghệ sinh học môi trường định hướng dữ liệu, góp phần thúc đẩy các nghiên cứu liên ngành và tăng cường hợp tác quốc tế", anh cho biết.
Với 18 công bố khoa học trong nước và quốc tế ở tuổi 30, TS Phúc cho rằng sự kiên trì và khả năng duy trì đam mê là yếu tố quan trọng nhất để một nhà khoa học trẻ có thể theo đuổi nghiên cứu lâu dài.
Theo anh, bên cạnh năng lực cá nhân, môi trường nghiên cứu được đầu tư tốt, có tính hỗ trợ cao và khuyến khích hợp tác học thuật sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà khoa học phát triển lâu dài.
Trong bối cảnh hiện nay, sự giao thoa giữa công nghệ môi trường và khoa học dữ liệu đang mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, góp phần giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề môi trường phức tạp.