Bé trai nguy kịch vì viêm não Nhật Bản sau nhiều ngày sốt cao
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (Hà Nội) gần đây tiếp nhận một bé trai 14 tuổi (Nghệ An) trong tình trạng nặng sau nhiều ngày sốt cao liên tục, đau đầu, buồn nôn và nôn.
Theo người nhà, 5 ngày sau chuyến du lịch biển, trẻ bắt đầu xuất hiện sốt cao kéo dài kèm đau đầu, buồn nôn và nôn. Dù đã được điều trị tại cơ sở y tế địa phương nhưng tình trạng không cải thiện.
Sau đó, bệnh diễn biến nặng nhanh chóng. Trẻ sốt cao tới 40 độ C, đau đầu dữ dội, xuất hiện rối loạn ý thức, co giật, mất ý thức trong cơn và yếu nửa người phải. Ngay sau đó, bệnh nhi được chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cấp cứu.
Tại đây, trẻ được chẩn đoán mắc viêm não Nhật Bản kèm viêm phổi nặng. Bệnh nhi phải thở máy, an thần và điều trị hồi sức tích cực.
Sau thời gian điều trị, tình trạng của trẻ đã cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trẻ vẫn còn yếu tay phải với cơ lực khoảng 4/5 và cần tiếp tục tập phục hồi chức năng để hạn chế các di chứng thần kinh lâu dài.
Điều đáng chú ý, trẻ đã tiêm các mũi vaccine cơ bản nhưng chưa tiêm nhắc lại, khiến khả năng bảo vệ suy giảm theo thời gian.
Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội, TP cũng vừa ghi nhận bệnh nhi 13 tuổi ở xã Hưng Đạo mắc viêm não Nhật Bản trong tình trạng nặng, tiên lượng dè dặt. Qua khai thác bệnh sử, trẻ được phát hiện mắc bệnh khoảng một tuần trước và vẫn đang được điều trị tích cực. Trẻ đã hoàn thành 3 mũi vaccine cơ bản, song chưa tiêm mũi nhắc lại theo khuyến cáo.
Dấu hiệu mắc bệnh viêm não Nhật Bản
Bệnh viêm não Nhật Bản có thể diễn ra quanh năm nhưng cao điểm nhất là vào các tháng 5-7. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc, song chủ yếu là trẻ em dưới 15 tuổi, đặc biệt nhóm nguy cơ cao nhất là trẻ 2-6 tuổi (chiếm 75% tổng số trẻ mắc).
Biểu hiện chính của bệnh là sốt cao, kèm theo các triệu chứng liên quan đến tổn thương hệ thần kinh trung ương như nhức đầu, buồn nôn và nôn. Ngoài ra, trẻ có các dấu hiệu như mất ngủ quấy khóc, vật vã mê sảng hoặc ly bì, co giật, tăng trương lực cơ, rối loạn thần kinh thực vật (da lúc đỏ lúc xám, vã mồ hôi, mạch nhanh).
Khi trẻ bị sốt, cha mẹ thường nghĩ đến sốt virus thông thường và mua thuốc hạ sốt cho con uống. Tuy nhiên, nếu bị sốt virus thông thường thì sau khi uống thuốc, hạ được sốt, trẻ sẽ hoạt động và chơi bình thường.
Nhưng với viêm não Nhật Bản, trong 1-2 ngày đầu, trẻ thường có các dấu hiệu như sốt nhưng kèm theo đó là đau đầu tăng dần, mệt mỏi, buồn nôn và nôn khan. Đến khi trẻ có các biểu hiện điển hình như đau đầu dữ dội, sốt cao, co giật thì bệnh đã biến biến nặng.
Bệnh hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Điều trị chủ yếu là hồi sức tích cực, kiểm soát triệu chứng và hạn chế tổn thương não.
Theo GS.TS Vũ Sinh Nam, Hội Y học Dự phòng Việt Nam, mỗi năm thế giới ghi nhận khoảng 67.900 ca mắc viêm não Nhật Bản. Tỷ lệ tử vong có thể lên tới 30%.
Đáng lo ngại hơn, khoảng một nửa số bệnh nhân sống sót phải mang các di chứng thần kinh kéo dài như động kinh, rối loạn vận động, suy giảm trí nhớ, giảm khả năng học tập, rối loạn hành vi hoặc mất khả năng lao động.
Tại Việt Nam, nhờ Chương trình tiêm chủng mở rộng, số ca mắc đã giảm mạnh xuống còn khoảng 100-200 trường hợp mỗi năm. Phân tích dịch tễ cho thấy một số trường hợp mắc bệnh viêm não Nhật Bản xảy ra ở những người từng được tiêm nhưng miễn dịch suy giảm theo thời gian hoặc chưa hoàn thành lịch tiêm nhắc theo khuyến cáo.
Theo chương trình tiêm chủng mở rộng, trẻ cần tiêm 3 mũi cơ bản gồm mũi đầu tiên lúc 1 tuổi, mũi thứ hai sau 1-2 tuần và mũi thứ ba sau mũi thứ hai một năm. Sau đó cần tiêm nhắc lại mỗi 3-4 năm cho đến khi đủ 15 tuổi để duy trì miễn dịch bảo vệ.
Theo BS Nguyễn Tuấn Hải, vaccine là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa viêm não Nhật Bản. Việc tiêm chủng đầy đủ giúp cơ thể tạo miễn dịch chống lại virus, từ đó ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh hoặc giảm đáng kể khả năng diễn tiến nặng và tử vong.
Bên cạnh tiêm chủng, người dân cần chủ động phòng chống muỗi đốt bằng cách ngủ màn, vệ sinh môi trường, loại bỏ nơi sinh sản của muỗi và bảo vệ trẻ em trong mùa cao điểm từ tháng 5 đến tháng 9 hằng năm.
Ngày 3-4, Bệnh viện Đại học Y khoa Phan Châu Trinh (Đà Nẵng) công bố đạt chứng nhận kiểm định quốc tế theo tiêu chuẩn AACI (Mỹ) sau khi đáp ứng các tiêu chí kiểm định về an toàn người bệnh, quản lý rủi ro và chất lượng điều trị.
AACI là hệ thống kiểm định chất lượng y tế quốc tế với bộ tiêu chuẩn toàn diện gồm 3 chương, 30 tiêu chuẩn, tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi như chất lượng điều trị, an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý rủi ro, năng lực xử lý các tình huống khẩn cấp và đào tạo liên tục…
Việc đáp ứng các tiêu chí của AACI đòi hỏi cơ sở y tế phải xây dựng hệ thống quản trị đồng bộ, minh bạch và vận hành hiệu quả.
Theo bác sĩ Lê Xuân Túy, Giám đốc điều hành Bệnh viện Đại học Y khoa Phan Châu Trinh, trong hơn 8 tháng qua, bệnh viện đã kiên trì triển khai hàng loạt hoạt động cải tiến, xây dựng hàng trăm quy trình.
Ngoài đào tạo về mặt lý thuyết, bệnh viện tổ chức đào tạo mô phỏng tình huống lâm sàng để toàn bộ đội ngũ từ bác sĩ, điều dưỡng đến nhân viên vận hành nắm vững và thực hiện thống nhất các tiêu chuẩn an toàn.
"AACI giúp chúng tôi hiểu rõ chất lượng bệnh viện không nằm ở cá nhân xuất sắc, mà nằm ở hệ thống giúp mọi người làm đúng mỗi ngày, nơi các mục tiêu về an toàn người bệnh, chất lượng điều trị, kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý rủi ro được đặt lên hàng đầu.
Chứng nhận đạt tiêu chuẩn AACI không phải là đích đến mà là khởi đầu cho hành trình cải tiến chất lượng liên tục của bệnh viện.
Chúng tôi xác định đào tạo liên tục là trọng tâm xuyên suốt trong mọi hoạt động chuyên môn, bảo đảm mỗi người bệnh đều được chăm sóc trong môi trường an toàn, giảm thiểu tối đa sai sót y khoa và không ngừng nâng cao chất lượng điều trị" - bác sĩ Túy nói.
Bệnh viện Sir Run Run Shaw liên kết với trường Y thuộc Đại học Chiết Giang hôm 28/4 thông tin về trường hợp vợ chồng chị Li và anh Zhang ở thành phố Hàng Châu, khiến nhiều người xúc động, theo Sohu. Suốt 19 năm chung sống, cả hai được người ngoài ngưỡng mộ như một cặp hoàn hảo nhưng ít ai ngờ họ chưa từng giao hợp như những đôi vợ chồng bình thường.
Nguyên nhân bắt nguồn từ việc chị Li mắc hội chứng sợ bẩn (mysophobia) nghiêm trọng, cùng tâm lý lo âu và bài trừ đụng chạm thân thể. Suốt từng ấy năm, anh Zhang chọn cách bao dung, tôn trọng và kiên nhẫn bảo vệ cuộc hôn nhân của mình.
Tuy nhiên, khi tuổi tác ngày một lớn và chứng kiến con cái của bạn bè dần trưởng thành, nỗi khao khát về một mái ấm trọn vẹn trong hai vợ chồng càng thêm cháy bỏng, thôi thúc cả hai tìm đến sự hỗ trợ của y tế.
Kết quả kiểm tra cho thấy dự trữ buồng trứng của chị Li đang suy giảm, trong khi chức năng sinh sản của anh Zhang vẫn bình thường. Ban đầu, bác sĩ chỉ định lộ trình tư vấn tâm lý trong ba tháng để hướng tới việc thụ thai tự nhiên. Tuy nhiên, những rào cản tinh thần của chị Li quá lớn khiến nỗ lực này không mang lại kết quả.
Trước tình hình đó, các chuyên gia đã xây dựng một phác đồ hỗ trợ sinh sản (ART - gồm các phương pháp như thụ tinh nhân tạo IUI hay thụ tinh trong ống nghiệm IVF) chuyên biệt dành riêng cho cặp vợ chồng. Sau thất bại ở lần điều trị đầu tiên, hai vợ chồng không bỏ cuộc mà cùng nhau điều chỉnh tâm lý để bước vào liệu trình thứ hai. Sự bền bỉ của họ cuối cùng được đền đáp xứng đáng khi chị Li mang thai và sinh một bé gái khỏe mạnh. Giờ đây, tổ ấm nhỏ của họ tràn ngập tiếng cười và niềm vui nhờ sự hiện diện của thành viên mới.
Hội chứng sợ bẩn, hay còn gọi là mysophobia hoặc chứng sợ vi trùng, là một dạng rối loạn lo âu đặc trưng bởi nỗi sợ hãi tột độ, phi lý và dai dẳng đối với bụi bẩn, vi khuẩn hoặc sự lây nhiễm, thường liên quan mật thiết đến chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế.
Khác với thói quen ưa sạch sẽ thông thường, nỗi sợ của người bệnh lớn đến mức chi phối hoàn toàn các hoạt động sống. Họ thường có những hành vi làm sạch cưỡng chế như rửa tay hoặc tắm rửa liên tục đến mức bong tróc da, đồng thời né tránh việc đụng chạm thân thể, bắt tay, ôm ấp hay thậm chí là quan hệ tình dục. Họ cũng rất sợ không gian công cộng, từ chối chạm vào tay nắm cửa hay đi phương tiện giao thông chung, và nếu buộc phải đối mặt với môi trường mà họ cho là ô nhiễm, người bệnh có thể hoảng loạn, tim đập nhanh, khó thở, đổ mồ hôi và run rẩy.
Nguyên nhân dẫn đến hội chứng này thường là sự kết hợp của nhiều yếu tố như trải nghiệm sang chấn tâm lý trong quá khứ, yếu tố di truyền từ gia đình có người mắc rối loạn lo âu, hoặc do ảnh hưởng từ cách giáo dục quá khắt khe về vấn đề vệ sinh từ khi còn nhỏ. Đôi khi, các đợt dịch bệnh lớn cũng có thể kích hoạt chứng bệnh này ở những người nhạy cảm.
Việc điều trị không thể chỉ dựa vào những lời khuyên thông thường mà đòi hỏi sự can thiệp của y khoa thông qua liệu pháp nhận thức - hành vi, đặc biệt là phương pháp cho bệnh nhân tiếp xúc dần với các tác nhân gây sợ hãi trong môi trường kiểm soát để họ từ từ làm quen và giảm bớt lo âu. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể cần sử dụng thêm thuốc chống lo âu hoặc thuốc chống trầm cảm để kiểm soát các triệu chứng đi kèm.
Một số người khi tập thể dục quá mức có thể âm thầm phát triển tình trạng "tim vận động viên" - tim bị biến đổi cấu trúc do tập luyện kéo dài và cường độ cao.
Tiến sĩ Ruchit Shah, bác sĩ tim mạch tại Bệnh viện Saifee (Ấn Độ), giải thích lý do tại sao và điều gì xảy ra cho tim khi tập luyện quá mức.
Ông Ruchit Shah cho biết tình trạng này xảy ra ở các vận động viên thi đấu, thuộc top 1 - 2% hàng đầu. Cũng như cơ xương to ra thông qua tập luyện và tập gym thường xuyên, cơ tim cũng có thể thích nghi với sự gắng sức kéo dài, dẫn đến những thay đổi cấu trúc trong tim, theo tờ Hindustan Times.
Tiến sĩ Shah giải thích: Chủ yếu do cường độ, thời gian và tính nhất quán của việc luyện tập. Tập thể dục quá mức trong hơn 60 phút mỗi ngày, hầu hết các ngày trong tuần trong một thời gian dài, sẽ làm tăng đáng kể nhu cầu oxy và cung cấp máu của cơ thể, nhất là ở vận động viên thi đấu chuyên nghiệp theo lịch trình luyện tập nghiêm ngặt.
Bác sĩ Shah giải thích: Để đáp ứng nhu cầu tăng cao này, cơ tim trải qua quá trình thích nghi và trở nên dày hơn theo thời gian. Khi cơ tim dày lên, đặc biệt là cơ tâm thất trái, kích thước khoang tâm thất trái giảm nhẹ. Từ đó, lượng máu đổ đầy tâm thất trái cũng giảm nhẹ.
Những thay đổi cấu trúc trong tim ban đầu nghe có vẻ đáng lo ngại. Tuy nhiên, hội chứng này nói chung được coi là sự thích nghi sinh lý hơn là tình trạng nguy hiểm. Nó không gây ra vấn đề nghiêm trọng ở người khỏe mạnh. Vì vậy, không phải tất cả những thay đổi đều nhất thiết gây ra bệnh tim.
Một trong những dấu hiệu phổ biến nhất là nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp, thường được gọi là "nhịp tim thích nghi". Bác sĩ Shah giải thích: Điều này xảy ra vì tim trở nên hiệu quả hơn do luyện tập liên tục. Trong hầu hết các trường hợp, những người có "tim vận động viên" không gặp phải các triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm. Và khi ngừng luyện tập cường độ cao, tim sẽ từ từ trở lại kích thước và chức năng bình thường trong vòng 3 - 6 tháng. Tuy nhiên, trong khoảng 20% trường hợp, những thay đổi này có thể không biến mất hoàn toàn.
Đặc biệt, đôi khi có thể gây ra bệnh tim - bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn. Vì vậy, những vận động viên có biến đổi ở tim khi đo điện tâm đồ hoặc chụp chiếu cần được đánh giá kỹ xem có bất kỳ tình trạng nguy hiểm tiềm ẩn nào hay không, theo Hindustan Times.