Tại hội nghị, Tổng thống Nga Vladimir Putin khẳng định ASEAN có uy tín không chỉ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà còn trên toàn cầu. ASEAN đã đứng vững trước thử thách của thời gian, xây dựng một hệ thống hợp tác liên quốc gia dựa trên các chuẩn mực luật pháp quốc tế được công nhận rộng rãi và sự cân nhắc lợi ích lẫn nhau.
Nhà lãnh đạo Nga công bố chương trình nghị sự toàn thể, theo đó, nội dung thảo luận sẽ tập trung các vấn đề khu vực và quốc tế hiện nay, đánh giá kết quả hợp tác Nga – ASEAN trong 35 năm qua và các định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ tương lai của quan hệ Đối tác chiến lược Nga – ASEAN. Ông Putin cũng nhấn mạnh vào các nội dung kinh tế, trong hợp tác cần đảm bảo tính bao trùm đến tất cả các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn.
Hội nghị cấp cao Kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN – Nga có ý nghĩa quan trọng nhằm thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN – Nga, củng cố cam kết chính trị, làm mới động lực hợp tác và xác định phương hướng chiến lược cho quan hệ ASEAN – Nga giai đoạn tới trên cả 3 trụ cột chính trị – an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội.
Việc Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự hội nghị khẳng định vị trí quan trọng chiến lược của hợp tác ASEAN – Nga đối với Việt Nam, cho thấy mong muốn của Việt Nam trong phát huy vai trò “cầu nối” thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN – Nga phát triển thực chất, hiệu quả, tương xứng với tiềm năng và có bước tiến mới nhân dịp kỷ niệm 35 năm quan hệ.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Giải pháp cốt lõi nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, internet và mạng xã hội đang làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường hình thành, lan tỏa và tác động của dư luận xã hội.
Nếu như trước đây, dư luận xã hội chủ yếu được hình thành thông qua các kênh giao tiếp trực tiếp, báo chí truyền thống hoặc các tổ chức chính trị - xã hội, thì ngày nay, không gian mạng đã trở thành môi trường quan trọng sản sinh, tương tác, lan truyền và khuếch đại dư luận.
Trong bối cảnh đó, công tác dư luận xã hội đứng trước cả thời cơ và thách thức mới. Đổi mới công tác dư luận xã hội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận xã hội, xây dựng vững chắc "thế trận lòng dân", góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Điểm nổi bật nhất của dư luận xã hội hiện nay là tốc độ hình thành và lan truyền thông tin diễn ra với quy mô rất lớn, cường độ rất nhanh. Chỉ một sự kiện, một phát ngôn, một đoạn video ngắn hoặc một thông tin chưa được kiểm chứng cũng có thể nhanh chóng thu hút hàng triệu lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ và tạo thành làn sóng dư luận mạnh mẽ trong xã hội.
Không gian mạng đã làm thay đổi căn bản cấu trúc truyền thông xã hội. Từ chỗ công chúng chủ yếu tiếp nhận thông tin một chiều, ngày nay mỗi người dân vừa là người tiếp nhận, vừa là người sản xuất, bình luận, lan truyền và tác động đến thông tin. Điều này làm cho dư luận xã hội trở nên đa chiều hơn, dân chủ hơn, nhưng cũng phức tạp hơn, khó dự báo hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý là ranh giới giữa thông tin chính thống và thông tin phi chính thống ngày càng trở nên mong manh. Bên cạnh những giá trị tích cực mà môi trường số mang lại, tình trạng tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin độc hại, xuyên tạc, kích động vẫn diễn biến phức tạp.
Nhiều vụ việc xã hội cho thấy, nếu thông tin chính thống chậm được cung cấp hoặc thiếu sức thuyết phục thì rất dễ tạo khoảng trống thông tin, làm phát sinh tâm lý hoài nghi, gây nhiễu loạn dư luận và tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đang triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Những biến đổi đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, dựa trên nền tảng số và bám sát đời sống nhân dân.
Những năm qua, công tác dư luận xã hội đã có nhiều đổi mới tích cực. Hệ thống tổ chức, mạng lưới cộng tác viên từ Trung ương đến cơ sở tiếp tục được củng cố; việc nắm bắt, tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ngày càng được quan tâm. Nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm đã được phát hiện sớm, góp phần giúp cấp ủy, chính quyền kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo xử lý.
Hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát dư luận từng bước được mở rộng. Một số cơ quan, địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, phân tích thông tin trên báo chí và mạng xã hội. Công tác dư luận xã hội ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò là kênh tham mưu quan trọng trong công tác tư tưởng, dân vận, truyền thông chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, công tác dư luận xã hội vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý. Ở nhiều nơi, công tác này vẫn chủ yếu dừng ở việc phản ánh tình hình, chưa chú trọng đúng mức đến phân tích chuyên sâu, dự báo xu hướng và tham mưu chính sách. Không ít báo cáo còn nặng về mô tả hiện tượng, thiếu đánh giá bản chất, nguyên nhân và dự báo tác động.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác dư luận xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công, trong khi dư luận trên không gian mạng biến động từng giờ, từng phút.
Cơ chế phối hợp giữa công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách, công tác dân vận, hoạt động giám sát và phản biện xã hội ở một số nơi còn thiếu chặt chẽ. Nhiều thông tin phản ánh từ cơ sở chưa được xử lý, phản hồi kịp thời, làm giảm hiệu quả tạo đồng thuận xã hội.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chưa đồng đều; kỹ năng phân tích dữ liệu, khai thác thông tin số, nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trên không gian mạng còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn cần sớm được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, công tác dư luận xã hội cần được đổi mới toàn diện cả về tư duy, phương thức, công nghệ và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ của công tác tuyên giáo, dân vận, mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận trong nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tập trung thực hiện đồng bộ 5 giải pháp cốt lõi sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ tư duy về công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng. Cần chuyển từ tư duy "nắm bắt và phản ánh dư luận" sang tư duy "quản trị dư luận xã hội trong môi trường số". Sự chuyển đổi này không có nghĩa là hành chính hóa hay áp đặt đối với dư luận xã hội, mà là nâng cao năng lực lắng nghe, phân tích, dự báo, định hướng và tham mưu xử lý các vấn đề xã hội một cách chủ động, khoa học, thuyết phục.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ nhằm biết nhân dân đang quan tâm điều gì, mà quan trọng hơn là phải nhận diện được vì sao vấn đề đó được quan tâm, nhóm xã hội nào đang chịu tác động, mức độ lan tỏa đến đâu, xu hướng diễn biến ra sao, nguy cơ bị lợi dụng như thế nào và cần tham mưu giải pháp gì để xử lý từ sớm, từ xa.
Nếu chỉ dừng lại ở phản ánh hiện tượng, công tác dư luận xã hội sẽ luôn đi sau thực tiễn; nếu có năng lực phân tích và dự báo, công tác này sẽ trở thành công cụ quan trọng giúp cấp ủy, chính quyền chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Do đó, cần coi dư luận xã hội là một nguồn dữ liệu quan trọng trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công. Mỗi chủ trương, chính sách lớn, nhất là những chính sách tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân, đều cần được nhìn nhận từ góc độ dư luận xã hội: Nhân dân hiểu thế nào, đồng thuận đến đâu, băn khoăn điều gì, vướng mắc ở khâu nào, cần điều chỉnh ra sao. Đây chính là cơ sở để chính sách đi vào cuộc sống, hạn chế khoảng cách giữa chủ trương đúng với tổ chức thực hiện hiệu quả.
Công tác dư luận xã hội vì vậy phải trở thành một bộ phận hữu cơ của phương thức lãnh đạo, quản lý hiện đại: lãnh đạo phải dựa vào dân, lắng nghe dân, hiểu dân, thuyết phục dân và tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng, giám sát, hoàn thiện chính sách.
Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội.
Đây là giải pháp mang tính đột phá, quyết định khả năng thích ứng của công tác dư luận xã hội trong bối cảnh mới. Khi dư luận xã hội hình thành và lan truyền chủ yếu trên môi trường số, nếu công tác nắm bắt dư luận vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, phân tán, chậm cập nhật thì sẽ khó theo kịp tốc độ biến động của thực tiễn.
Cần khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống dữ liệu chuyên ngành về dư luận xã hội theo hướng thống nhất, liên thông, có khả năng cập nhật, phân tích và khai thác hiệu quả. Trên cơ sở đó, từng bước hình thành các trung tâm hoặc bộ phận phân tích, dự báo dư luận xã hội trên nền tảng số, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân loại, đánh giá các dòng thông tin lớn trên báo chí, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ phân tích cảm xúc, phân tích xu hướng thông tin, nhận diện chủ đề nóng, phát hiện bất thường trong dòng chảy thông tin. Những công cụ này giúp phát hiện sớm các vấn đề nổi lên, cảnh báo nguy cơ phát sinh điểm nóng, nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc, kích động, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng tham mưu giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, truyền thông và xử lý chính sách phù hợp.
Tuy nhiên, chuyển đổi số trong công tác dư luận xã hội không chỉ là đầu tư phần mềm, thiết bị hay lập thêm hệ thống kỹ thuật. Điều quan trọng hơn là phải đổi mới quy trình làm việc, cơ chế phối hợp, phương pháp phân tích và năng lực sử dụng dữ liệu. Dữ liệu chỉ có giá trị khi được phân tích đúng, đặt trong bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể và chuyển hóa thành kiến nghị chính sách có tính khả thi.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ "đi sau phản ánh" sang "đi trước dự báo"; từ xử lý bị động sang chủ động nhận diện, phòng ngừa rủi ro xã hội; từ báo cáo tình hình sang kiến tạo giải pháp, góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong môi trường số.
Ba là, gắn chặt công tác dư luận xã hội với truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi xã hội.
Thực tiễn cho thấy, nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách không phải lúc nào cũng xuất phát từ bản thân chính sách, mà có khi bắt nguồn từ việc thông tin chưa đầy đủ, truyền thông chưa đúng thời điểm, thiếu đối thoại, thiếu giải thích hoặc chậm phản hồi trước những băn khoăn chính đáng của người dân. Trong môi trường số, khoảng trống thông tin rất dễ bị lấp đầy bởi suy đoán, tin giả, thông tin sai lệch hoặc luận điệu xuyên tạc.
Vì vậy, công tác dư luận xã hội phải gắn chặt với truyền thông chính sách ngay từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Trước khi ban hành những chính sách lớn, có tác động rộng đến đời sống nhân dân, cần coi trọng khảo sát, đánh giá tác động dư luận xã hội, nhận diện các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng, dự báo những vấn đề có thể phát sinh, từ đó có phương án truyền thông, giải thích và tạo đồng thuận phù hợp.
Trong quá trình thực hiện chính sách, cần thường xuyên lắng nghe phản hồi từ nhân dân, nhất là những ý kiến khác biệt, những băn khoăn, vướng mắc từ cơ sở. Thông tin phản ánh từ dư luận xã hội phải được tiếp nhận, phân loại, xử lý và phản hồi kịp thời; tránh tình trạng chỉ thu thập thông tin để báo cáo mà chưa gắn với trách nhiệm giải quyết.
Truyền thông chính sách trong thời đại số phải bảo đảm ba yêu cầu: nhanh, đúng và thuyết phục. Nhanh để không tạo khoảng trống thông tin; đúng để bảo đảm tính chính xác, chính thống; thuyết phục để người dân hiểu, chia sẻ và đồng thuận. Chính sách tốt không chỉ đúng về mục tiêu, đúng về pháp lý, mà còn phải được truyền thông đúng cách, được nhân dân hiểu đúng, đồng tình và tích cực tham gia thực hiện.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong nắm bắt, định hướng và tạo đồng thuận xã hội.
Trong công tác dư luận xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng. Với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; thực hiện giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận có điều kiện và trách nhiệm trở thành một kênh quan trọng nắm bắt, phản ánh và tham mưu xử lý các vấn đề dư luận xã hội.
Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt dư luận theo hướng sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe thực chất tiếng nói của nhân dân. Cần kết hợp giữa nắm bắt qua hệ thống tổ chức, qua đội ngũ cán bộ cơ sở, qua tiếp xúc cử tri, giám sát, phản biện xã hội, với việc khai thác các kênh thông tin trên môi trường số. Qua đó, phản ánh trung thực, khách quan, kịp thời tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Thông qua giám sát và phản biện xã hội, Mặt trận cần góp phần phát hiện sớm những bất cập trong cơ chế, chính sách, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, những điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện ở cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, không để những bức xúc nhỏ tích tụ thành mâu thuẫn lớn, không để các vấn đề dân sinh trở thành điểm nóng xã hội.
Trong thời đại số, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cũng cần phát huy vai trò định hướng, lan tỏa thông tin tích cực, củng cố đồng thuận xã hội trên không gian mạng. Mỗi cán bộ Mặt trận, đoàn thể, đoàn viên, hội viên cần trở thành một chủ thể tích cực trong tuyên truyền, giải thích chính sách, phản ánh tiếng nói từ cơ sở, đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dư luận xã hội chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu thời đại số.
Công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của con người. Chất lượng công tác dư luận xã hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ. Trong bối cảnh mới, cán bộ làm công tác dư luận xã hội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy phân tích sắc bén, năng lực dự báo tốt, am hiểu thực tiễn xã hội và có khả năng sử dụng công nghệ số.
Cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này theo hướng tích hợp ba nhóm năng lực: năng lực chính trị, năng lực xã hội học và năng lực số. Năng lực chính trị để nhận diện đúng tính chất của vấn đề, phân biệt giữa bức xúc chính đáng của nhân dân với hành vi lợi dụng, kích động, chống phá. Năng lực xã hội học để khảo sát, phân tích, đánh giá tâm trạng xã hội một cách khoa học. Năng lực số để khai thác dữ liệu, sử dụng công cụ phân tích truyền thông, theo dõi xu hướng thông tin và tham mưu trong môi trường số.
Cùng với đội ngũ chuyên trách, cần củng cố, mở rộng và nâng cao chất lượng mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới này phải đa dạng, có chiều sâu, bao gồm cán bộ cơ sở, trí thức, chuyên gia, nhà khoa học, nhà báo, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo, người có uy tín, doanh nhân, công nhân, nông dân, thanh niên và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đây là lực lượng quan trọng giúp công tác dư luận xã hội bám sát đời sống, phản ánh được nhiều chiều cạnh của thực tiễn, nhất là những vấn đề đang hình thành từ cơ sở.
Tựu trung lại, 5 giải pháp trên cần được triển khai đồng bộ, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó, đổi mới tư duy là tiền đề; chuyển đổi số là khâu đột phá; truyền thông chính sách và cơ chế phản hồi là điều kiện bảo đảm hiệu quả; phát huy vai trò Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội là nền tảng để bám sát Nhân dân; xây dựng đội ngũ cán bộ là nhân tố then chốt quyết định chất lượng công tác dư luận xã hội trong thời đại số.
Trong thời đại số, công tác dư luận xã hội không chỉ là công cụ nắm bắt tâm trạng xã hội mà còn là phương thức quan trọng để củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.
Ở đâu cấp ủy, chính quyền biết lắng nghe nhân dân, đối thoại với nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề nhân dân quan tâm, ở đó niềm tin xã hội được củng cố. Ngược lại, nếu xa dân, thiếu thông tin, chậm phản hồi hoặc né tránh những vấn đề bức xúc thì rất dễ tạo khoảng trống để thông tin xấu độc len lỏi, tác động tiêu cực đến xã hội.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đổi mới công tác dư luận xã hội theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa và lấy nhân dân làm trung tâm không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà còn là yêu cầu chính trị cấp thiết nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

* Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có cho rằng mối quan hệ "ấm áp" hiện nay với Trung Quốc có thể duy trì trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông, cũng như cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại và an ninh không? Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có tin rằng Việt Nam có thể thúc đẩy tiến triển trong vấn đề tranh chấp Biển Đông mà vẫn duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc không?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ gắn bó lâu đời. Hiện nay, hai nước đang triển khai hợp tác thực chất trên nhiều lĩnh vực quan trọng.
Chủ trương của Việt Nam là tiếp tục phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bởi Trung Quốc hội tụ đầy đủ các yếu tố của một đối tác ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam: là nước láng giềng, là đối tác quan trọng và là quốc gia có nhiều lợi ích chung cũng như những điểm tương đồng với Việt Nam. Việc duy trì quan hệ hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác có trách nhiệm với Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho cả hai nước mà còn đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định của khu vực.
Về vấn đề Biển Đông, lập trường của Việt Nam rất rõ ràng và nhất quán. Chúng tôi kiên quyết bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Chúng tôi không cho rằng việc duy trì và phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc và xử lý các vấn đề trên Biển Đông là mâu thuẫn với nhau. Nếu duy trì được quan hệ tốt đẹp và đối thoại hiệu quả, mọi bất đồng đều có thể được giải quyết. Ngược lại, sự phát triển tích cực của quan hệ song phương cũng tạo nền tảng thuận lợi cho đối thoại. Vì vậy, việc duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền và giải quyết các vấn đề trên Biển Đông là những mục tiêu bổ trợ lẫn nhau, chứ không loại trừ nhau.
Đối với quan hệ Mỹ - Trung Quốc, cạnh tranh giữa các nước lớn là một thực tế khách quan. Việt Nam không tiếp cận quan hệ với các nước lớn từ lăng kính an ninh, cũng không lựa chọn đứng về bên nào. Chúng tôi duy trì quan hệ tốt với các nước lớn để cùng giải quyết những vấn đề quan trọng, thiết yếu; chủ trương của Việt Nam là không hợp tác với nước này để gây tổn hại hoặc tạo khó khăn cho nước khác.
Vì vậy, Việt Nam đã và đang duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Mỹ và Trung Quốc, mang lại lợi ích cho tất cả các bên, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực.
* Xin Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Việt Nam có khả thi hay Đảng và Chính phủ đang xem xét điều chỉnh giảm xuống do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Iran? Trong những năm tới, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là tham vọng hay là mục tiêu khó đạt được trong thực tế?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khát vọng phát triển của Việt Nam là khát vọng chung của toàn dân tộc. Chúng tôi đã xác định mục tiêu rõ ràng, đó là đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Mục tiêu này đã được đề ra từ nhiều năm trước và liên tục được khẳng định, trong đó có trong Báo cáo chính trị của đại hội Đảng. Thế hệ chúng tôi có trách nhiệm tiếp tục sự nghiệp phát triển đất nước và kiên định theo đuổi định hướng đó.
Để trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, kinh nghiệm quốc tế cũng như quy luật phát triển cho thấy Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hai con số, tức tối thiểu từ 10% trở lên. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu và cân nhắc rất kỹ lưỡng. Chúng tôi hoàn toàn nhận thức được rằng đây là một mục tiêu đầy tham vọng và rất thách thức. Tuy nhiên, vì quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, chúng tôi đã và đang triển khai nhiều giải pháp thực tiễn quan trọng.
Chúng tôi đã đánh giá lại năng lực quốc gia và xác định lại mô hình phát triển, tăng trưởng của đất nước. Mô hình này phải được xây dựng trên nền tảng tự lực, tự cường và tự chủ chiến lược. Chúng tôi đã rà soát toàn bộ các nguồn lực dành cho phát triển, và điều đó cho chúng tôi cơ sở vững chắc để lạc quan.
Điều mang lại cho chúng tôi niềm tin chính là quyết tâm rất cao của toàn bộ hệ thống chính trị: sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, sự đồng thuận rộng rãi của nhân dân, cũng như sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà sản xuất, khu vực kinh tế tư nhân, người lao động và nông dân. Chúng tôi có sự đồng thuận lớn của toàn xã hội đối với mục tiêu đầy tham vọng này.
Chúng tôi tin rằng không có con đường nào khác. Nếu không đạt được mục tiêu này, Việt Nam sẽ không thể hiện thực hóa những khát vọng phát triển lớn hơn mà đất nước đã đặt ra.
Đúng là khi mục tiêu này được đề ra, chúng tôi chưa phải đối mặt với một số khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, nhiều thách thức đã được dự liệu từ trước, bao gồm bất ổn chính trị thế giới, những khó khăn của kinh tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng, áp lực về năng lượng và biến động của thị trường quốc tế. Dù vậy, dựa trên quỹ đạo phát triển trong những năm gần đây, chúng tôi vẫn duy trì sự lạc quan.
Chúng tôi đã triển khai nhiều biện pháp mới và đang xây dựng một mô hình phát triển, tăng trưởng mới cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - một mô hình dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh của con người Việt Nam, tinh thần tự lực, tự cường, tư duy đổi mới sáng tạo, cùng với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ kinh nghiệm phát triển của các quốc gia thành công và chuyển hóa những bài học đó thành các chính sách cụ thể.
Đồng thời, chúng tôi cũng rà soát lại hệ thống thể chế, xác định các điểm nghẽn và đang tiến hành những cải cách cần thiết nhằm tháo gỡ các rào cản đối với tăng trưởng, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển dài hạn.
Trên thực tế, kết quả đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy mặc dù vẫn còn những khó khăn và cần có những điều chỉnh nhất định, các mục tiêu cốt lõi vẫn nằm trong tầm tay. Điều này càng củng cố niềm tin của chúng tôi.
Đối với câu hỏi liệu Việt Nam có điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng hay không, câu trả lời của chúng tôi là rất rõ ràng: chúng tôi sẽ không điều chỉnh mục tiêu này theo hướng giảm xuống. Chúng tôi kiên định không chỉ với mục tiêu tăng trưởng của năm 2026 mà còn với việc duy trì quỹ đạo tăng trưởng đó trong những năm tiếp theo, bởi chỉ có như vậy mới có thể đạt được các mốc phát triển mà đất nước đã đề ra.
Và tham vọng của chúng tôi còn vượt xa hơn thế. Tầm nhìn của Việt Nam không chỉ dừng lại ở năm 2045. Chúng tôi đang hoạch định cho cả dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước cũng như cho thế kỷ phát triển tiếp theo của Việt Nam, với những khát vọng còn lớn lao hơn nữa trong tương lai.
* Xin trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã dành thời gian quý báu sau một ngày làm việc với lịch trình hết sức bận rộn để trả lời cho hãng Reuters hôm nay.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Cảm ơn các phóng viên. Chúng tôi hy vọng phóng viên đưa tin khách quan, đúng thực tế, đúng hình ảnh và sự phát triển của đất nước Việt Nam. Chúng tôi không né tránh nhìn vào khó khăn, thách thức cũng như những hạn chế, tồn tại. Tuy nhiên, chúng tôi đề nghị phóng viên phản ánh chân thực thực tế, đúng theo nguyện vọng, đúng theo yêu cầu, đúng với sự phát triển của đất nước chúng tôi. Xin cảm ơn!
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại buổi làm việc, Đại sứ Vũ Trung Mỹ đã giới thiệu khái quát về tình hình Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới. Ông Vũ Trung Mỹ cũng chia sẻ về định hướng phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030 của Việt Nam nhằm biến du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn chất lượng cao, bền vững, đạt 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030.
Đại sứ cũng thông tin tới Bộ trưởng Bộ Du lịch Daniella Cabello về việc Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; việc Quốc hội Việt Nam bầu ra các vị trí lãnh đạo quan trọng nhất của đất nước là Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Quốc hội cho nhiệm kỳ tới.
Khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng mối quan hệ bạn bè truyền thống và đối tác toàn diện với Venezuela, Đại sứ Vũ Trung Mỹ mong muốn hai nước thúc đẩy hơn nữa hợp tác du lịch nhằm góp phần tăng cường giao lưu nhân dân, giúp người dân hai nước hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước, văn hóa, con người...
Nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của cơ quan đại diện Việt Nam tại Venezuela trong việc hỗ trợ, thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trên mọi lĩnh vực, trong đó có du lịch, Đại sứ Vũ Trung Mỹ khẳng định sẽ nỗ lực hết sức làm cầu nối và thúc đẩy quan hệ hợp tác du lịch giữa hai quốc gia trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của các bên.
Bộ trưởng Du lịch Daniella Cabello nhiệt liệt chúc mừng kỷ niệm 51 năm ngày thống nhất đất nước (30.4.1975 - 30.4.2026) và việc Việt Nam vừa tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV, Quốc hội Việt Nam bầu ra các vị trí lãnh đạo quan trọng nhất của đất nước.
Bà cũng bày tỏ vui mừng trước mối quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác toàn diện Việt Nam - Venezuela do cố Tổng thống Venezuela Hugo Chávez và các nhà lãnh đạo Việt Nam dày công gây dựng thời gian qua tiếp tục phát triển tốt đẹp; khâm phục những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Bộ trưởng Daniella Cabello nhấn mạnh hiện Chính phủ Venezuela coi du lịch là một trong những trụ cột phát triển chiến lược để phục vụ mục tiêu đa dạng hóa nền kinh tế. Nhờ có chính sách đúng đắn của Chính phủ Venezuela, nhất là tăng cường đầu tư cho du lịch, giúp quy mô dịch vụ mở rộng, lượng khách tăng trưởng ấn tượng trong thời gian gần đây và tiếp tục tạo bứt phá trong thời gian tới.
Bà đánh giá cao kinh nghiệm phát triển du lịch của Việt Nam, đã trải qua hành trình ấn tượng từ một điểm đến mới nổi thành một ngôi sao sáng trên bản đồ du lịch toàn cầu. Đặc biệt, rất hoan nghênh nhiều doanh nghiệp lữ hành Việt Nam tham dự các sự kiện do Chính phủ Venezuela tổ chức.
Trong đó có Hội chợ Du lịch quốc tế Venezuela thường niên (FITVEN), Diễn đàn Quốc tế về du lịch sinh thái… để tìm hiểu thị trường, tiếp xúc đối tác và mở rộng thị trường, góp phần thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Venezuela.
Đề cập về hợp tác song phương trong thời gian tới, Bộ trưởng Daniella Cabello khẳng định sẽ tham dự Hội chợ Du lịch quốc tế TP.HCM lần thứ 20 (ITE HCMC 2026) diễn ra từ ngày 27 đến 29.8.2026.
Bà coi đây là cơ hội để tạo không gian kết nối và mở rộng quan hệ hợp tác với quốc tế, giới thiệu với bạn bè thế giới những tiềm năng, thế mạnh, cảnh quan thiên nhiên phong phú và hình ảnh một đất nước yêu chuộng hòa bình, hiếu khách.
Bộ trưởng Daniella Cabello nhấn mạnh sự tin cậy chính trị, tình cảm gắn bó, đoàn kết giữa hai quốc gia, hai dân tộc chính là nền tảng quan trọng cho các hoạt động giao lưu, hợp tác về du lịch bất chấp những khó khăn của khoảng cách địa lý.
Bà Daniella kiến nghị hai bên phát huy tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch, tiếp tục thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn nữa, hướng tới tăng cường trao đổi khách, hợp tác xúc tiến, quảng bá; cam kết sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ tối đa để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác, trao đổi đoàn, kết nối tour - tuyến và chia sẻ kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên

