Chỉ trong vài năm kể từ khi các công cụ AI tạo sinh bùng nổ, câu hỏi “AI có lấy mất việc làm của con người?” đã trở thành một trong những chủ đề gây tranh cãi nhất hiện nay. Từ doanh nghiệp, người lao động cho đến các nhà hoạch định chính sách đều cố gắng tìm lời giải, nhưng những dự báo đưa ra lại rất khác nhau.
Có người tin AI sẽ tạo ra cuộc cách mạng năng suất lớn nhất trong nhiều thập kỷ, mở ra những ngành nghề mới giống như Internet hay máy tính từng làm được. Ngược lại, không ít chuyên gia cảnh báo thị trường lao động đang đứng trước một bước ngoặt chưa từng có, nơi nhiều công việc trí óc lần đầu tiên có nguy cơ bị tự động hóa trên diện rộng.
Vòng xoáy hoảng loạn từ những “lời tiên tri tự ứng nghiệm”
Theo nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Robert Shiller, nỗi sợ hãi về một ngày tận thế việc làm có nguy cơ trở thành một “lời tiên tri tự ứng nghiệm”. Khi hàng triệu người cùng lo lắng, họ sẽ thay đổi hành vi chi tiêu, doanh nghiệp e dè trong tuyển dụng, và hệ quả là nền kinh tế rơi vào suy thoái đúng như kịch bản họ từng lo ngại.
Dẫn chứng từ lịch sử cho thấy nỗi lo máy móc thay thế con người vốn không mới. Từ năm 1830 hay sự hoảng loạn trong các đợt suy thoái cũ, các chuyên gia nhận định rằng thị trường luôn biến động theo chu kỳ và việc đổ lỗi hoàn toàn cho công nghệ thường chỉ là cách hiểu phiến diện.
Sự quy chụp sai lầm tương tự hiện cũng đang diễn ra. 70% người Mỹ được hỏi đã bày tỏ lo ngại AI sẽ khiến việc làm ít đi. Thế nhưng, số liệu thực tế từ Phòng thí nghiệm Ngân sách Yale lại chứng minh điều ngược lại. Không có bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào trong cơ cấu ngành nghề đối với các công việc dễ tiếp xúc với AI nhất kể từ khi ChatGPT ra mắt vào cuối năm 2022.
Đáng chú ý, nguồn cơn của sự hoảng loạn lần này lại đến từ chính các lãnh đạo công nghệ tại thung lũng Silicon nhằm thu hút sự chú ý của truyền thông. Lãnh đạo Anthropic từng tuyên bố AI có thể xóa sổ một nửa số công việc văn phòng cơ bản trong 5 năm, hay Giám đốc AI của Microsoft từng đặt mốc tự động hóa hầu hết việc văn phòng trong 12-18 tháng.
Dù sau đó cả hai đều phải rút lại các mốc thời gian này, nhưng những tuyên bố đó đã kịp để lại sự hoang mang lớn cho thị trường lao động.
Nhóm ngành nào thực sự đối mặt với áp lực dịch chuyển?
Dù ngày tận thế việc làm không đến gần như lời đồn đoán, áp lực thay đổi là có thật, đặc biệt đối với nhóm lao động văn phòng gắn liền với chiếc máy tính xách tay.
Theo chuyên gia Anton Korinek từ Đại học Virginia, các lĩnh vực như luật, tài chính, kế toán và tư vấn sẽ chịu áp lực tự động hóa rất lớn để tối ưu chi phí, dù các công việc này không biến mất trong một sớm một chiều.
Đồng quan điểm, giáo sư David Autor từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) chỉ ra rằng rủi ro lớn nhất thuộc về nhóm lao động làm dịch vụ thâm dụng thông tin nhưng không có trình độ chuyên môn quá cao. Nhân viên tổng đài, biên dịch viên, quản lý cấp trung, họa sĩ minh họa hay người viết lời quảng cáo đang phải cạnh tranh trực tiếp khi tài sản trí tuệ của họ bị các mô hình AI tái sử dụng một cách hiệu quả.
Đặc biệt, giai đoạn chuyển giao này sẽ tác động khác nhau theo độ tuổi. Bà Martha Gimbel, giám đốc Phòng thí nghiệm Ngân sách thuộc Đại học Yale, nhận định nhóm lao động trẻ có lợi thế lớn nhờ khả năng thích ứng nhanh với các công cụ AI và ít tài sản nghề nghiệp để mất.
Ngược lại, đối với các lao động lớn tuổi, một khi bị thay thế, tình hình kinh tế của chính họ có thể rất khó phục hồi.
Lối mở cho thị trường và những giá trị không thể thay thế
Trái ngược với những dự báo bi quan về một “đại nạn phần mềm”, lịch sử chưa từng ghi nhận một cuộc cách mạng công nghệ nào mà kết cục lại có ít việc làm hơn lúc ban đầu. Máy tính ra đời không xóa sổ việc làm mà đã tạo ra hàng trăm nghìn nhà khoa học dữ liệu.
Do đó, thay vì lo sợ cạn kiệt việc làm, xu hướng mới là ứng dụng AI để giải quyết các nhu cầu khổng lồ chưa được đáp ứng trong y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội hóc búa.
Thực tế, có những rào cản lớn kìm hãm sự trỗi dậy của AI, bắt nguồn từ chính nhu cầu kết nối giữa con người với con người. Nhiều ngành nghề như luật hay học thuật có các hiệp hội phản kháng rất mạnh mẽ trước sự thay đổi.
Quan trọng hơn, độc giả và người tiêu dùng luôn sẵn sàng chi trả cao hơn cho những giá trị mang tính cảm xúc, thủ công hoặc trải nghiệm trực tiếp – nơi máy móc dù hoàn hảo đến đâu cũng không thể thay thế được sự đồng cảm và tư duy đạo đức của con người.
Nền kinh tế luôn có khả năng phục hồi đáng kinh ngạc. Thay vì sa đà vào hội chứng hoảng loạn, việc nhận diện đúng áp lực và trang bị năng lực tích hợp công nghệ mới chính là chìa khóa giúp người lao động làm chủ tương lai, biến AI từ thế đối đầu thành công cụ hỗ trợ đắc lực.
Tại cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước ngày 29/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu ngành ngân hàng có cơ chế quản lý thị trường vàng hiệu quả với lộ trình phù hợp thực tế.
Theo Thủ tướng, người dân được quyền nắm giữ vàng như một mặt hàng, tài sản. Tuy nhiên, Nhà nước không khuyến khích việc này vì không tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
"Phải hạn chế tối đa tâm lý găm giữ và đầu cơ vàng", Thủ tướng nói, thêm rằng khi nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, pháp lý minh bạch, dễ dự báo, người dân và doanh nghiệp sẽ giảm tích trữ vàng, chuyển sang sản xuất, kinh doanh hoặc gửi tiền vào ngân hàng. Từ đó, nhà điều hành có thể huy động nguồn lực cho tăng trưởng.
Hồi cuối tháng 1, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước cần sớm hoàn thiện hồ sơ, xem xét đề xuất thành lập sàn hoặc sở giao dịch vàng quốc gia.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ nay đến 2030 được Quốc hội giao 10% trở lên mỗi năm, để Việt Nam vào nhóm 30 nền kinh tế có GDP hàng đầu thế giới. Dự kiến, tổng vốn cần huy động cho nền kinh tế gấp khoảng 1,7-2 lần nhiệm kỳ trước, trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20-22%.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhìn nhận tình hình thế giới và khu vực thời gian tới diễn biến phức tạp, tác động nhanh, trực tiếp tới điều hành kinh tế vĩ mô. Do đó, việc điều hành chính sách tiền tệ (tỷ giá, lãi suất, tín dụng) trên nền tảng giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
"Ổn định kinh tế vĩ mô là móng nhà, phải gia cố vững chắc trước khi xây thêm tầng, cải tạo hay xây mới", ông nói.
Về các nhiệm vụ thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước cùng các bộ, cơ quan xây dựng kịch bản điều hành cho cả năm, từng quý. Lãnh đạo Chính phủ lưu ý ngành ngân hàng điều hành tăng trưởng tín dụng linh hoạt, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ưu tiên, các động lực tăng trưởng.
Ngân hàng Nhà nước được giao sớm nghiên cứu sửa quy định về cấp tín dụng vượt giới hạn cho các dự án chiến lược, trọng điểm quốc gia, gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng và đánh giá hiệu quả dự án. Họ cần tính toán kỹ, kiểm soát và giám sát tín dụng với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, trong đó nghiên cứu phân loại bất động sản để quy định các hạn mức phù hợp, khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, khu công nghiệp...
Cơ quan này cùng Bộ Tài chính sửa quy định, có biện pháp phát triển thị trường vốn, Trung tâm tài chính quốc tế để giảm tải áp lực cho hệ thống ngân hàng. Chẳng hạn, Nghị định 153 về trái phiếu doanh nghiệp cần quy định rõ tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện để tất cả tổ chức tín dụng đủ tiêu chuẩn được quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.
Sáng 20/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế: thu nhập cá nhân (TNCN), giá trị gia tăng (VAT), thu nhập doanh nghiệp và tiêu thụ đặc biệt.
Theo đó, Chính phủ đề xuất không quy định "cứng" ngưỡng doanh thu miễn thuế thu nhập cá nhân, VAT của hộ kinh doanh như hiện hành. Hiện mức này là 500 triệu đồng, áp dụng từ đầu năm nay theo Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi). Ngoài ra, mức doanh thu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có thể do Chính phủ quy định, không cố định tại luật.
Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Tài chính Phan Văn Mãi cho biết đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban nhất trí có thể điều chỉnh ngưỡng doanh thu không phải chịu thuế của hộ kinh doanh. Tuy nhiên, ông Mãi đề nghị cần cân nhắc kỹ mức miễn thuế cụ thể.
Theo ông, nhiều ý kiến cho rằng mức 500 triệu đồng còn thấp, trong đó Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa đề xuất tới 3 tỷ đồng. Vì vậy, Ủy ban Kinh tế Tài chính đề nghị nghiên cứu ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh tối thiểu khoảng 2 tỷ đồng để đảm bảo tính nhân văn và phù hợp với thực tiễn.
"Chính sách thuế cần được thiết kế theo hướng hỗ trợ thực chất, tránh điều chỉnh nhỏ lẻ, manh mún, chưa phản ánh đầy đủ tinh thần hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân", ông Mãi nói. Bởi theo ông, hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ đóng góp ngân sách mà còn giữ vai trò rất lớn trong tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì sức sống của nền kinh tế.
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2022-2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, đóng góp khoảng 2% tổng thu ngân sách. Riêng năm ngoái, số thu thuế từ khu vực này đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ.
Giải thích thêm sau đó, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn nói việc giao Chính phủ quy định ngưỡng doanh thu chịu thuế là giải pháp cần thiết để bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành.
Ông cho hay từ đầu năm đến nay, tình hình thế giới khiến kinh tế trong nước có nhiều biến động. Giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí đầu vào đi lên, làm giảm sức mua, khiến hộ kinh doanh gặp nhiều khó khăn.
Theo ông Tuấn, ban đầu, cơ quan soạn thảo dự kiến giữ quy định cụ thể trong luật. "Nhưng trước diễn biến khó lường của tình hình quốc tế, nhất là biến động giá năng lượng và rủi ro đứt gãy nguồn cung, việc giao Chính phủ quyết định trong từng thời điểm sẽ giúp phản ứng chính sách nhanh, sát thực tiễn hơn", Bộ trưởng Tài chính lý giải.
Ông khẳng định trong bối cảnh hiện nay, nếu không có cơ chế đủ linh hoạt để điều chỉnh các ngưỡng thuế, phí, thì "rất khó bảo đảm mục tiêu vừa tăng trưởng hai con số, vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô".
Kết thúc phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và cơ quan thẩm tra để hoàn thiện hồ sơ dự án luật, trình Quốc hội.
Dự thảo Luật này sẽ được báo cáo để Quốc hội bổ sung vào chương trình kỳ họp thứ nhất, khóa XVI đang diễn ra.
Ngày 9-5, Ban quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai cho biết đã kiến nghị Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, sớm bố trí vốn cho dự án đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku để đảm bảo tiến độ dự án.
Được biết, đơn vị này được giao nhiệm vụ chủ đầu tư dự án thành phần 1 và dự án thành phần 2 của tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku.
Trong khi đó, dự án thành phần 3 được giao cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Gia Lai làm chủ đầu tư.
Theo Ban quản lý dự án các công trình giao thông và dân dụng tỉnh Gia Lai, hiện nay các nhà thầu đang khẩn trương tập trung máy móc, thiết bị, nhân lực, bố trí nhiều mũi thi công nền đường, công trình thoát nước để đẩy nhanh tiến độ thi công.
Nhưng thời gian qua, giá xăng dầu và vật liệu tăng cao bất thường do ảnh hưởng xung đột tại Trung Đông gây khó khăn nhất định cho dự án. Trong khi đó, Trung ương chưa bố trí kế hoạch vốn năm 2026 cho dự án, còn vốn đối ứng ngân sách địa phương đã giải ngân hết, dẫn tới công tác tạm ứng, thanh toán cho nhà thầu chưa kịp thời, nhà thầu khó xoay vòng nguồn vốn trong quá trình triển khai.
Cụ thể, tại dự án thành phần 1, toàn bộ 724,8 tỉ đồng giải ngân mục đích thi công xây dựng và 420 tỉ đồng vốn tạm ứng từ ngân sách tỉnh phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được giải ngân toàn bộ.
Đối với dự án thành phần 3, địa phương đã giải ngân toàn bộ 511 tỉ đồng vốn được bố trí đến hết năm 2026. Riêng khoản vốn tạm ứng 600 tỉ đồng phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng hiện đã giải ngân hơn 95%.
Do đó, để đủ điều kiện tổ chức lựa chọn nhà thầu của dự án thành phần 2 trong quý 2-2026 và đảm bảo nguồn lực triển khai dự án thành phần 1 lẫn dự án thành phần 3 theo đúng kế hoạch, chủ đầu tư kiến nghị Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét sớm bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương năm 2026 cho dự án.
Được biết, dự án đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku có tổng vốn đầu tư 43.734 tỉ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương chiếm tỉ lệ đa số nguồn vốn đầu tư xây dựng, ngân sách của tỉnh Gia Lai dành cho hạng mục đền bù, giải phóng mặt bằng.
Các dự án thành phần 1 và thành phần 3 đã khởi công từ cuối năm 2025, riêng dự án thành phần 2 dự kiến sẽ khởi công trong tháng 5-2026.