Trong khu vườn 2ha với đủ loại cây, ông Trần Thanh Tiềm (71 tuổi, trú tại thôn Mai Đàn, xã Cam Lộ) vẫn giữ một khoảng để chăm sóc hơn 40 gốc chè. Những thân chè cao 4-5m, phủ đầy rêu phong, có cây rỗng ruột nhưng vẫn xanh tốt. Ông Tiềm cho biết vườn chè này do ông bà để lại, có tuổi đời khoảng 100 năm, được gia đình xem là tài sản quý, gắn với nhiều kỷ niệm.
Theo ông Tiềm, nơi ông sinh sống gọi là vùng Cùa, gồm 2 xã Cam Chính và Cam Nghĩa, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị cũ (nay là xã Cam Lộ). Vùng đất này sở hữu nhiều vườn chè cổ thụ hiếm có, bát ngát những đồi cao su, vườn hồ tiêu, cùng nhiều loại cây trồng chủ lực khác.
“Từ khi còn nhỏ tôi đã thấy những cây chè trồng trong vườn, cũng không rõ nguồn gốc từ đâu, chỉ biết do ông cha trồng để uống và bán. Sau này vì đầu ra không ổn định, nhiều gia đình đã chuyển đổi cây trồng khác. Tuy nhiên nhiều cây chè có tuổi đời hàng chục đến cả trăm năm vẫn được bà con gìn giữ”, ông Tiềm chia sẻ.
Gia đình ông Hồ Ngọc Tùy (67 tuổi, trú tại thôn Mai Trung, xã Cam Lộ) hiện có hơn 50 cây chè có tuổi đời 80-100 năm. Trước đây, ông từng sở hữu hơn 80 gốc chè nhưng phải phá bỏ một phần để phát triển sản xuất.
“Khi chặt đi cũng tiếc lắm nhưng hoàn cảnh kinh tế buộc phải làm vậy. Những cây còn lại tôi sẽ tiếp tục chăm sóc để con cháu sau này biết được cha ông đã từng gắn bó với cây chè như thế nào”, ông Tùy nói.
Ông Tùy cho hay chè vùng Cùa có đặc điểm lá dày, xanh đậm và giòn. Nước nấu từ lá chè có màu xanh, vị đậm và hương thơm riêng biệt. Trong nhiều gia đình, ấm trà vẫn là thức uống quen thuộc trong các buổi gặp mặt hay khi đón khách. Không chỉ dùng để pha nước uống, lá chè còn được nhiều gia đình ở xã Cam Lộ sử dụng làm nước tắm cho trẻ nhỏ để tránh các bệnh về da theo kinh nghiệm dân gian.
Với người dân vùng Cùa, những gốc chè cổ không chỉ là ký ức của cha ông mà còn là niềm tự hào của quê hương. Dù nhiều cây cổ thụ, thế đẹp được trả giá 4-5 triệu đồng, họ vẫn không bán. Được gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, những vườn chè ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách.
Nơi vua Hàm Nghi ban Chiếu Cần Vương
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Trưởng thôn Mai Lộc 2, xã Cam Lộ, người am hiểu về lịch sử vùng Cùa, cho biết đây từng là nơi triều Nguyễn đặt kinh đô dự phòng với tên gọi thành Tân Sở. Ông Hiếu đang trông coi Đền thờ vua Hàm Nghi và các tướng sĩ Cần Vương, ở xã Cam Lộ.
Theo ông Hiếu, thành Tân Sở được xây dựng năm 1883. Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi cùng đại thần Tôn Thất Thuyết rút lên thành Tân Sở. Tại đây, nhà vua đã ban Chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu, văn thân và toàn dân đứng lên phò vua cứu nước, tạo ra phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở nhiều nơi.
Năm 1995, thành Tân Sở được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đến năm 2018, Đền thờ vua Hàm Nghi và các tướng sĩ Cần Vương được xây dựng trên vùng đất thuộc thành Tân Sở xưa.
“Thời gian ở Tân Sở, vua Hàm Nghi và các quan, đoàn tùy tùng thường uống nước nấu từ những lá chè chan chát, đậm vị của vùng Cùa”, ông Hiếu cho hay.
Theo ông Hiếu, ở xã Cam Lộ còn có một cây sui tuổi đời hơn 200 năm. Cây nằm trên một quả đồi, cao hơn 30m, tán lá sum suê vươn ra tứ phía. Thân cây lớn đến 3-4 vòng tay người trưởng thành mới ôm xuể. Trải qua chiến tranh và nhiều biến động lịch sử, hứng chịu không ít trận bão lớn, cây sui vẫn đứng vững.
Ông Nguyễn Thành Công, Trưởng Phòng Kinh tế xã Cam Lộ, thông tin vùng Cùa vẫn còn hơn 30 hộ trồng chè với diện tích 20ha. Trong đó có khoảng 15 hộ dân vẫn giữ được vườn chè cổ thụ với số lượng từ hàng chục đến hàng trăm cây.
Theo ông Công, chính quyền xã Cam Lộ đang rà soát những vườn chè đẹp, lâu năm để đưa vào khai thác du lịch, kết hợp với các điểm di tích như Đền thờ vua Hàm Nghi và các tướng sĩ Cần Vương, suối cổ, giếng cổ Cùa…
“Trước nguy cơ nhiều vườn chè cổ thụ bị mai một, địa phương đang nghiên cứu xây dựng kế hoạch bảo tồn gắn với phát triển du lịch cộng đồng kết nối thành Tân Sở. Xã cũng tích cực tuyên truyền, vận động người dân giữ gìn các vườn chè cổ để đảm bảo giá trị văn hóa, tạo điểm nhấn phục vụ phát triển du lịch”, ông Công chia sẻ.
Mới đây các bác sĩ Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội đã mổ cấp cứu thành công cho một sản phụ nặng 140kg mắc tiền sản giật nặng, huyết áp lên tới 197/120 mmHg khi mang thai gần 38 tuần.
Được biết, trước lần mang thai đầu tiên, sản phụ chỉ nặng khoảng 50kg. Tuy nhiên sau nhiều năm, cân nặng tăng dần và đến thai kỳ thứ 3 đã lên tới 140kg.
Tiền sử sản khoa của bệnh nhân ghi nhận nhiều yếu tố nguy cơ. Năm 2013, sản phụ sinh thường em bé nặng 3000g. Đến năm 2018, sản phụ phải mổ lấy thai do thai to với cân nặng 4500g. Trong lần mang thai này, sản phụ tăng thêm 13kg và thai nhi tiếp tục có cân nặng lớn.
Ngay sau khi tiếp nhận, các bác sĩ đánh giá đây là ca bệnh nguy cơ rất cao do sản phụ béo phì mức độ nặng, kèm tiền sản giật nặng và thai to.
Đáng chú ý ca phẫu thuật do ThS.BSCKII Lê Duy Toàn - Trưởng khoa Sản tự nguyện D4 trực tiếp thực hiện, phối hợp cùng ê-kíp gây mê hồi sức do ThS.BS Nguyễn Nhật Hoan - Phó khoa Gây mê hồi sức tự nguyện phụ trách.
Khó khăn lớn bắt đầu ngay từ quá trình vô cảm, với sản phụ có cân nặng lớn, lớp mỡ dày cùng tình trạng bệnh lý phức tạp khiến việc gây tê trở nên đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, ê-kíp gây mê đã thực hiện thành công phương pháp gây tê tủy sống, tạo điều kiện thuận lợi cho ca mổ diễn ra an toàn.
Trong suốt quá trình phẫu thuật, ê-kíp tiếp tục căng mình xử lý hàng loạt nguy cơ như chảy máu, huyết khối và biến chứng hậu phẫu vốn thường gặp ở thai phụ béo phì mức độ nặng.
Kết quả bé trai nặng 4,6kg cất tiếng khóc chào đời trong niềm vui vỡ òa của gia đình và đội ngũ y bác sĩ. Trẻ hiện được theo dõi sát tại khoa Sơ sinh để kịp thời phát hiện, xử trí các nguy cơ thường gặp ở trẻ có cân nặng lớn. Sức khỏe của cả mẹ và bé hiện ổn định.
Theo các bác sĩ, béo phì trong thai kỳ có thể làm gia tăng nhiều biến chứng nguy hiểm như tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, huyết khối tĩnh mạch, nhiễm trùng hậu phẫu, thai to, sinh khó hoặc băng huyết sau sinh.
Các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ nên kiểm soát cân nặng trước khi mang thai, khám thai định kỳ đầy đủ và theo dõi tại các cơ sở y tế chuyên sâu để được phát hiện sớm, quản lý kịp thời các yếu tố nguy cơ, bảo đảm an toàn cho cả mẹ và thai nhi.
Myanmar vừa khiến giới sưu tầm đá quý toàn cầu xôn xao khi công bố phát hiện một viên hồng ngọc khổng lồ nặng tới 11.000 carat (khoảng 2,2 kg) tại khu mỏ Mogok – vùng đất được mệnh danh là "thủ phủ đá quý" của thế giới.
Viên đá đặc biệt này không chỉ gây ấn tượng bởi kích thước hiếm có, mà còn bởi màu sắc đỏ ánh tím pha chút vàng nhẹ, thuộc nhóm màu được đánh giá có chất lượng cao trong giới đá quý.
Theo giới chức Myanmar, viên hồng ngọc còn sở hữu độ tinh khiết đáng kinh ngạc và hoàn toàn chưa qua xử lý.
Điều đáng nói dù không phải viên ruby lớn nhất từng được phát hiện tại quốc gia này, các chuyên gia nhận định giá trị của "báu vật" mới có thể vượt xa nhiều viên đá từng được khai quật trước đó, nhờ sự kết hợp hiếm hoi giữa kích thước, màu sắc và chất lượng tổng thể.
Mogok từ lâu đã nổi tiếng là vùng đất sản sinh ra những viên hồng ngọc quý hiếm bậc nhất thế giới, đặc biệt là dòng ruby "máu bồ câu" trứ danh – biểu tượng của sự hoàn hảo trong ngành đá quý.
Trong lịch sử khai thác tại đây, Myanmar từng ghi nhận nhiều phát hiện gây chấn động. Năm 1990, viên hồng ngọc SLORC nặng 496,25 carat được tìm thấy và nhanh chóng trở thành biểu tượng quốc gia.
Sáu năm sau, một viên ruby khổng lồ nặng tới 21.450 carat tiếp tục được khai quật, giữ kỷ lục là viên đá lớn nhất từng được phát hiện tại nước này.
Gần đây nhất, năm 2022, viên NaSaKa nặng 2.789,25 carat cũng từng gây chú ý lớn trong giới chuyên môn.
Không chỉ có giá trị về mặt địa chất, hồng ngọc Myanmar còn là một trong những loại đá quý đắt giá nhất thế giới. Theo Bloomberg, một viên ruby Myanmar 25,5 carat từng được bán đấu giá tại Sotheby’s Geneva năm 2015 với mức giá lên tới 30,3 triệu USD, tương đương hơn 797 tỷ đồng.
Phát hiện mới tại Mogok một lần nữa khẳng định vị thế của Myanmar trên bản đồ đá quý thế giới, nơi những "báu vật" từ lòng đất vẫn liên tục khiến giới chuyên gia kinh ngạc.
Theo ABC News, Myanmar sản xuất tới 90% lượng hồng ngọc của thế giới, chủ yếu từ các vùng Mogok và Mong Hsu. Đá quý cũng là nguồn thu nhập quan trọng của nước này.
Theo thông tin của WHO, đầu tháng 5/2026 ghi nhận chùm ca viêm đường hô hấp cấp nặng trên một tàu du lịch có lịch trình từ Argentina qua Nam Đại Tây Dương.
Tính đến ngày 4/5/2026, ghi nhận 7 trường hợp (2 trường hợp được xác nhận nhiễm virus Hanta và 05 trường hợp nghi ngờ), bao gồm 3 trường hợp tử vong, 1 bệnh nhân nguy kịch và 3 người có triệu chứng nhẹ.
Trên tàu có 147 người (bao gồm 88 du khách và 59 thủy thủ đoàn) thuộc 23 quốc tịch; hiện chưa ghi nhận người Việt Nam trong nhóm hành khách, thuyền viên liên quan.
Để nâng cao ý thức phòng bệnh, chủ động thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới xây dựng các nội dung thông tin dành cho báo chí về bệnh do virus Hanta và các biện pháp phòng bệnh để người dân chủ động phòng bệnh và không hoang mang.
Virus Hanta là nhóm virus có thể gây bệnh nặng ở người, như hội chứng phổi do virus Hanta hoặc sốt xuất huyết kèm hội chứng suy thận.
Bệnh có thể diễn biến nhanh, gây khó thở, suy hô hấp, tụt huyết áp và có thể tử vong. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh do virus Hanta; điều trị chủ yếu là theo dõi, chăm sóc hỗ trợ và hồi sức kịp thời tại cơ sở y tế.
Bệnh do virus Hanta là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây từ động vật gặm nhấm (đặc biệt là chuột) sang người. Đường lây truyền chủ yếu qua nước tiểu, phân, nước bọt của chuột nhiễm bệnh và tại nơi chuột nhiễm bệnh làm tổ hay trú ẩn, bị chuột cắn hoặc tiếp xúc trực tiếp, sau đó đưa lên mắt, mũi, miệng.
Khi quét dọn, hút bụi hoặc dọn nhà, dọn kho nơi có chuột nhiễm bệnh trú ẩn, chất thải khô của chuột có thể phát tán thành bụi rất nhỏ trong không khí; người hít phải bụi có chứa mầm bệnh có thể bị nhiễm virus Hanta. Lây truyền từ người sang người rất hiếm, nhưng đã được ghi nhận trên y văn.
Thời gian ủ bệnh thường từ 2-4 tuần, có thể tới 8 tuần. Người bệnh có thể sốt, ớn lạnh, đau đầu, chóng mặt, đau cơ, buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc tiêu chảy; sau đó có thể đột ngột ho, tức ngực, khó thở, mệt lả, tụt huyết áp.
Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết, tiếp tục phối hợp với WHO và các cơ quan liên quan để theo dõi tình hình, cập nhật thông tin và hướng dẫn các địa phương triển khai biện pháp phòng, chống dịch kịp thời, phù hợp.
Đến nay, nước ta chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Hanta trên người. Tuy nhiên, trong bối cảnh nước ta chuột khá phổ biến, để chủ động phòng, chống dịch bệnh do virus Hanta và các bệnh dịch khác lây truyền từ chuột sang người, Cục Phòng bệnh khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp:
Không chạm tay trực tiếp vào chuột sống, chuột chết, phân, nước tiểu, nước bọt hoặc ổ chuột.
Khi dọn dẹp nơi có dấu vết của chuột: mở cửa cho thông thoáng, đeo găng tay và khẩu trang; phun ướt khu vực có phân, nước tiểu hoặc nơi chuột làm tổ bằng dung dịch khử khuẩn hoặc nước tẩy rửa thông thường trước khi lau dọn.
Không quét khô, không dùng máy hút bụi hoặc máy thổi, vì có thể làm bụi nhỏ chứa mầm bệnh bay trong không khí, người hít phải bụi này có thể bị nhiễm bệnh.
Rửa tay bằng xà phòng sau khi dọn vệ sinh, xử lý rác, tiếp xúc với chuột hoặc khu vực có nguy cơ.
Bịt kín khe hở để chuột không vào nhà; đặt bẫy khi cần; cất thức ăn, nước uống trong đồ chứa kín; thu gom rác hằng ngày để không thu hút chuột.
Sau khi tiếp xúc với chuột hoặc nơi có phân, nước tiểu, nơi chuột làm tổ, nếu xuất hiện sốt, ớn lạnh, đau đầu, chóng mặt, đau cơ, buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc tiêu chảy, người dân cần đến ngay cơ sở y tế và thông báo rõ nguy cơ tiếp xúc với chuột để được khám, điều trị kịp thời.