Điều vừa thay đổi không phải là pháp luật trở nên khắt khe mà là một điều luật vốn đã tồn tại từ lâu cuối cùng được áp dụng. Và có lẽ chính khoảng thời gian dài bị bỏ quên ấy, hơn là lệnh khởi tố, mới là điều đáng để chúng ta cùng nhìn lại.
Trước hết cần thấy rằng không có gì mới trong nội dung của điều luật được áp dụng lần này. Chương trình máy tính từ lâu đã được bảo hộ như một loại tác phẩm theo luật Sở hữu trí tuệ. Hành vi sao chép và phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm đang được bảo hộ, khi thực hiện ở quy mô thương mại hoặc vượt các ngưỡng thu lợi và thiệt hại luật định, đã được xác định là tội phạm tại điều 225 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 và điều luật ấy đã có hiệu lực từ đầu năm 2018.
Nó còn cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự với cả pháp nhân thương mại chứ không riêng cá nhân. Như vậy ranh giới giữa hợp pháp và vi phạm trong lĩnh vực này đã nằm sẵn trong luật từ nhiều năm, chỉ là ít khi được nhắc tới. Pháp luật ở đây không thiếu. Thứ thiếu suốt một thời gian dài là việc nó được áp dụng trên thực tế.
Một quy phạm pháp luật ít khi được áp dụng thường để lại hệ quả âm thầm mà sâu xa hơn ta tưởng. Trên giấy nó vẫn còn nguyên hiệu lực. Khi một điều cấm được viết ra rồi hầu như không ai vi phạm phải gánh hậu quả thì dần dần người ta quen nghĩ rằng tuân thủ chỉ là chuyện tùy tâm, còn người làm đúng đôi khi bị xem là thiếu thực tế. Sự buông lỏng kéo dài vì thế không hẳn là khoan dung mà là một cách lặng lẽ làm phai nhạt chính chuẩn mực mà pháp luật muốn dựng lên.
Và sự phai nhạt ấy không phải không có người trả giá, dù người trả giá lại thường không phải bên vi phạm. Doanh nghiệp bỏ tiền mua bản quyền đã gánh một chi phí thật, trong khi đơn vị dùng phần mềm lậu nhờ không phải gánh khoản đó mà có thể chào giá thấp hơn.
Theo thời gian việc làm đúng dần trở thành một bất lợi, còn chưa làm đúng lại thành một lợi thế được mặc nhiên bỏ qua. Nhìn theo cách đó thì việc không thực thi không hẳn là một lựa chọn trung lập bởi mỗi ngày buông lỏng là một ngày người làm đúng chịu thiệt hơn một chút so với người chưa làm đúng. Khoan dung với điều chưa đúng trong trường hợp này lại hóa thành thiệt thòi cho điều đúng.
Một chiến dịch thực thi nghiêm túc về bản quyền phần mềm không nhất thiết phải bị xem như đòn giáng xuống cộng đồng người dùng máy tính. Nó gần với việc Nhà nước trở lại tôn trọng chính điều luật của mình và trả lại phần công bằng cho những người đã chọn làm đúng ngay từ đầu.
Lập lại trật tự ở đây không lấy đi của ai điều gì. Nó chỉ khép lại hành vi sử dụng phần mềm lậu suốt một thời gian dài tính bằng thập kỷ và gỡ bớt cái lợi thế thiếu sòng phẳng mà bên vi phạm đã hưởng bấy lâu.
Hiểu như vậy thì khởi tố vi phạm bản quyền không phải là khởi đầu của sự khắt khe mà là một bước để pháp luật được trả về đúng nghĩa của nó.
Vụ án tại tỉnh Phú Thọ cũng không nên được xem như một động thái đơn lẻ của riêng một địa phương bởi nó nằm trong một mạch chính sách đã được nói ra công khai.
Ngày 5.5.2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg, mở đợt cao điểm trên phạm vi toàn quốc từ ngày 7.5 đến hết ngày 30.5.2026 với tinh thần được nêu rõ là không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Công điện giao Bộ Công an chủ trì xác minh, điều tra và khởi tố một số vụ án xâm phạm nghiêm trọng quyền tác giả, quyền liên quan, đồng thời giao Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch kiểm tra việc chấp hành quy định về bản quyền chương trình máy tính tại doanh nghiệp, với mục tiêu số vụ được xử lý tăng ít nhất 20% so với cùng kỳ tháng 5.2025.
Vụ án tại Phú Thọ vì thế có thể xem là kết quả cụ thể đầu tiên của một bước chuyển chính sách hơn là một ngoại lệ tình cờ.
Tuy vậy chính việc gắn với một đợt cao điểm có thời hạn lại gợi ra điều cần lưu tâm nhất ở giai đoạn này và điều ấy không phải là thực thi quá mạnh mà là thực thi theo đợt. Một cao điểm có ngày mở và ngày khép nên điều dễ xảy ra là khi chiến dịch kết thúc, thói quen cũ lặng lẽ trở lại.
Khi đó vụ án ở Phú Thọ sẽ chỉ còn là một lần làm án điểm. Mà một lần làm án điểm thì khó lòng phục hồi một chuẩn mực đã thiếu từ lâu. Nó thậm chí có thể nuôi thêm tâm lý chờ đợi, rằng cứ giữ nguyên cách cũ và tránh đúng tháng cao điểm là ổn. Một nền pháp luật mà người ta chỉ cần đợi chờ chiến dịch đi qua thì vẫn là một nền pháp luật chưa thật sự được xem trọng.
Để việc thực thi thật sự bền vững và công bằng chứ không chỉ là một đợt, có lẽ cần 3 điều phải làm đồng bộ.
Trước hết là cần xác định một lằn ranh rõ ràng giữa xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự để người dân và doanh nghiệp biết trước mình đang đứng ở đâu thay vì phấp phỏng. Nghị định 341/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15.2.2026 đã nâng đáng kể mức phạt hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, với mức tối đa lên tới 250 triệu đồng đối với cá nhân và 500 triệu đồng đối với tổ chức, đủ sức xử lý phần lớn vi phạm phổ thông mà không cần đưa mọi việc theo hướng hình sự.
Một chuẩn mực được áp dụng với bên dưới nhưng bỏ qua ở bên trên sẽ khó nhận được sự tâm phục nên việc rà soát bản quyền phần mềm ngay tại các cơ quan công quyền, khu vực Nhà nước không phải là chuyện phụ mà là điều giúp cuộc thực thi có thêm sức thuyết phục.
Cuối cùng việc thực thi chỉ bền vững khi đi kèm một con đường hợp pháp hóa đủ khả thi, gồm chính sách cấp phép phù hợp cho khu vực giáo dục và doanh nghiệp nhỏ cùng việc khuyến khích phần mềm nguồn mở. Bởi một quy phạm mà người ta không thể tuân thủ trong thực tế chỉ sinh ra né tránh và oán giận chứ không sinh ra ý thức.
Vụ án ở Phú Thọ sẽ được nhớ đến một cách tích cực chỉ khi nó không phải là vụ xử lý vi phạm phần mềm bản quyền đầu tiên và nó không phải là vụ cuối cùng thuộc loại vi phạm này. Phép thử thật sự không nằm ở chỗ cơ quan chức năng có thể khởi tố một lần dưới sức ép từ công điện của Thủ tướng mà ở chỗ pháp luật có giữ nguyên tác động của nó sau ngày chiến dịch kết thúc.
Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới được Trung ương ban hành ngày 1/4 đánh giá công tác này đã đạt nhiều kết quả toàn diện, có bước tiến mạnh và đột phá lớn.
Tuy nhiên, Trung ương nhận định vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên một số lĩnh vực diễn biến nghiêm trọng, tinh vi hơn.
Thời gian tới, Trung ương yêu cầu thực hiện đồng bộ các giải pháp để "không thể, không dám, không muốn, không cần" tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đồng thời đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân lên trên hết, gắn phòng, chống với thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết nêu rõ cần "vừa kiên quyết, kiên trì đấu tranh, vừa kiến tạo phát triển, khuyến khích, bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân".
Khi xử lý các hành vi vi phạm, các cơ quan phải quán triệt quan điểm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", đồng thời xem xét bối cảnh, hiệu quả chính trị, kinh tế; ưu tiên thu hồi tối đa tài sản và khuyến khích chủ động khắc phục hậu quả.
Một nhiệm vụ trọng tâm được Trung ương nhấn mạnh là kiên trì xây dựng văn hóa liêm chính, coi đây là giá trị cốt lõi, chuẩn mực ứng xử và đạo đức của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp và toàn xã hội. Việt Nam hướng tới xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính với ba trụ cột gồm thể chế liêm chính, nền công vụ liêm chính và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính. Cán bộ lãnh đạo không được để vợ hoặc chồng, con và người thân lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi.
Trung ương yêu cầu sớm sửa đổi Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Đất đai theo hướng tăng công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; đồng thời nghiên cứu xây dựng Luật về đăng ký tài sản.
Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự cũng cần được sửa đổi để thể chế hóa quan điểm mới của Đảng về miễn, giảm, loại trừ trách nhiệm hình sự trong xử lý vi phạm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Trung ương lưu ý xác định tiêu chí, điều kiện chặt chẽ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vì lợi ích chung; đồng thời thể chế hóa chủ trương giảm trách nhiệm hình sự, hình phạt với người không có động cơ vụ lợi, tự giác nộp lại tài sản, khắc phục hậu quả và hợp tác hiệu quả trong điều tra.
Các cơ quan cũng được yêu cầu nghiên cứu mở rộng áp dụng hình phạt tiền, giảm hình phạt tù đối với tội phạm kinh tế, chức vụ. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu "xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho, không để lợi ích nhóm cài cắm, thao túng trong cơ chế, chính sách, pháp luật".
Tài sản, thu nhập của cán bộ sẽ được kiểm soát chặt chẽ; cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, có biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực sẽ bị thay thế hoặc cho từ chức. Chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ, công chức sẽ được bảo đảm để ổn định đời sống, yên tâm công tác.
Cùng với việc xây dựng lộ trình minh bạch tài sản trong toàn xã hội, Trung ương yêu cầu đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Đồng thời, Trung ương nghiêm cấm việc lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 16 (nhiệm kỳ 2026-2031) sắp tới, Chính phủ trình nghị quyết đưa Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương sau khi Trung ương đồng ý chủ trương. Tỉnh cũng đã tổ chức lấy ý kiến người dân với sự đồng thuận và kỳ vọng cao.
Nằm ở vùng Đông Nam Bộ, Đồng Nai có lịch sử hình thành hơn 325 năm. Sau sáp nhập với Bình Phước, địa phương có diện tích hơn 12.000 km2 và dân số khoảng 4,5 triệu người, trở thành cực tăng trưởng năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Liền kề và liên kết trực tiếp với siêu đô thị TP HCM, Đồng Nai còn là điểm giao thoa của nhiều hành lang kinh tế và trục kết nối chiến lược, giữ vai trò cầu nối với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Lợi thế lớn của tỉnh là hội tụ đầy đủ các loại hình giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và cảng biển. Đặc biệt, khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động cuối năm nay, Đồng Nai hình thành mạng lưới kết nối đa phương thức hiện đại, tạo ưu thế nổi bật để trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế, trung tâm kết nối các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Ông Nguyễn Kim Long, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không chỉ là thay đổi về địa giới hành chính mà còn là bước chuyển chiến lược, tạo nền tảng để địa phương vươn từ vị thế tỉnh công nghiệp lớn thành đô thị cấp vùng hiện đại.
"Tỉnh đã hội tụ gần như đầy đủ những điều kiện cốt lõi của đô thị trực thuộc Trung ương", ông Long nói.
Theo lãnh đạo tỉnh, nhiều năm qua Đồng Nai duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định, với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, thu hút gần 2.300 dự án từ 45 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổng vốn đăng ký hơn 44 tỷ USD. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó công nghiệp - xây dựng chiếm gần 55% GRDP, dịch vụ 26%, nông - lâm - thủy sản hơn 12%.
Đáng chú ý, GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt gần 153 triệu đồng/người, thuộc nhóm cao so với mặt bằng chung cả nước. Quy mô kinh tế lớn cùng cơ cấu hiện đại là nền tảng quan trọng để Đồng Nai phát triển thành đô thị lớn, trung tâm công nghiệp - dịch vụ của khu vực phía Nam.
Theo Nghị quyết 112 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chí thành phố trực thuộc Trung ương, Đồng Nai đáp ứng đủ 7 tiêu chí. Ngoài yêu cầu về diện tích và dân số, tỉnh hiện có 23 phường và 10 xã đủ điều kiện thành lập phường, đạt tỷ lệ 34,73%; tỷ lệ đô thị hóa gần 57%, đều vượt chuẩn. Đối với tiêu chí đô thị loại I, tỉnh đã hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Xây dựng thẩm định và qua tự đánh giá cơ bản đạt 13/15 tiêu chí.
Đồng Nai hiện tự cân đối ngân sách; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ trong nền kinh tế đạt hơn 81%; thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GRDP ba năm gần nhất đều cao hơn mức bình quân cả nước, trong khi tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mặt bằng chung.
Định hướng của tỉnh, khi lên thành phố trực thuộc Trung ương, Đồng Nai phát triển theo mô hình thành phố công nghiệp công nghệ cao, đô thị hiện đại, trung tâm logistics, dịch vụ quốc tế và nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời là đô thị sân bay, sinh thái, kết nối vùng và toàn cầu.
"Đồng Nai lên thành phố trực thuộc Trung ương có cơ sở chính trị, nền tảng pháp lý và logic phát triển rõ ràng, là yêu cầu khách quan của giai đoạn mới", ông Nguyễn Kim Long nói.
Theo GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Nghiên cứu kinh doanh (Đại học Kinh tế TP HCM), thành viên Tổ tư vấn kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai, việc nâng cấp địa vị hành chính sẽ nâng tầm vị thế của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ chế phát triển, thu hút đầu tư và đẩy mạnh hạ tầng.
Ông cho rằng bài toán lớn nhất hiện nay của Đồng Nai là hạ tầng kết nối, đặc biệt là liên kết vùng, do đó tỉnh cần tập trung huy động nguồn lực và đẩy nhanh các dự án trọng điểm.
KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận định lên thành phố trực thuộc Trung ương, không chỉ mang lại lợi ích cho địa phương mà còn cho cả vùng và quốc gia. Theo ông, khi có cơ chế đặc thù tương tự TP HCM, Đồng Nai sẽ thuận lợi triển khai các dự án chưa từng có tiền lệ như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị TOD và hệ thống hạ tầng giao thông quy mô lớn.
"Những dự án này cần cơ chế đặc thù để phát huy hết tiềm năng của sân bay Long Thành", ông Sơn nói, đồng thời cho rằng Đồng Nai và TP HCM rất cần chung một cơ chế để hợp tác và phát triển.
Phước Tuấn
Bài 2: Đồng Nai - vùng đất mở cõi đến 'thủ phủ công nghiệp'
Cơ quan Bảo hiểm xã hội (BHXH) TP.HCM vừa công bố danh sách 100 doanh nghiệp chậm đóng BHXH kéo dài từ 6 tháng trở lên (số liệu cập nhật đến ngày 31.3). Trong danh sách này, nhiều doanh nghiệp có số tiền chậm đóng lên tới hàng chục tỉ đồng, phản ánh tình trạng vi phạm nghĩa vụ BHXH còn diễn biến phức tạp.
Theo số liệu chậm đóng tính đến hết ngày 31.3 và cập nhật ủy nhiệm chi đến ngày 10.4, Công ty cổ phần Tập đoàn xây dựng Hòa Bình là một trong những đơn vị có số tiền chậm đóng lớn nhất, với gần 68 tỉ đồng. Tiếp đó là Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn với hơn 41 đồng. Chi nhánh Công ty cổ phần Trải nghiệm toàn cầu chậm đóng hơn 34 tỉ đồng...
Ngoài ra, trong danh sách có nhiều doanh nghiệp chậm đóng từ 10 tỉ đồng trở lên, thấp nhất gần 4 tỉ đồng. Việc doanh nghiệp chậm đóng BHXH khiến hàng ngàn người lao động gặp khó khăn, không giải quyết được các chế độ như thai sản, bảo hiểm thất nghiệp.
Theo Cơ quan BHXH TP.HCM, nguyên nhân các doanh nghiệp chậm đóng BHXH thường đến từ việc gặp khó khăn về tài chính, sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó cũng có doanh nghiệp cố tình chậm đóng dù có khả năng.
Mặc dù đơn vị đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở và tiến hành thanh tra, kiểm tra các vi phạm nhưng các doanh nghiệp vẫn không thực hiện trách nhiệm cho người lao động. BHXH TP.HCM sẽ tiếp tục tăng cường kiểm tra và xử lý theo quy định đối với doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng BHXH để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.