“Chúng tôi cho rằng thế giới sẽ hưởng lợi nếu được lựa chọn đi chậm lại hoặc tạm ngừng hoạt động phát triển AI tiên tiến nhất, nhằm tạo điều kiện cho các cấu trúc xã hội và nghiên cứu điều chỉnh có thể theo kịp tiến bộ của công nghệ”, theo Anthropic, nhà phát triển công cụ Claude.
Để có thể đạt được trạng thái tạm ngừng thực sự, Anthropic cho rằng mọi công ty AI lớn ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, đều phải đạt được sự đồng thuận về vấn đề này, dựa trên những quy tắc mà tất cả các bên đều có thể kiểm chứng. “Nếu thiếu cơ chế phối hợp toàn cầu, các công ty và chính phủ sẽ buộc phải đưa ra những quyết định khó khăn về vấn đề an toàn, trong bối cảnh áp lực cạnh tranh và địa chính trị”, Anthropic chỉ ra.
Anthropic thậm chí còn so sánh thách thức về AI với các hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân, nhưng nói rằng mức độ khó khăn trong quản lý AI còn khó khăn hơn nhiều. Điều này do quá trình đào tạo AI diễn ra âm thầm và dễ dàng hơn hẳn so với việc che giấu hầm chứa tên lửa. Và dữ liệu nội bộ của Anthropic cho thấy AI đã đẩy nhanh đáng kể tốc độ phát triển chính nó.
Công ty lên kế hoạch mời gọi sự tham gia từ quan chức các chính phủ, giới khoa học, những tổ chức vận động và các hãng AI đối thủ trong những tháng tới để vạch ra kế hoạch có thể thực hiện được.
Tin Gốc: Thanh Niên

Hải cảnh Trung Quốc (CCG) hôm nay cho biết đã điều phương tiện đối phó với tàu cá Zuiho Maru của Nhật Bản bị cáo buộc "xâm nhập trái phép vùng biển thuộc chủ quyền Trung Quốc" ngoài khơi đảo Xích Vĩ thuộc nhóm đảo Senkaku/Điếu Ngư, tâm điểm tranh chấp giữa Bắc Kinh và Tokyo trên biển Hoa Đông.
Theo phát ngôn viên CCG, các tàu hải cảnh Trung Quốc đã áp dụng "biện pháp kiểm soát cần thiết" để buộc tàu Zuiho Maru rời đi. Nhật Bản gọi đảo Xích Vĩ là Taisho Jima.
CCG yêu cầu phía Nhật Bản "lập tức chấm dứt mọi hành động" mà Trung Quốc cho là "xâm phạm và khiêu khích tại vùng biển liên quan".
Trong khi đó, cảnh sát biển Nhật Bản (JCG) cho biết hai tàu hải cảnh Trung Quốc đã tiếp cận một tàu cá nước này hoạt động trong khu vực. JCG đã "phát lệnh và buộc tàu hải cảnh Trung Quốc rời vùng biển thuộc chủ quyền của Nhật Bản".
JCG sau đó triển khai tàu tuần tra của cảnh sát biển quanh tàu cá nhằm bảo đảm an toàn cho phương tiện cùng ngư dân.
Theo phía Nhật Bản, ban đầu có 4 tàu Trung Quốc hoạt động trong khu vực, hai chiếc trong số đó đã đi vào vùng biển mà Tokyo tuyên bố chủ quyền. JCG cho rằng hoạt động của tàu hải cảnh Trung Quốc đã "vi phạm luật pháp quốc tế".
"Chúng tôi sẽ tiếp tục ứng phó một cách bình tĩnh và kiên quyết theo luật pháp quốc tế và trong nước, đồng thời thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm an ninh vùng biển thuộc quyền tài phán của đất nước", thông cáo có đoạn.
Senkaku/Điếu Ngư là nhóm đảo không người giữa biển Hoa Đông, hiện do Nhật Bản kiểm soát. Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều tuyên bố chủ quyền với nhóm đảo này. Sau khi Nhật Bản quốc hữu hóa Senkaku/Điếu Ngư năm 2012, các tàu công vụ Trung Quốc áp sát nhóm đảo này thường xuyên hơn.
Căng thẳng giữa hai nước xoay quanh chủ quyền đối với nhóm đảo đã diễn ra nhiều năm, trong đó tàu cảnh sát biển Nhật Bản thường xuyên chạm trán tàu hải cảnh và tàu cá Trung Quốc ở khu vực. Hai bên cũng yêu cầu phía còn lại rời khỏi vùng biển tranh chấp.
Tin Gốc: Vnexpress

Tại Đối thoại Shangri-La 2026 vừa diễn ra ở Singapore, liên minh AUKUS gồm Mỹ, Úc và Anh đã công bố dự án phát triển thiết bị lặn không người lái (UUV) thế hệ mới - đánh dấu lần đầu tiên trụ cột thứ hai của liên minh được hiện thực hóa bằng một chương trình hợp tác cụ thể sau thời gian dài chậm trễ.
Dự kiến triển khai từ năm 2027, dự án nhắm vào ba mục tiêu chiến lược: bảo vệ hạ tầng cáp ngầm biển, tăng cường giám sát khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và tấn công chính xác mục tiêu đối phương.
Trong khi phần lớn sự chú ý của dư luận từ trước đến nay đổ vào trụ cột thứ nhất - kế hoạch cung cấp tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Úc - thì trụ cột thứ hai, vốn tập trung phát triển công nghệ quân sự tinh vi, lại gần như bị bỏ ngỏ. Dự án UUV vừa công bố là chương trình đầu tiên thuộc trụ cột này được chính thức hóa, theo thông cáo từ Bộ Quốc phòng Anh.
Tuyên bố chung của ba Bộ trưởng Quốc phòng gồm Pete Hegseth (Mỹ), John Healy (Anh) và Richard Marles (Úc) sau cuộc họp bên lề Đối thoại Shangri-La cho biết dự án nhằm "nâng cao đáng kể năng lực của các đối tác AUKUS trong bảo vệ cơ sở hạ tầng quốc gia quan trọng dưới đáy biển; triển khai năng lực giám sát, trinh sát và tấn công tiên tiến; hoạt động hậu cần; và củng cố ưu thế trong tác chiến chống ngầm, chống tàu mặt nước, chống thủy lôi, tác chiến điện tử và diễn tập tác chiến vùng bờ biển tranh chấp".
Anh là nước đầu tiên công bố con số cụ thể: ít nhất 150 triệu bảng (khoảng 201,8 triệu USD) để trang bị cho các đối tác AUKUS năng lực phát hiện, răn đe và đối phó các mối đe dọa hàng hải, đặc biệt nhắm vào các tuyến cáp và đường ống dưới nước.
"Đây là bước đột phá chưa từng có trong quan hệ đối tác AUKUS", ông Healy phát biểu. Cả Úc và Mỹ đến nay vẫn chưa công khai cam kết con số tương tự.
Về mặt kỹ thuật, tài liệu do Bộ Quốc phòng Anh ấn hành cho biết dự án sẽ tăng cường năng lực tương tác thông qua các tiêu chuẩn chung, khái niệm khung cho hoạt động ba bên và hệ thống điều khiển chung, hướng tới thiết bị có thể hoán đổi cho nhau và tích hợp bởi từng quốc gia trước khi cùng phát triển và sản xuất.
Ông Marles gọi chương trình này là "vô cùng quan trọng" và xác nhận công nghệ mới sẽ được bàn giao từ năm 2027, trong khi ông Hegseth nhấn mạnh UUV thế hệ mới sẽ giúp ba nước duy trì "lợi thế tập thể" về công nghệ.
Tóm gọn tinh thần của cả dự án, ông Healy nói: "Trong một thời gian quá dài với AUKUS, chúng ta đã nói quá nhiều và làm quá ít".
Dù các quan chức AUKUS không gọi đích danh bất kỳ quốc gia nào, bối cảnh địa chính trị đằng sau dự án là khá rõ ràng. Ông Marles trước đó đã cảnh báo về hàng loạt vụ cắt cáp ngầm ở Biển Baltic và gần Đài Loan, và nói rằng nếu đây là hành vi cố ý, thì một số quốc gia có thể đang "thử thách ý chí chính trị của chúng ta trong việc đáp trả".
Người đứng đầu Viện Chính sách chiến lược Úc, ông Justin Bassi, nói với Đài ABC rằng tuyên bố mới "phát đi tín hiệu những hành vi phá hoại và gây hấn dưới đáy biển sẽ không còn được các quốc gia AUKUS dung thứ".
Cả hai trụ cột của AUKUS được nhìn nhận rộng rãi là nỗ lực do Mỹ dẫn đầu nhằm ứng phó với sự quyết liệt của Bắc Kinh ở các khu vực tranh chấp như Biển Đông.
Trung Quốc nhiều lần gọi AUKUS là "nguy hiểm" và cảnh báo các chương trình của liên minh có thể kích động chạy đua vũ trang khu vực.
Một lượng lớn dữ liệu và thông tin liên lạc toàn cầu lưu chuyển qua các tuyến cáp ngầm - nay đã trở thành huyết mạch thiết yếu với hầu hết quốc gia trên thế giới - khiến việc bảo vệ hạ tầng này ngày càng có tầm quan trọng chiến lược không thể xem nhẹ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi ngày 17/4 thông báo nước này "mở hoàn toàn" eo biển Hormuz cho tất cả tàu thương mại đi qua, nhằm "hưởng ứng thỏa thuận ngừng bắn 10 ngày tại Lebanon".
Điều này trái ngược với những tuyên bố cứng rắn mà Iran đưa ra trước đây về việc kiểm soát và phong tỏa eo biển Hormuz. Nước này cũng đã nêu điều kiện tiếp tục kiểm soát việc tiếp cận eo biển ngay cả khi chiến sự kết thúc trong đề xuất đàm phán 10 điểm gửi phía Mỹ.
Quyết định được Iran đưa ra sau 7 tuần chiến sự, trong đó Tehran đã hứng chịu nhiều tổn thất trước các cuộc tấn công dữ dội của Mỹ và Israel và gần đây nhất là lệnh phong tỏa cảng biển mà Tổng thống Mỹ Donald Trump áp đặt.
Mỹ và Israel tuyên bố đã tấn công ít nhất 17.000 mục tiêu ở Iran trước khi ngừng bắn, gồm các nhà máy, hạ tầng đường sắt, đường bộ, cảng biển, cùng các tòa nhà chính phủ và cơ sở quân sự.
Truyền thông nhà nước Iran ước tính chi phí để tái thiết hậu xung đột lên tới 270 tỷ USD, dù các nhà phân tích cho rằng còn quá sớm để đưa ra con số chính xác về những tổn thất mà Tehran phải gánh chịu. Những thiệt hại vật chất này chất thêm gánh nặng lên nền kinh tế Iran, vốn đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng và làm bùng phát các cuộc biểu tình khắp đất nước trước khi xung đột bùng phát.
Mặc dù việc kiểm soát eo biển Hormuz và khả năng tấn công các mục tiêu khắp vùng Vịnh trong thời gian chiến sự mang lại cho Iran lợi thế khi đàm phán với Mỹ, quy mô tái thiết lớn lại khiến khả năng duy trì lập trường cứng rắn của họ bị hạn chế, theo Burcu Ozcelik, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Hoàng gia Anh (RUSI).
Máy bay Israel đã tập kích 8 nhà máy hóa dầu của Iran, gồm cả trung tâm Bandar Imam nằm ở tỉnh Khuzestan, phía tây nam đất nước. Hai nhà máy sản xuất thép chính của Iran cũng bị hư hại. Hóa dầu và thép vốn mang về hàng tỷ USD doanh thu hàng năm cho quốc gia này.
"Các cuộc tấn công đó không phải ngẫu nhiên. Họ đã nhắm vào những lĩnh vực kinh tế vốn giúp Iran thu về ngoại tệ", Kevan Harris, chuyên gia về kinh tế Iran tại Đại học California, nói.
Sau những cuộc tập kích vào cơ sở hạ tầng hóa dầu, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu tuyên bố "chúng tôi đã phá hủy một cách có hệ thống cỗ máy kiếm tiền của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC)".
Iran ngày 15/4 thông báo lệnh cấm xuất khẩu tất cả sản phẩm hóa dầu, động thái dường như nhằm đảm bảo tiêu dùng và nguồn dự trữ trong nước, theo Henna Moussavi, nhà bình luận của WSJ.
Israel cũng đã không kích Công ty Nghiên cứu & Kỹ thuật Tofigh Daru, một trong những hãng dược lớn nhất Iran chuyên sản xuất thuốc gây mê và thuốc điều trị ung thư. Tiêm kích nước này còn tấn công trung tâm xử lý khí đốt Asaluyeh, nguồn cung năng lượng chính của Iran, khiến các nhà máy ở đây phải đóng cửa.
Việc ném bom các cơ sở sản xuất giữa lúc kinh tế suy thoái sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp ở Iran. Hadi Kahalzadeh, nhà kinh tế học và từng làm việc trong Tổ chức An ninh Xã hội của Iran, ước tính 12 triệu việc làm ở nước này đang bị đe dọa.
"Các đợt không kích của Mỹ và Israel đã giáng đòn trực diện vào những ngành then chốt, vốn là nền tảng chính tạo việc làm và duy trì sản xuất của nền kinh tế", Kahalzadeh nhận định.
Nỗi đau từ lệnh phong tỏa cảng biển
Lệnh phong tỏa cảng biển Iran của Mỹ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 13/4 đã "hoàn toàn chặn đứng" hoạt động giao thương bằng đường biển của Iran, Bộ tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) tuyên bố. Hàng loạt tàu dầu, tàu hàng đã phải quay đầu về cảng Iran khi đối mặt với vòng phong tỏa của Mỹ.
Điều này đồng nghĩa hoạt động xuất khẩu dầu thô, vốn mang lại 80% nguồn thu cho Iran, bị tê liệt. Trong một tháng trước khi Mỹ áp lệnh phong tỏa, Iran xuất khẩu ít nhất 55 triệu thùng dầu, thu về gần 5 tỷ USD, theo ước tính của công ty dữ liệu thương mại Kpler.
Theo ước tính của Miad Maleki, nhà phân tích của Quỹ Phòng vệ Dân chủ tại Mỹ, Iran có thể tổn thất khoảng 435 triệu USD mỗi ngày vì lệnh phong tỏa, trong đó có 276 triệu USD xuất khẩu và chủ yếu là dầu thô, sản phẩm hóa dầu.
Khi không thể xuất khẩu, các kho dự trữ dầu của Iran sẽ đầy trong vòng 2-3 tuần, buộc nước này phải đóng giếng khai thác, theo công ty phân tích và nghiên cứu Vortexa tại Anh. Các mỏ dầu bị đóng đột ngột sẽ không thể nhanh chóng mở lại và khó khôi phục sản lượng trong tương lai.
Priyanka Shankar, nhà phân tích của Al Jazeera, cho rằng cuộc phong tỏa của Mỹ còn tác động đến toàn bộ hoạt động thương mại của Iran và gây tổn hại cho nền kinh tế nước này. Các chuyến hàng cập cảng bị chặn sẽ khiến tình trạng khan hiếm hàng hóa trong nước ngày càng trầm trọng, tạo ra nỗi đau kinh tế ngày càng lớn.
"Nội bộ Iran nhiều khả năng đang lo ngại về nguy cơ thảm họa kinh tế cận kề nếu Washington không nới lỏng trừng phạt để mang lại cơ hội phục hồi kinh tế", Ozcelik cho hay. "Nếu nền kinh tế không thể phục hồi, chính quyền Iran có thể đối mặt với áp lực lớn hơn trong nước".
Vòng đàm phán đầu tiên giữa Mỹ và Iran tại Islamabad, Pakistan gần đây đã kết thúc trong bế tắc. Tuy nhiên, cả hai bên đều để ngỏ khả năng thỏa hiệp, bao gồm cả vấn đề cốt lõi như chương trình làm giàu uranium của Tehran. Hai bên có thể nối lại đàm phán trong những ngày tới.
Trong thời gian xung đột, Iran đã phóng hàng nghìn tên lửa và máy bay không người lái vào các nước vùng Vịnh và Israel. Nhiều cuộc tập kích trong đó đã đánh trúng các cơ sở năng lượng, sân bay và khách sạn. Tuy nhiên, mức độ thiệt hại ở các nước đó khó có thể so sánh với những gì mà Iran đã hứng chịu.
"Tôi nhận thấy quy mô thiệt hại hiện tại tồi tệ hơn nhiều so với chiến tranh Iran - Iraq", Kaveh Ehsani, phó giáo sư nghiên cứu quốc tế tại Đại học DePaul ở Chicago, nhận xét.
Trong cuộc xung đột năm 1980-1988 đó, khoảng một triệu người Iran và Iraq đã thiệt mạng, nhưng giao tranh khi đó chỉ diễn ra chủ yếu ở khu vực gần biên giới. Trong xung đột hiện tại với Mỹ và Israel, khoảng 20.000 quả bom, tên lửa đã rơi xuống Iran, trong đó nhiều quả tấn công mục tiêu ở thủ đô Tehran và các khu vực đô thị.
Việc Mỹ phong tỏa các cảng biển của Iran sẽ siết chặt thêm nguồn ngân sách của nước này. Sara Vakhshouri, người sáng lập kiêm chủ tịch công ty tư vấn SVB Energy International, cho hay mức độ thiệt hại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như lệnh phong tỏa của Mỹ sẽ siết chặt tới mức nào và được duy trì trong bao lâu.
Tổng thống Mỹ đã hoan nghênh động thái mở cửa Hormuz của Iran, nhưng khẳng định lệnh phong tỏa các cảng Iran vẫn còn hiệu lực cho đến khi thỏa thuận hai nước "hoàn thành 100%". Ông còn nói rằng Iran đã đồng ý sẽ "không bao giờ đóng cửa eo biển Hormuz nữa".
Vấn đề về lệnh phong tỏa cảng biển nhạy cảm đến mức Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf ngay sau đó đe dọa nước này sẽ tiếp tục đóng cửa eo biển Hormuz nếu chiến dịch phong tỏa các cảng vẫn diễn ra.
Sune Engel Rasmussen, nhà phân tích của WSJ, cho rằng những tổn thất mà Iran gánh chịu qua cuộc xung đột hiện tại và nhu cầu tái thiết, phục hồi nền kinh tế có thể trở thành áp lực khiến họ phải cân nhắc khả năng thỏa hiệp trong thời gian tới.
Tin Gốc: Vnexpress

